Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




LUÂNG PRA BĂNG

CỐ ĐÔ BÊN DÒNG MÊ KÔNG




Từ Viêng Chăn, chiếc tầu bay hãng Hàng không Lào Airliner nhằm hướng tây bắc, lao vào không trung xanh biếc. Thật vui khi được biết đây là chiếc tầu bay phản lực của hãng Hàng không Lào Airliner mới đưa vào sử dụng sang chuyến thứ hai. Chúng tôi ai cũng thốt lên: Tầu bay còn mới tinh, thơm nức mùi sơn mới!

Bầu trời trong suốt hơn. Mây trắng bồng bềnh từng đụn. Núi rừng trải trùng trùng điệp điệp, vun vút dưới cánh tầu bay. Các nhánh sông Mê Kông thỉnh thoảng hiện ra như dải lụa hồng luồn dưới mây. Lắm lúc, mây như khói tuôn ra từ bếp trời phả ngay cạnh cửa sổ tầu bay khiến tôi lại nhớ tới làn khói đốt đồng tuôn lên từ những chân ruộng sau mùa gặt ở quê tôi. Có lúc ngỡ tầu bay lướt trên cánh đồng bông trắng nõn.
Sau 50 phút, tầu bay đã hạ cánh xuống sân bay Luâng Pra băng. Hướng dẫn viên du lịch đoạn này là anh chàng Đết, trông lành hiền, phúc hậu, tuy nói tiếng Việt chưa sõi lắm. Đường phố thanh sạch, hẹp hơn ở Viêng Chăn nhiều những con dốc dài. Xe hơi, xe túc túc-một loại xe chở khách với ghế ngồi đẹp và lịch sự, giống xe lam ở TP Hồ Chí Minh, hoặc xe điện ở Đà Lạt đi lại trong nhịp điệu thanh thản và chậm rãi. Những dãy phố cổ nhuốm màu nâu mốc như vã trong bức tranh sơn dầu đã cũ bởi thời gian. Rất nhiều những ngôi nhà kiến trúc bằng gỗ vẫn còn, chứng tỏ Cố đô Luâng Pra băng vẫn giữ được vẻ cổ kính của một kinh đô xa xưa trên đất nước Triệu Voi. Chắp tay trước ngực cúi chào, Đết chậm rãi kể với chúng tôi:
Sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm, vua Phả Ngừm lên ngôi, lập nên nước Lane-xạng đóng đô ở Luâng Pra băng, khởi đầu cho sự phát triển rực rỡ của đất nước Triệu Voi. Thời đại này đã để lại cho đời sau những công trình văn hoá đặc sắc. Năm 1995, UNESCO đã công nhận cố đô Luâng Pra băng là “Di sản văn hoá thế giới”. Với một vùng đất mát mẻ quanh năm, Luâng Pra băng đã và đang trở thành một điểm du lịch hấp dẫn. Đến Luâng Pra băng, các cô các bác sẽ được thưởng thức vị ngọt ngào của những bữa cơm, sự yên tĩnh của một thành phố không có tiếng còi xe.
Vâng! Đúng vậy! Trong chuyến đi này tôi lại thấy thêm một thành phố nữa ở Lào không có tiếng còi xe. Nhà hàng cửa hiệu bày bán hàng hóa trong nhà chứ không bày dênh dang lấn chiếm ra vỉa hè và giương biển quảng cáo tùm lum. Có thể ví Luâng Pra băng như một Hội An cổ kính- một thành phố hình như chỉ để dành cho nghỉ ngơi thư giãn….
14g 30 về đến Khách sạn Ra Ma. Một chiếc xe túc túc mới tinh, vừa trọn 16 chỗ ngồi cho 16 người trong đoàn, đến đón đưa chúng tôi đi ăn tại một nhà hàng cách đó khá xa. Vẫn các món ăn đặc sản Lào: rau xanh và thịt, cá nướng… rất thú vị. Người Lào vẫn bình tĩnh, chậm rãi phục vụ các bàn ăn như ở Viêng Chăn.
Trong ánh nắng chiều nhuốm xanh như mời gọi, chúng tôi đi thăm chùa Phu Si trên núi cao bên sông Nam Khàn, một nhánh của sông Mê Kông ôm lấy một phần cố đô Luâng Pra băng. Phải leo tới mấy trăm bậc gạch, thở bở hơi tai mà vẫn vui bởi tò mò muốn khám phá. Thỉnh thoảng bên trên các bậc dốc lại bày dựng một vài pho tượng, nhóm tượng dát vàng sáng chói trong ánh nắng chiều đang ngả hoàng hôn. Lên lưng chừng núi có mt ngôi chùa nép bên một tảng đá lớn hình thù như một bàn chân khổng lồ năm ngón chĩa lên trời. Thực ra đó chỉ là một tảng đá nứt vỡ tự nhiên, nhưng người ta đã khéo léo tận dụng nó, bỗng dưng thành một tảng đá hình thù kỳ lạ, hấp dẫn du khách. Trên khoảng sân một ngôi chùa nhỏ khác, đã thấy nhiều khách ta và tây ngồi lên đỉnh một tảng đá giồng đầu một na ga-thần rắn ghếch chênh vênh muốn lao lên góc trời đầy gió. Họ thích thú ngắm nhìn và chụp ảnh cảnh hoàng hôn đang loang tím thành cổ.
Sang bên kia núi, cuối lối xuống, chúng tôi tản vào khu chợ Đêm cạnh Hoàng Cung. Rất nhiều hàng hóa, đủ loại vải vóc, thực phẩm, mỹ nghệ cùng các loại đồ cổ... La liệt những chú voi gỗ, tượng Phật, tượng vũ nữ Lào bày bán. Tôi theo đi dạo dọc các dãy hàng trong chợ. Các bà các chị các em gái bán hàng đứng ngồi khiêm tốn cạnh sạp hàng đon đả chào khách. Khách mua hàng tha hộ chọn lựa, mặc cả; thậm chí có người xổ tung cả những tấm vải, áo váy, trả giá rồi buông hàng… họ vẫn tươi cười, gấp xếp lại, vẫn từ tốn, không tỏ vẻ khó chịu, lườm nguýt hoặc nói lời cay độc. Khách mua hàng, sau khi nhận hàng được gói ghém cẩn thận và lúc rời chân khỏi sạp đều được nhận một lời “O kê” cùng đôi tay chắp lại cúi chào.
Xe túc túc lại đưa đoàn đi ăn bữa tối tại một nhà hàng bên đường phố gần khu chợ.
Lại nói về văn hóa ẩm thực của người Lào Luâng Pra băng. Dự các bữa cơm thường, các bữa tiệc chiêu đãi, chúng tôi đến thấy dân ở đây nói không có nạn ngộ độc thực phẩm. Các loại thực phẩm được bảo quản, chế biến sạch. Rau ngon tươi xanh thấm đẫm vị ngọt của phù sa sông Mẹ Mê Kông. Rau, được chế biến thành nhiều món, thơm ngon, gợi cảm. Rau cải bắp được cuốn chặt như một khoanh giò heo luộc rất thẩm mỹ. Có cơm tẻ, xôi nếp trắng, nếp cẩm ăn xen bữa. Xôi nếp ăn không nóng cổ như nếp của ta. Ẩm thực Lào mang phong cách tương tự các quốc gia láng giềng Campuchia, Thái Lan và Nam Bộ của ta: cay, chuangọt. Tuy nhiên, vẫn mang những phong cách đặc trưng rất riêng Lào. Nghệ thuật ẩm thực được khai thác, thể hiện tài nấu bếp cao, tinh tế… khiến du khách thưởng thức rất yên tâm. Biết là đoàn Việt Nam, nhà hàng giảm nồng độ thức ăn cay. Nhưng tôi vẫn bị vị cay làm nhoè mắt.
Trong bữa ăn, trên sàn sân khấu nhỏ không trang trí cầu kỳ, các cô gái trẻ xinh đẹp như vũ nữ trong các tác phẩm phù điêu ta thấy ở các ngôi chùa múa hát rất hay và tình tứ. Họ múa hát các làn điệu dân ca Lào cùng dàn nhạc dân tộc. Âm thanh loa máy nhẹ nhàng, tha thiết, không réo sôi ầm ĩ. Nghe hát mà ngỡ tiếng gió ru từ rừng sâu, vách núi hoặc trên tiên giới mây ngàn thầm thĩ. Lòng ta lắng dịu, thật thư thái, thanh sạch. Nhiều khách du lịch Tây ba lô cùng dự cũng lặng người nhìn hút theo những ngón tay uốn lượn, thân hình mềm mại của các thiều nữ Lào trong điệu lăm vông. Các tiết mục đưa người xem vào một không gian xa ngái của thành cổ Luâng Pra băng ẩn hiện bóng những chàng hoàng tử, các nàng công chúa chập chờn trên yên ngựa, trên các lối cỏ hoa.
Về khuya, đường phố càng trầm mịch, lặng sâu trong ánh đèn và gió núi thổi nhẹ dọc triền sông. Trước cửa các nhà hàng, nhà dân và các hè phố chỉ thấy treo các cây đèn ống dài vẽ hoa văn đặc trưng của Lào, không thấy treo đèn lồng Trung Quốc.
***
Tờ mờ sáng, tôi, Ngọc Huấn và nhà thơ Mai Phương cùng nhau ra đường cuốc bộ đi chụp ảnh các nhà sư khất thực trên đường phố. Không khí buổi sáng se lạnh như ở Đà Lạt. Dân phố cho biết cứ mỗi sáng, có ngót nghìn nhà sư trẻ già, nam nữ đi khất thực dọc các con phố như một bài học về đức tin và lòng tự trọng. Tôi lặng lẽ đứng quan sát cuộc sống trên đường phố. Nhà dân hai bên đường chuẩn bị sẵn các giỏ xôi đem ra ngồi xếp bằng trên chiếu, chờ các nhà sư. Các nhà sư từng đoàn đi nhẹ như những chiếc bóng theo nhau cúi xuống nhận những nắm xôi nhỏ và chắp tay cảm tạ. Mọi người nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm và trân trọng. Xe cộ đang đi nếu gặp các đoàn khất thực họ dừng lại cho đoàn đi qua, không nôn nóng, vượt ẩu. Vâng! Vẫn không một tiếng còi xe, không một lời cằn nhằn. Tục khất thực diễn ra từ rất lâu đời, bởi nhà nào thời nào cũng có người vào chùa thấm nhuần giáo lý Phật. Cư dân Lào, mỗi người đều qua 3 năm đọc kinh gõ mõ trong chùa trước khi vào đời để làm Người. Đó đã trở thành một nếp văn hóa ứng xử đồng lần với nhau trong cuộc sống. Và cuộc sống của họ rất tự nhiên như thế qua biết bao đời người. Có lẽ nhờ vậy mà con người xứ Triệu Voi này giàu tâm thiện và khoan hòa hơn chăng?
***
Xe túc túc lại đón đoàn đi tham quan vùng Pakou bên sông Mê Kông. Hướng dẫn viên Đết đưa chúng đến một bến nằm dưới những rặng xây xanh rợp. Những con thuyền máy đậu san sát dưới bến và đi lại trên sông. Cả đoàn xuống một con thuyền máy làm một chuyến du ngoạn trên sông. Thuyền đóng bằng gỗ, thon dài như kiểu chải bơi của làng Cốc quê tôi, ngang chỉ 2,5 mét, chiều dài tới 18-20 mét. Bàn ghế cũng đều bằng gỗ, rất đẹp. Không hề tròng trành, thuyền như con cá kìm xé nước, ngược dòng lên phía đông bắc.
Buổi sáng, bầu trời vẫn còn mây che phủ. Mặt sông nhuốm màu xanh lục pha hồng. Sông Mê Kông rất nhiều khúc đoạn, nhiều vùng xoáy chảy xiết và phẳng lặng. Khúc ngổn ngang những cồn đá lô nhô như người đang lóp ngóp bơi tới. Đoạn lơ phơ bãi cát dài như những chiếc lá trôi dập dềnh. Hai bờ sông xa tắp nhau, xanh ngút ngàn rừng, bãi ngô, bãi rau thoải xuống mép nước. Bờ bên này những tảng đá lớn nhỏ như từ đâu đó đổ xuống xô bồ, chênh vênh, nhưng vững chắc. Bờ bãi bên kia chỗ vòm cây chấm nước, chỗ đọng ngấn phù sa để lại thành những cung bậc như lụa gấp. Thỉnh thoảng lại gặp những oằn sông chảy ào ào như cơn mưa rào đang tới.
Đến bản Sang Hai, thuyền ngoặt qua sông sang bờ tả ngạn. Chúng tôi lên thăm hang Thẳm Tìng- nơi hàng năm, người dân Lào đến đây để cầu may và mỗi người để lại một bức tượng Phật. Trong hang, cơ man những tượng Phật, tầng thấp tầng cao mông lung trong ánh sáng trên trời rọi xuống, dưới sông hắt lên. Đết bảo: Hang động này có những bức tượng Phật do chính các vua Lào dâng cúng. Đối diện hang Thẳm Tìngmột khoảng núi đá soi xuống sóng nước như một mảng biển đảo vịnh Hạ Long. Khoảng này nước chảy xiết hơn qua những ghềnh đá rải rác trên sông. Ánh nắng chói chang chợt bừng lên. Bầu trời chuyển xanh thắm và như một tấm ảnh vừa in xong. Mặt sông lấp lánh một dòng bạc từ cao xa rót xuống. Sông Mê Kông luôn uyển chuyển sắc màu.
Chuyến du ngoạn sông Mê Kông suốt 30 km ở Luâng Pra băng, chúng tôi thấy trên sông không một cây cầu. Người dân chỉ đi lại bằng thuyền độc mộc hoặc thuyền máy. Họ không làm cầu để gìn giữ môi trường sông nước thanh sạch vẻ đẹp của thiên nhiên và nguồn sống. Người Lào khát vọng một sự bền vững, không phai lạt, lở lói cội nguồn.
Vượt qua chặng đường cách điểm cuối cuộc hành trình sông nước vừa rồi khoảng 25 km, chúng tôi lên Thác nước Quảng Sý trên khu rừng xanh ngợp nắng gió đại ngàn. Chao ôi! Thác Quảng Sý chảy đẹp, tung bờm nước trắng xóa không khác gì thác P’ren ở Đà Lạt. Tôi tưởng đấy là tấm lụa trắng trên trời vắt qua vai núi thả xuống. Rất nhiều du khách các nước đến đây, trong đó có nhiều phụ nữ châu Âu. Họ ra tắm dưới chân thác. Thích cảm giác mạnh, họ nhảy đu dây trên cành cây như những chú nhện thả mình xuống thác đầy vẻ hứng thú. Ánh nắng ghé chiều trên khe núi chiếu thẳng xuống khoảng “bãi tắm” sáng lóa như ánh đèn lade trên sân khấu rọi trực tiếp vào nhóm người tắm như đặc tả cảnh bầy tiên nữ đang khỏa nước nô dỡn. Qua những hàng cây cổ thụ, ta có cảm giác đứng trước cảnh trích đoạn một vở diễn dưới thủy cung.
***
Ngày 20-11-2011, ngày cuối cùng ở Luâng Pra băng và sẽ khép lại chuyến đi 1 tuần của đoàn Văn nghệ sĩ Quảng Ninh trên đất nước Triệu Voi. Chúng tôi tranh thủ vào tham quan chùa Vàng và Hoàng Cung (cung điện Hoàng gia). Đây là cung điện của vua Phả-Ngừm vừa cổ kính vừa hiện đại trong sắc vàng óng ánh của ngai vàng, của các pho tượng, thanh kiếm, chiếc ấn bằng vàng và ngọc, của những cột trụ, những ô khung, cánh cửa sổ dát vàng… Đây là nơi thiết triều, là chốn thâm cung của vua và các cận thần. Đây là phòng khách, phòng ngủ, phòng bếp, phòng ăn của vua và hoàng hậu … vô cùng sạch đẹp, không một hạt bụi. Không gian như còn chuyển động trên cỗ xa giá dát vàng, trong những chiếc xe hơi sang trọng. Thời gian trong vắt trên những báu vật, như vừa mới đây thôi. Và đây là Nhà Ngự của vua bên sông Mê Kông khi xem hội đua thuyền. Trước lúc khai hội, đội Kỹ nữ múa hát, nhảy Lăm vông trong khúc nhạc hoàng cung giữa cờ hoa, lọng vàng kiệu tía rước nhà vua từ sân rồng ra Nhà Ngự ngồi xem dân chúng đua thuyền.
Mỗi kỷ vật, báu vật trong Hoàng Cung đều mang một câu chuyện oai phong, thần kỳ của ông vua. Hướng dẫn viên Đết kể rằng: Năm 1995, Hoàng Cung và Cố đô Luâng Pra băng được UNESCO công nhận di sản Thế giới. Trước sự kiện trọng đại này, chưa kịp làm lễ xin phép Đức Vua như mọi khi hành lễ, dân chúng thành Luâng Pra băng quá vui mừng đã chạy ùa vào Hoàng Cung khiêng các cỗ trống đồng ra đánh, nhảy múa tưng bừng. Bỗng dưng bầu trời trên cố đô vần vũ những đám mây xám và một cơn giông lớn ập xuống. Thị trưởng Thành phố hoảng sợ, lập tức ra lệnh ngừng cuộc vui, vào làm lễ cầu nguyện, cơn giông mới tan. Ánh nắng lại trong trẻo tràn ngập không gian lễ hội. Gió lại nhẹ thổi trên nóc mái nhà cong. Chim chóc lại hót ca, ngân nga trong các khu vườn và những cánh rừng bên sông Mê Kông. Và từ đó, cuộc trọng lễ nào cũng phải dâng lễ xin phép vua một cách đầy đủ mới đem trống đồng ra đánh.
Dân chúng Lào rất sùng kính các ông vua, các nhà lãnh đạo như quý trọng một tài sản quốc gia. Những người lãnh đạo, các công chức nhà nước làm việc thực sự hết mình, thực sự vì dân, đúng giờ giấc quy định. Dân được hưởng nhiều công trình phúc lợi như công viên, sân vận động, chùa chiền, bệnh viện... Trẻ con đi học như đi chơi, không bị áp lực của sách vở, của sự học chạy đua. Một năm các em được nghỉ 3 kỳ. Giáo dục của người Lào rất tự nguyện bằng con đường của đạo Phật. Trước khi vào trường đời, mỗi đứa trẻ đều qua trường tu trong chùa chiền. Người Lào tốt bụng, hiền hậu và thực thà. Hầu như không có trộm cắp, móc túi và người ăn mày ở các nơi công cộng.
***
Còn biết bao thứ, bao huyền tích, bao câu chuyện, sự kiện muốn khám phá, tìm hiểu về đất nước, dân tộc Lào. Mà thời gian thì ngắn quá! Đời người, lại vẫn như một giấc mơ! Tôi là người vừa tỉnh một giấc mơ trên nhân gian thành Luâng Pra băng xứ Chăm Pa!
Chiều muộn. Chiếc tầu bay VN Arilines-VN930 cất cánh đưa đoàn Văn nghệ sĩ Quảng Ninh về Việt Nam trong hoàng hôn đang loang màu tím xẫm. Cánh quạt dưới cánh tầu bay xoay tít tạo nên những vòng cầu nhỏ đủ sắc màu. Những cánh đồng mây trắng nhòa dần vào vực đêm. Giã biệt Chăm pa. Giã biệt Mê Kông. Giã biệt xứ sở Triệu Voi. Giã biệt bầu trời ngút ngát chín tầng mây gió!
Hà Nội mọc lên từng chùm, từng dãy những ánh sao.
Và… những làn gió từ vịnh biển Hạ Long, từ những cánh đồng bên sông Bạch Đằng đang ùa tới, thoảng hương vị mặn mòi và bùn ngái vào lồng ngực tôi. Một cảm giác bâng khuâng, nhung nhớ lan tỏa. Nỗi nhớ thật vô cớ mà khắc khoải, khó nói thành lời sau một chuyến đi! Nhớ đất nước Lào thanh bình trong sắc rừng xanh thẳm, trong vòng ôm của sông Mẹ Mê Kông. Nhớ mùi khói bếp nồng ngái mỗi sớm ngày sang, mỗi buổi chiều về luồn trong vòm cây chăm pa. Nhớ những ngôi chùa mái cong với bóng những nhà sư áo vàng lặng lẽ đi khất thực…
Và nhớ hơn cả là người dân Lào gương mặt đôn hậu, ấm áp. Nhớ cô gái Lào dịu dàng với nụ cười trong trẻo, mềm mại điệu múa Lăm vông đầy quyến rũ…

11-2011


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 30.8.2014.