Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (5)



Tể Tướng Lữ Gia Chống Hán







Lữ Gia (111 TCN) là Tể tướng mấy đời vua nhà Triệu nước Nam Việt. Ông nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối. Lữ Giang hy sinh bi tráng trước cuộc xâm lăng của nhà Hán.

Biến cung đình- Giết Vua và Thái hậu
    Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lữ Gia là Tể tướng ba đời vua Triệu, từ Văn Vương (136 - 125 TCN), Minh Vương (124 - 113 TCN), Ai Vương (112 TCN) tới Thuật Dương Vương (112-111 TCN).
    Minh Vương Triệu Anh Tề, đã có con lớn là Triệu Kiến Đức với bà vợ người Việt. Vua ngu muội, lấy thêm Cù Hậu là người Hán. Bị Cù Hậu mê hoặc, Minh Vương lập Triệu Hưng con trai của Cù Hậu lên thay. Năm 113 TCN. Minh Vương chết. Triệu Hưng nối ngôi (Ai Vương). Ai Vương quá nhỏ. Cù thái hậu nhiếp chính.
    Khi Cù Hậu chưa lấy Minh Vương, nàng ở nước Tàu đã thông dâm với An Quốc Thiếu Quý người của triều Hán.
    Nhà Hán thấy nước Nam Việt yếu, vua nhỏ, sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Ai Vương và Cù thái hậu quy hàng, làm nô lệ.
    Triệu Hưng còn ít tuổi. Thiếu Quý đến cung đình Nam Việt, Cù Hậu lại tư thông như xưa. Người nước Nam Việt biết, bất bình, không theo lệnh Cù Hậu.
    Cù thái hậu sợ. Muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên Triệu Hưng và các quan xin phụ thuộc Hán. Cù Hậu nhờ sứ nhà Hán dâng thư, xin theo như các chư hầu của nhà Hán. Cứ ba năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới.
    Vua Hán bằng lòng, ban cho Ai Vương và Thừa tướng Lữ Gia ấn bằng bạc và các ấn nội sử, trung úy, thái phó, còn các chức khác được tự đặt lấy.
    Cù Hậu quỳ dâng lễ vật quý, cùng Ai Vương chầu nhà Hán. Tể Tướng Lữ Gia tuổi cao chức trọng. Trong nước Nam Việt, ông được lòng dân hơn cả vua. Lữ Gia nhiều lần dâng thư can Ai Vương. Nhưng Ai Vương không nghe.
    Lữ Gia quyết định làm binh biến. Ông thường cáo ốm không tiếp sứ giả Hán. Các sứ giả Hán đều muốn hại ông, nhưng thế chưa thể làm được. Triệu Hưng và thái hậu cũng sợ phe Lữ Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả Hán, tính mưu giết ông.
    Cù thái hậu đặt tiệc rượu mời sứ giả đến dự. Các đại thần đều ngồi hầu rượu. Em Lữ Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt đầu, thái hậu bảo Lữ Gia:
      "Nam Việt nội thuộc(nhà Hán)] là điều lợi cho nước, thế mà tướng quân lại cho là bất tiện là tại sao?"
    Cù thái hậu chọc tức sứ giả Hán, để hắn đầu độc Lữ Gia trong tiệc rượu. Sứ giả còn đương hồ nghi, chần chừ chưa dám làm gì. Lữ Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường, lập tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận, muốn lấy giáo đâm ông. Ai Vương ngăn lại.
    Lữ Gia ra ngoài, chia lấy quân lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả, ngầm cùng các đại thần chống đối.
    Ai Vương vốn nể uy tín của Lữ Gia nên không có ý giết ông. Lữ Gia biết thế, nên mấy tháng không hành động gì. Thái hậu muốn một mình giết Lữ Gia, nhưng sức không làm nổi.
    Hán Vũ Đế biết tin Lữ Gia không tuân lệnh. Triệu Hưng và thái hậu bị cô lập, không chế ngự nổi. Sứ giả nhút nhát, không quyết đoán. Lại thấy Triệu Hưng và thái hậu đã phụ thuộc Hán rồi. Chỉ một mình Lữ Gia làm loạn, không đáng dấy quân.
    Hán Vũ Đế sai Trang Sâm đem 2.000 người sang sứ. Sâm từ chối. Hán Vũ Đế bãi chức Sâm. Tướng Tế Bắc cũ là Hàn Thiên Thu hăng máu xin đi. Hán Vũ Đế sai Thiên Thu và em Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2.000 người tiến vào đất Việt.
    Lữ Gia hạ lệnh cho toàn dân Nam Việt:
"Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của Tiên vương dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời".
    Lữ Gia cùng em trai đem quân đánh, giết Triệu Ai Vương và Cù thái hậu. Giết tất cả sứ giả Hán. Lữ Gia sai người báo cho Tần Vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng (con vợ Việt) của Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua Triệu Thuật Dương Vương.
Nhà Hán cướp nước Nam Việt
    Sau khi Tể tướng Lữ Gia lập Triệu Thuật Dương Vương lên ngôi. Quân của Hàn Thiên Thu tiến vào Nam Việt, đánh phá một vài ấp nhỏ.
    Triều đình Hán phái một lực lượng hơn 10 vạn người do Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục ba tướng quân đem quân từ quận Quế Dương tiến xuống đường sông Hồi Thủy. Chủ tước Đô úy là Dương Bộc làm Lâu thuyền tướng quân đem quân từ quận Dự Chương xuống đường Hoành Phố. Quy Nghĩa, cùng tiến xuống tấn công tiêu diệt nước Nam Việt của con cháu Triệu Đà, chiếm kinh đô Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay).
    Người của triều đình Nam Việt cai trị hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân đầu hàng nhà Hán.
    Lữ Gia phải mở một đường thẳng để cấp lương cho quân. Khi quân Hán đến, cách Phiên Ngung 40 dặm, Lữ Gia xuất quân đánh, giết được Thiên Thu. Sau đó phát binh giữ chỗ hiểm yếu. Ông chất đá giữa sông gọi là Thạch Môn.
Lữ Gia thua trận
    Vua Hán nghe tin Thiên Thu bị giết, sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xuất phát từ Quế Dương, Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc xuất phát từ Dự Chương, Qua Thuyền tướng quân Nghiêm xuất phát từ Linh Lăng, Hạ Lại tướng quân Giáp đem quân xuống Thương Ngô, Trì Nghĩa hầu Quý đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội cả ở Phiên Ngung.
    Mùa đông năm 111 TCN. Tướng Hán là Dương Bộc đem 9000 tinh binh hãm Tầm Hiệp, phá Thạch Môn lấy được thuyền thóc của quân Lữ Gia, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung.
    Triệu Thuật Dương Vương và Lữ Gia cùng giữ thành Phiên Ngung. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện đóng ở mặt Đông Nam. Lộ Bác Đức đóng ở mặt Tây Bắc.
    Chập tối, Dương Bộc đánh bại quân Triệu, phóng lửa đốt thành. Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ít, đóng doanh, sai sứ chiêu dụ. Ai ra hàng đều được Đức cho ấn thao và tha cho về để chiêu dụ nhau. Dương Bộc cố sức đánh, đuổi quân Triệu chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ mờ sáng thì quân trong thành đầu hàng. Triệu Vương và Lữ Gia cùng vài trăm người, đang đêm chạy ra biển.
    Bác Đức hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Lữ Gia, sai người đuổi theo. Hiệu úy tư mã là Tô Hoằng bắt được Kiến Đức, quan lang Việt là Đô Kê bắt được Lữ Gia. Các xứ ở Nam Việt đều xin hàng.
    Lữ Gia và Triệu Vương bị quân Hán giết.
    Tương truyền khi Lữ Gia bị bắt và chém đầu, một con chó đã cắp đầu của ông, bơi qua sông và chôn giấu. Hiện nay, đền thờ Lữ Gia vẫn còn tại một làng ở xã Quang Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
    Hình tượng hy sinh bi tráng của Lữ Gia được dân Nam Việt tôn vinh huyền thoại một vị tướng đầu bị chém vẫn oai phong trên lưng ngựa, trở về Đất Mẹ Cha sinh vùng châu thổ sông Hồng. Hình tượng người anh hùng Nam Việt độc nhất vô nhị thế gian.
    Tương truyền Lữ Gia sinh ra ở huyện Lôi Dương quận Cửu Chân (nay là huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá) có cha là hào trưởng Lữ Tạo người lương thiện, phúc hậu làm nghề lang y; mẹ là người tài sắc, công dung tên là Trương Vĩ, con gái hào trưởng Vũ Ninh (Bắc Ninh ngày nay).
    Tại quận Cửu Chân có tên họ Hàn hung nghịch, tàn bạo vốn là hào trưởng thấy Gia chí khí hơn người nên muốn thu nạp làm tay chân. Gia không chịu khuất phục nên gã thâm thù, cho tay chân đến cướp phá, hành hung gia quyến. Biết không thể sống được nên cả gia quyến đã bỏ quê tìm kế an thân. Khi đến Nam Trì (xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên) thấy khu đất nơi ngã ba sông đất đai tươi tốt, dân cư thuần hậu nên đã lưu tạm ở đây hành nghề lang y.
    Lăng mộ Tể tướng Lữ Gia hiện ở làng xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên.
    Dân gian truyền, sau khi bị quân Hán chém đầu, nhưng chưa đứt hẳn, Lữ Gia phóng ngựa chạy về vùng đất Vụ Bản- Nam Định. Khi chạy đến thị trấn Gôi (Vụ Bản- Nam Định ngày nay) thì gặp một bà hàng nước. Lữ Gia hỏi: “Người bị chém mất đầu có sống được không?”. Bà nói: “Người mất đầu thì làm sao sống được”. Tức thì đầu của Lữ Gia lìa khỏi thân.
    Dân Vụ Bản chôn và lập đền thờ Lữ Giá ở nhiều nơi trong huyện. Tương truyền, đầu, thân và chân Lữ Gia được thờ ở ba làng khác nhau. Ngày xưa có hội rước tại các đình, miếu thờ Lữ Gia trong khắp huyện, to gần bằng hội Phủ Dày. Truyện này được ghi trong " Thiên Bản lục kỳ " là một trong sáu truyện kỳ lạ của vùng đất Thiên Bản xưa (nay là Vụ Bản).
Vua Việt lấy vợ Tàu- Mất nước
    Chuyện Mỵ Châu Trọng Thủy, máu chưa khô. Nước Tàu lại diễn trò bỏ bùa chài vua Việt lấy vợ Tàu, để cướp nước Nam Việt. Vua Minh Vương nhà Triệu bỗng lóa mù, hóa lú, ăn phải bả Tàu. Vua lấy vợ Tàu đàng điếm, nước Nam Việt vĩnh viễn mất vào tay nhà Hán. Nghìn năm Bắc thuộc cũng từ đây. Biên giới Việt cổ của Mẹ Cha Tiên Rồng vĩnh viễn mất quá nửa cũng bởi vua Việt lấy vợ Tàu.
    Vợ Tàu uốn éo, lõa lồ cướp quyền vua, cai trị Nam Việt, gây thảm họa loạn cung đình. Binh biến là tất nhiên. Vua Nam Việt và mẹ Tàu đều bị giết là nhân quả.
    Thế nước quá yếu. Nam Việt vĩnh viễn mất quá nửa đất nước rộng lớn từ Nam sông Dương Tử trở về sông Hồng. Nước Nam Việt của Triệu Đà vừa bị mất đất, vừa bị Bắc thuộc nghìn năm vì vua Việt mù mê vợ Tàu.
    Máu xương dân Việt nhuộm đỏ đất Nam Việt lập nước Nam Việt độc lập, không may bị trò gái gú, đàn bà Tàu ma mỵ, dày đạp, cướp trắng tay.
    Bắc thuộc lần thứ nhất tính từ khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị nhà Hán cướp là chính xác.
Chuyện xưa càng kể càng đau ruột tằm
    Trong Đại Việt Sử ký Toàn Thư Ngô Sĩ Liên nhận định về việc Lữ Gia giết Ai Vương và Cù thái hậu:
"Tai họa của Ai Vương, tuy bởi ở Lữ Gia mà sự thực thì gây mầm từ Cù Hậu. Kể ra sắc đẹp đàn bà có thể làm nghiêng đổ nước nhà người ta thì có nhiều manh mối, mà cái triệu của nó thì không thể biết trước được. Cho nên các Tiên vương tất phải đặt ra lễ đại hôn, tất phải cẩn thận quan hệ vợ chồng, tất phải phân biệt hiềm nghi, hiểu những điều nhỏ nhặt, tất phải chính vị trong ngoài, tất phải ngăn ngừa việc ra vào, tất phải dạy đạo tam tòng, thì sau đó mối họa mới không do đâu mà đến được. Ai Vương ít tuổi không thể ngăn giữ được mẫu hậu. Lữ Gia coi việc nước, việc trong việc ngoài lại không dự biết hay sao? Khách của nước lớn (nước Tàu) đến, thì việc đón tiếp có lễ nghi, chỗ ở có thứ tự, cung ứng có số, thừa tiếp có người, sao đến nỗi để thông dâm với mẫu hậu? Mẫu hậu ở thẳm trong cung, không dự việc ngoài: khi nào có việc ra ngoài, thì có xe da cá, có màn đuôi trĩ, cung tần theo hầu, sao để đến nỗi thông dâm với sứ khách được? Bọn Lữ Gia toan dập tắt lửa cháy đồng khi đang cháy rực, sao bằng ngăn ngay cái cơ họa loạn từ khi chưa có triệu chứng gì có hơn không?
    Đối với việc nước Nam Việt mất, các sử gia Việt đều xót đau gan ruột, truyền muôn đời con cháu.
  Lê Văn Hưu đau mất nước, đổ tội lên đầu Lữ Gia:
"Lữ Gia can ngăn Ai Vương và Cù thái hậu không nên xin làm chư hầu nhà Hán, đừng triệt bỏ cửa quan ở biên giới, có thể gọi là biết trọng nước Việt vậy. Song can mà không nghe, thì nghĩa đáng đem hết bầy tôi đến triều đình, trước mặt vua trình bày lợi hại về việc nước Hán, nước Việt đều xưng đế cả, có lẽ Ai Vương và thái hậu cũng nghe ra mà tỉnh ngộ. Nếu lại vẫn không nghe theo, thì nên tự trách mình mà lánh ngôi [tể tướng], nếu không thế thì dùng việc cũ họ Y, họ Hoắc, chọn một người khác trong hàng con của Minh Vương để thay ngôi, cho Ai Vương được như Thái Giáp và Xương Ấp mà giữ toàn tính mệnh, như thế thì không lỗi đường tiến thoái. Nay lại giết vua để hả lòng oán, lại không biết cố chết để giữ lấy nước, khiến cho nước Việt bị chia cắt, phải làm tôi nhà Hán, tội của Lữ Gia đáng chết không dung."
    Ngô Sĩ Liên xót xa, tiếc thương Bà Trưng Trắc- Hoàng đế đã lấy lại đất Nam Việt của nhà Triệu đánh mất, nhưng không giữ được lâu bền:
"Ngũ Lĩnh đối với nước Việt ta là ải hiểm cửa ngõ của nước cũng như Hổ Lao của nước Trịnh, Hạ Dương của nước Quắc. Làm vua nước Việt tất phải đặt quân chỗ hiểm để giữ nước, không thể để cho mất được. Họ Triệu một khi đã không giữ được đất hiểm ấy thì nước mất dòng tuyệt, bờ cõi bị chia cắt. Nước Việt ta lại bị phân chia, thành ra cái thế Nam- Bắc vậy. Sau này các bậc đế vương nổi dậy, chỗ đất hiểm đã mất rồi, khôi phục lại tất nhiên là khó. Cho nên Trưng Nữ Vương ( Trưng Trắc) tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong. Sĩ Vương tuy khôi phục toàn thịnh, nhưng bấy giờ còn là chư hầu, chưa chính vị hiệu, sau khi chết lại mất hết; mà các nhà Đinh , , , Trần chỉ có đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục được đất cũ của Triệu Vũ Đế, cái thế khiến nên như vậy."
Vua Tự Đức ngậm ngùi khi viết lời phê về việc Nhà Hán diệt Nhà Triệu trong Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (giữa thế kỷ 19) như sau:
Xét chung từ trước đến sau, đất đai của nước Việt ta bị mất về Trung Quốc đã đến quá một nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền các triều đại cũng nhiều người lỗi lạc hiếm có ở trên đời, mà vẫn không thể nào lấy lại được một tấc, đó là việc đáng ân hận lắm! Thế mới biết việc thu hồi đất đai đã mất, từ đời trước đã là việc khó, chứ không những ngày nay mà thôi. Thật đáng thương tiếc.”

Dân Việt tôn thờ Lữ Gia

    Các sử gia Việt Nam biết rõ việc vua ngu mù lấy vợ Tàu- Mất nước, mà vẫn phàn nàn, chê trách Lữ Gia. Nhưng nhân dân Việt rất công bằng. Dân tôn thờ Lữ Gia- người anh hùng dũng mãnh, chống lại vua và triều đình u tối, hèn hạ, quỳ gối trước mụ đàn bà Hán gian dâm, cướp nước Nam Việt từ trong đầu não chính thể.
Giết vua và Cù Hậu, Lữ Gia không lên làm vua. Ông dựng cháu nội Triệu Đà lên ngôi, và quyết chiến cùng dân Nam Việt đánh quân Hán đến hơi thở cuối cùng.
    Tại Hang Cắc Cớ trên núi Sài Sơn- Chùa Thầy (xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây) người dân trong vùng truyền miệng, hàng ngàn bộ hài cốt trong lòng núi là của nghĩa quân Lữ Gia- những người đã hy sinh bi tráng từ 2.100 năm trước chống quân Hán xâm lược. “Suối xương” huyền bí này sẽ chìm vào quên lãng nếu không có cuộc thám hiểm của mấy người nông dân sống quanh chân núi Sài Sơn.

Tìm Biên giới Việt Cổ theo lệnh Tâm linh
    Ngày 10- 8- 2011. Tại miếu Sơn Thần- Chùa Thầy. Chúng tôi cùng các đoàn nghiên cứu khảo cổ, ngoại cảm và tâm linh: Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Thanh Hoá cầu siêu, cầu Phúc để dân tộc Việt Nam tìm lại Sức Mạnh Tâm Linh của Tổ tiên, kết nối Con Người Việt Nam hiện đại, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc phồn vinh, trường tồn.
Các đoàn Tâm linh từ nhiều vùng khác nhau, đều vẽ sơ đồ hang Cắc Cớ. Dù chưa ai đến hang này, mà các bản vẽ đều xác định đúng vị trí của hang. Lần đầu tiên, tôi được nghe kể chuyện“Tướng Lữ Gia” và trận quyết tử cuối cùng của ông cùng binh lính Nam Việt đuổi giặc Hán cướp nước, trên vùng đất chùa Thầy, qua các bài sớ cầu siêu của các đồng Thiên.
    Trong miếu Sơn Thần linh diệu, nguồn Khí Thần Tâm Linh Việt truyền lệnh cho chúng tôi:
    “Biên giới Việt cổ của Tổ Tiên Bách Việt từ thuở nguyên sinh, đã bị mất vào tay nhà Hán quá nửa, sau trận thất bại của tướng Lữ Gia. Thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, đã thu lại được 65 thành từ Nam sông Dương Tử trở về Giao Chỉ, nhưng không giữ được. Nay- dù đất của Tổ Tiên đã mất, con cháu phải tìm lại biên giới Việt cổ, để Tìm Tổ Tiên Việt, tiếp sức mạnh Tâm linh Việt, bảo tồn nòi giống Tiên Rồng.”
    Chúng tôi, trên đầu hai thứ tóc, lúc này mới ngỡ ngàng, cảm phục vô biên, trước chiến thắng quá lớn của Hai Bà Trưng, lấy lại toàn bộ đất nước Nam Việt của nhà Triệu đã bị mất.
    Chiến thắng Hai Bà Trưng lẫy lừng, vang dội địa cầu, kết tỏa Sức Mạnh Tâm Linh Việt & Sức Mạnh Mẫu Hệ- Mẹ Việt Nam đến muôn đời nòi giống Việt. Thật khó mà tưởng tượng được sức mạnh lòng dân Việt thoát Hán hội tụ trùng phùng sông núi nước Nam, do hai người đàn bà đứng đầu.
    Ở đâu trên trái đất này, có hai người đàn bà lẫm liệt, oai hùng, khắc thân mình tạc hồn thiêng sông núi như thế?
Cũng từ ngày hôm ấy, tôi trăn trở ngày đêm, cùng những người con Việt tâm huyết Đi Tìm Tổ Tiên Việt.
Biên giới Việt Cổ đã hiển hiện trên hệ thống truyền thông Việt Nam:
    “Sách Lĩnh Nam Chích quái liệt truyện- Truyện Hồng Bàng ghi: “Nhà nước Văn Lang: Đông giáp Nam Hải (nay là Quảng Đông- Trung Quốc) Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên- Trung Quốc) Bắc đến Động Đình Hồ (nay thuộc Tỉnh Hồ Nam Trung Quốc) Nam đến nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).
    Giáo sư, Bác sĩ Trần Đại Sỹ (Trường Y khoa Arma- Paris, Giám đốc Trung Quốc sự vụ Viện Pháp- Á ) dịp khai giảng niên khoá 1991- 1992 tại Viện Pháp- Á đã công bố nghiên cứu khoa học của ông bằng cổ sử, triết học, khảo sát địa lý, di tích các vùng trên tại Trung Quốc, và hệ thống ADN, Trần Đại Sỹ xác định biên giới cổ của Việt Nam đúng như Truyện Hồng Bàng ghi.
    Động Đình Hồ cái nôi của Việt tộc. Cho tới Bắc thuộc lần I, từ phía Nam sông Dương Tử xuống là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt (không cùng hệ thống ADN với người Trung Quốc).”

(Sách Đi Tìm Tổ Tiên Việt- Mai Thục- NXB Văn hóa- Thông tin 2014- trang 37)
(… Còn tiếp ...)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 25.8.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn