Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Ai Xuôi Thiên Lý Cùng Tôi





Từ Hà Nội, đi xuôi về phía Nam trên con đường 1A cổ kính, xưa gọi là đường thiên lý, con đường của Quang Trung tiến quân ra Bắc, cũng là con đường sĩ tử Bắc Hà vào kinh dự thi Tam trường.

Xưa đi trên con đường đó là đi bộ, đi xe ngựa kéo, hoặc ngồi xe tay do người kéo. Nay trên con đường đó, đủ loại xe cơ giới cùng đi
Ngày 28 Tết Giáp Ngọ tôi đi về phía Nam, con đường thiên lý đông đặc người và xe cơ giới. Đủ lọa xe và người các tỉnh đều có mặt tại đây, ta có thể biết họ thuộc tỉnh nào khi nhìn các biển số xa. Đó là xe máy mang biển số xe 18( Nam Định), 34( Hưng yên), 35( Ninh Bình), 36( Thanh Hóa), 37( Nghệ An)… hối hả đưa chủ nhân xuôi thiên lý về quê. Hiếm có xe nào đi đơn, mà các xe đều đi kép: đôi bạn, đôi nhân tình, cùng nhau về thăm quê nên hành trang đầy đủ lắm. Xe nào cũng chở theo các ba lô, túi khóa căng phồng. Thi thoảng gặp xe chở đôi vợ chồng trẻ cùng đứa con ủ ấm trong chăn được cô vợ ôm chặt trong tay. Hạnh phúc của cả gia đình trông vào tay lái và sự tinh tế của anh chồng. Tất cả đang hăm hở về quê ăn Tết với biết bao tâm sự của kẻ xa nhà.
Cùng đi về phía Nam với họ, tôi lại mang một tâm trạng khác. Từ khi tình cờ trông thấy chiếc cổng làng cố nép bên đường cao tốc, tôi mang trong lòng một mối tương tư. Đã không biết thì thôi, còn đã biết mặt thì tìm mọi cách đến với nhau, hiểu được nỗi niềm riêng của nhau, cho nên hôm nay dù đã 28 Tết rồi, tôi vẫn cất công tìm kiếm cái bong thoáng qua.
Đây rồi. Đi qua cái chợ “đầu mối” Liên Phương nơi người ta duy ý dựng nên nhưng không có người vào buôn bán, dãy ki ốt trống huơ trống hoác cỏ dại mọc lên qua vết nứt trên tường. Tôi đi tới đầu làng và gặp cổng làng Bạch Liên. Đúng là cánh cổng đã gập, giờ đã hiển hiện trước mắt, chắc nịch là rộng rãi đang để tôi chụp ảnh từng góc độ.
Khác với các cổng làng cổ xưa thường có lân chầu phượng múa trên nóc cổng và hàng hàng câu đối chữ hán để lại lời răn dạy của tiền nhân cho con cháu, cổng làng Bạch Liên chỉ có hai cụm từ Hán Việt: Bạch Liên Thôn( phía trên) và làng Bạch Liên( phía dưới). Phải chăng đó là chiếc cổng được xây quãng thời gian đầu thế kỷ XX khi Hán tự không được sử dụng nữa?
Làng Bạch Liên có con đường làng tráng xi măng cát vàng, rộng và phẳng chạy suốt chiều dài. Không biết có phải vì giáp Tết hay các gia đình đang lo công việc sinh nhai mà đường vắng bong người đi lại. Qua mỗi nhà, chỉ thấy cây đào nở hoa rực rỡ trong vườn mà chẳng thấy bong ai. Tìm hỏi mãi cho đến lúc tôi may mắn được một ông chủ nhà niềm nở tiếp khách, chỉ cho biết tại giữa làng có Nhà Tổ thờ ông Tổ nghề làm bút lông mèo( bút viết chữ Nho ngày xưa). Thật là quá đỗi may mắn, tôi lập tức đi vào giữa làng, quả nhiên ở đó có một ngôi nhà thờ Tổ mang kiến trúc đời Nguyễn với ba cửa vòm và mái dật cấp, có dòng chữ Bạch Bút Từ đắp trước mai. Tìm đến nhà cụ thủ từ Lê Đăng Ngạn 79 tuổi vừa lúc hai vợ chồng già đang bày mâm trưa. Thấy có khách từ xa đến, bà vợ chủ động dừng bữa, để ông cụ dễ dàng tiếp khách. Thật là quý hóa, quê ta ở đâu cũng vậy, trọng khách đường xa lắm.
Dẫn tôi ra nhờ thờ Tổ, ông cụ vừa đi vừa kể chuyện: Làng tôi xưa có tên là Bạch Hoa, năm vua Thiệu Trị lên ngôi kiêng tên húy hoàng tộc nên đổi tên là Bạch Liên. Xưa dân làng có nghề làm bút lông mèo- loại bút nho để nho sinh học tập văn thư hàng ngày. Nhà thờ Tổ nghề của làng tôi xây nên đã lâu. Không ai nhớ năm xây dựng ông ạ. Trước kia, chúng tôi có đủ bằng sắc thần tích sự tích của Ngài để trong một cái ống quyển sơn son thếp vàng, đến những năm kháng chiến, lấy miếu của Ngài làm trụ sở, làng tôi phải chuyển hương án, bài vị ra để ngoài chùa… Đến năm hòa bình thắng lợi, khi rước Ngài về Miếu cũ thì hồ sơ thần tích đã bị mất hết. Chúng tôi là lớp hậu sinh không ai biết tên Ngài để mà làm lễ, chỉ nhớ ngày giỗ hàng năm là 25 tháng 11 thôi.
Miếu Tổ, là một ngôi nhà có kiến trúc kiểu nhà thờ họ đời Nguyễn thường gặp ở nông thôn, có mái nhà dật cấp thành hai mái. Ba cửa vòm để rộng Chính giữa nhà có khám thờ sơn son thếp vàng, trong khám thờ có tượng một lão nhân ngồi xếp bằng, Ngài đội mũ kim quan, mặt to, tai dài, ba chòm râu bạc phơ phất, tay phải vuốt râu, tay trái đặt trên gối trái, bàn chân trái đặt trên bàn chân phải trong tư thế ngồi thiền. Trên nóc khám thờ treo bức hoành đề là “Hàn Mặc Hương”.
Gian bên trái cũng bày một khám thờ nhờ. Ông cụ cho biết: trước đây thờ khám này ở gian giữa, bởi trong lòng khám có bức tranh thờ của Ngài. Sau đó làng tôi căn cứ bức tranh mà tạc nên pho tượng lớn để dân làng và khách thập phương chiêm ngưỡng, trên đỉnh khám cũng treo tấm hoành phi đề ba chữ “Huệ Vu Dân”.
Như vậy là sau phong ba bão táp, nay Ngài đã về chốn cũ, tuy nhà còn đó, nhưng đồ thờ tan tác khắp nơi. Một số câu đối được dân cung tiến treo trong Nhà thờ, đọc nội dung không nói về nghề nghiệp cũ, chỉ là ca ngợi:

Thảo cố đỉnh tân thủy nhiêu hoa hoàn thiên cổ tích
(?) hưng phong thịnh nhân khang vật phụ vạn niên xuân
Vân hạ đình tiền phong cảnh sơn hà đô xuất sắc
Tinh thần lâu hạc y quan lễ nhạc cộng hoan hân

Cụ Ngạn chỉ cho tôi biết bài thơ của người dân trong thôn ca ngợi nghề xưa:

Tương truyền đất Bạch quê tôi
Bút lông nổi tiếng một thời xa xưa
Nho gia, tiến sĩ, cung vua
Văn thơ, thư pháp đều mua bút về
Bạch Hoa một vùng chợ quê
Khắp nơi ca ngợi đất nghề bút lông
Bút lông sản xuất thủ công
Lụa cau, ống trúc, quấn lông phết hồ
Chải đi, chải lại hong khô
Lông mèo thu góp xếp bồ chất bao
Nhà nhà tấp nập khách vào
Kẻ buôn người bán xôn xao một vùng

Nhớ về nghiệp Tổ bút lông
Bạch Liên xây miếu ghi công tổ nghề
Trầm hương ngát tỏa vùng quê
Ghi sâu ơn đức Tổ nghề Bút Lông

Tạm biệt Bạch Liên với bao nỗi niềm tôi trở về Hà Nội hỏi các cụ cao tuổi, ai cũng cho biết năm xưa bút lông mèo có bán trên phố Hàng Điếu và phố Hàng Bút, rồi sau đó vắng dần
Tôi làng thang trên phố “Các ông đồ” ngắm nhìn quang cảnh “xin chữ và cho chữ” ở đây. Đó là hè phố Văn Miếu dựa lưng vào bờ tường Quốc Tử Giám, nơi đây các ông đồ góp tiền thuê người chế tác một kiểu lều di động để sáng trưng lên. Mỗi ông có một khoảng không gian, trong khoảng không đó, ông đồ trải chiếu hoa, bày văn phòng tứ bảo, dán treo các tờ giấy đỏ có viết sẵn mấy chữ đại tự Phúc, Lộc, Thọ để chiều khách.
Dù là một bên hè nhưng do khéo thu xếp, các ông dành chỗ cho khách tham quan và để xe máy, xe đạp. Người khách đến đây dắt xe lên hè, khóa xe cẩn thận rồi tha hồ tản bộ ngắm các ông đồ gò lưng trên chiếu tác nghiệp. Bây giờ các ông không đơn lẻ như năm xưa có mặt trong thơ của Vũ Đình Liên “Mỗi năm hoa đào nở- Lại thấy ông đồ già- Bày mực tàu giấy bản- Bên phố đông người qua”, đông khách lắm. Có người đến thuê viết, cũng có nhiều tay máy lăm le chộp lấy cái thần thái của người viết. Lại có đám khách du lịch người nước ngoài cũng lượn qua chỉ trỏ nói với nhau. Hình như họ chưa đọc bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên nên chưa thấy cái không khí văn hóa nơi đây.
Trước kia, ông Đồ lẻ loi “Bên phố đông người qua”, nay ở “Phố ông Đồ” có hàng trăm ông và đủ lứa tuổi. Ai cũng muốn thử sức, nhưng chỉ có khan giả là người công bằng chấm điểm nên có hàng đông khách, có hàng vắng khách Đoạn đường vắn hiến này kéo dài từ Nhà Thái học tới giáp đường Quốc Tử Giám với một dãy lều sát nhau, trong đó các ông Đồ áo dài khăn xếp đang thi thố tài năng trước sự chứng kiến của khán giả. Cũng như năm xưa, nữ sĩ Hồ Xuân Hương xuất hiện để “dạy đời làm thơ” thì ở đây tôi đã gặp một cô đồ tóc uốn, mắt xanh, áo dài thêu hoa đang viết những đại tự Hiếu, Ân, Trung Nghĩa, Nhân Duyên ban phát cho đời.
Bên bờ Hồ Văn cũng có một dãy lều do ai đó dựng bên trong hàng rào, làm cho khách vãng lai có cảm giác đó là một cái trại. Tôi đã đến đó quan sát thấy ở đây mọi người ra vào đều có sự kiểm soát. Dắt xe vào đã có hai chàng bảo vệ mặt lạnh ngồi trước cửa thu tiền gửi xe, trong khi đó hàng dãy lều không có khách, không có chữ và không có ông Đồ ngồi đợi. Nắng chiếu chang chang như để cho mọi người biết được cái quang cảnh “Vườn các ông Đồ” nơi mà người ta muốn ép cả dãy phố ông Đồ với mọi sự tự do vào trại.
Trở lại dãy phố “Các ông Đồ” bây giờ viết thư pháp có nhiều kiểu lắm có người viết đại tự chữ Hán, cũng có “anh Đồ” viết thư pháp Việt ngữ tha hồ múa bút. Ai cũng ra vẻ uyên bác và sẵn sang biện luận sự đời.
Tôi hỏi một ông Đồ:
  - Ông cho biết đang dùng loại bút nào?
             - Tôi dùng bút Trung Quốc. Bút ấy viết tốt.
             - Không có bút Trung Quốc thì ta có sản xuất được bút không?
             - Cái đó thì khó, xưa nay chưa nghe ai nói đến bút Nho của ta làm ra!
Có ai cùng tôi đi xuôi thiên lý tìm đến Bạch Liên thắp nén tâm hương tưởng nhớ cụ Tổ nghề đã giúp cho biết bao nho sinh từ thuở tóc còn để chỏm đi học chữ Thánh Hiền cho đến lúc thành ông Tiến sĩ vinh quy bái tổ?
 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 29.8.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn