Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




KHÍ PHÁCH TRAI VÙNG BƯỞI





1 –Vùng Bưởi là gì ?
 
          Xem trên bản đồ địa lý thành phố Hà Nội thì Bưởi là vùng dân cư ở phía Tây Hồ Tây. Xem trong danh sách cổ và truyền thuyết thì vùng Bưởi là nopwi có cư dân sớm, truyện Hồ Tinh trong sách Lĩnh Nam chích quái đã nói đến thôn Hồ Khẩu có cư dân từ thời Hùng vương.
Bộ Hoàn long Hồ Khẩu phường thần tích viết rằng : Thời Hùng vương thứ 18 ở Diên Khánh động, châu Bố Chính có vị quốc công họ Lê húy Tín đã từ quan đi ngao du thiên hạ, đến thôn Hồ Khẩu thấy đây là cát địa ông liền ở lại lấy bà Thục nương làm kế thất. Hai vợ chồng đã sinh ra hai người con trai là Cống lễ và Cá lễ. Lớn lên hai con trở thành hai đại tướng của triều Hùng. Hai anh em cùng sinh một ngày, cùng hóa một ngày được vua Hùng phong là Thượng đẳng phúc thần, lệnh chotghoon Hồ Khẩu thờ làm Bản cảnh Thành hoàng.
Đén thời vua Lý Nam Đế có câu chuyện hai công chúa đã cùng bà thầy học của mình lập đàn trừ yêu quái ở khu rừng phía Bắc làng Trích Sài. Cuộc chiến kéo dài, yêu quái thua chạy vào hang núi, các bà tiên đã dâng nước làm sụt cả khu rừng lim thành hồ nước - nay là Hồ Tây - diệt hết yêu quái. Ngày nay, dân làng Trích Sài  đi đánh cá còn dẫm bùn tìm được những cây  gỗ lim hóa thạch
Bên ven hồ Tây có ngôi đền Gia Hội thờ ba vị Thánh nữ của làng ở dìa làng Trích Sài, căn cứ truiyeefn thuyết địa phương ta biết làng Trích Sài tức là thôn Tây của phường Võng Thị thời xưa. Đến thời Lê mới chia thành hai làng riêng biệt như hiện nay.
Tuy nhiên, vè tín ngưỡng hai làng cùng có đền thờ ông Mục Thận- một người đánh cá thời Lý Nhân Tông có công cứu vua khỏi "sự biến hồ Dâm Đàm" năm Bính Tý 1127 (xem Đại Việt sử ký toàn thư – Kỷ nhà Lý)
Cũng trong thời vua Lý Nhân Tông lại có một sự biến khác : Đó là vào năm Thiên phù Khánh thọ có Ông Dầu Bà Dầu tự nguyện hy sinh thân mình, nhảy xuống sông Thiên Phù để chặn dòng nước lũ hung hãn. Sự hy sinh của ông bà đã làm cho sông Thiên Phù cạn dòng, tại ngã ba sông Tô Lịch – Thiên Phù xuất hiên bãi nổi, hàng năm nước lũ tải các cây thượng du về bãi, lập nên bãi Bưởi, rồi thành chợ Bưởi, làng Bưởi... cũng từ ý đó. Lâu dần tên Bưởi trở thành một không gian bao trùm các làng ven sông Tô Lịch và bến nước Thiên Phù.
Khi thành lập huyện Vĩnh Thuận, Nam triều chia địa dư các tổng. Ca dao cổ có câu :
Ngoài ô những tổng vân vân
Sáu phường Trung tổng : Bái Ân, Trích Sài
Thụy Chương, Hồ Khẩu dọc dài
Võng Thị , Yên Thái vừa đầy tổng  Trung.
Sau năm 1922 người Pháp cải cách hành chính lập Đại lý Hoàn Long thay cho huyện Vĩnh Thuận; nhưng từ Thụy Chương trở lên, từ Nghĩa Đô trở về trung tâm là chợ Bưởi, người dân vẫn gọi chung là Kẻ Bưởi
Xét trong danh mục hành chính cổ thì từ Kẻ để chỉ một đơn vị hành chính. Ví dụ người dân gọi Thăng Long là Kẻ Chợ
 Tóm lại Kẻ Bưởi ngày xưa và vùng Bưởi ngày nay đều là một không gian hành chính rộng nghĩa, bao hàm các làng làm nghề giấy ở bên sông Tô Lịch.
 
2 – Những nét văn hiến của Kẻ Bưởi.
 
Tại năm làng cổ lập thành phường Bưởi ngày nay ( An Thái, Đông Xã, Hồ Khẩu, Võng Thị và Trích Sài) mỗi làng đều có tục lệ và lễ hội khác nhau nhưng đều chung một ý : đó là nêu cao truyền thống Hiếu Trung. Xuất sứ của truyền thống này là vào năm 1028 vua Lý Thái Tông sau khi lên ngôi đã cho tổ chức Hội Thề, bắt các quan và hoàng thân quốc thích phải đến trước ban thờ Thiên Hạ Minh Chủ (người giữ lời thề trong thiên hạ)  đặt tại Đền Đồng Cổ sơn thần mà thề rằng :
Vi tử bất hiếu
Vi thần bất trung
Thần minh tử chi

                                                (làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh giết đi)

Đến nay Hội thề đã trải gần 1000 năm, nhưng ý nghĩa của lời thề vẫn được dân vùng Bưởi coi trọng
Dọc sông Tô Lịch, các làng nghê làm giấy dó liên kết nhau Các làng đó đều làm giấy dó, riêng làng Nghĩa Đô có họ Lại được đặc ân của vua Lê cho phép độc quyền sản xuất giấy săc
                                             Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô
                                       Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ
Ông Hoàng Trọng Phu trong thời gian làm tổng đốc Hà Đông đã chụp ảnh, sưu tầm tư liệu viết về các làng nghề này.
Làm giấy hay dệt vải đều là nhưng mặt hàng quan hệ tới sĩ tử nên trong thơ văn, ca dao chúng ta thấy có nhiều câu rất tự hào :
Người ta buôn vạn bán ngàn
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn vui
Dám xin ai đó chớ cười
Bởi em làm giấy để người chép thơ
 
Nhắn ai trẩy hội kinh thành
Mua cho tấm lĩnh hoa chanh làm quà
The La – lĩnh Bưởi – chồi Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên
 
Những làng nghề đó đều có quan hệ với văn hóa nên tại các làng có nhiều chàng trai vừa làm vừa học, dùi mài kinh sử thi đỗ đại khoa. Lần tìm văn bia ở Văn miếu Thang Long hay Văn miếu kinh đô Huế, đọc trong sử sách ta đều tìm được tên các bậc đại khoa là người Bưởi.  Đó là :
- Nguyễn Trạc Dụng thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất 1670
- Vũ Đình Quyền thi đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn 1736
- Vũ Di Lượng thi đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Kỷ Hợi 1779
- Vũ Trọng Tử thi đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Đinh Mùi 1787
- Nguyễn Văn Thắng thi đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Bính Tuất 1826
Ở làng Bái Ân trong thời Lý có trường học của thầy Lý Công Ẩn, tương truyền ông Lý Thường Kiệt đã học ở trường này. sau này trở thành quan Thái Úy dưới triều Lê Thánh Tông, có công phá Tống bình Chiêm giữ yên bờ cõi.
Đến thời Lê, có ông Nguyễn Đinh Hoàn năm 28 tuổi thi đỗ Hoàng Giáp khoa thi năm 1668, làm quan tới chức Hữu thị lang bộ Binh, thăng Bồi Tụng, tước Quận Công. Khi về hưu ông cũng mở trường dạy học, rèn cặp nhiều học trò, trong đó có Tiến sĩ Nguyễn Công Cơ người làng Xuân Đỉnh
Tại các làng Tân, làng Nghè cúng có người học giỏi đỗ cao đó là các ông :
- Nguyễn Lan đỗ Tiến sĩ khoa thi Nhâm Thìn 1472
- Nguyễn Khâm đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1678    
- Nguyễn Quốc Nham đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Ất Mùi 1775
Tại làng Dâu (một trong ba làng lập nên xã Nghĩa Đô)  có ông Đoàn Nhân Thục đỗ  Hoàng Giáp khoa thi năm Nhâm Tuất 1502oàng Giáp Hoàng
 
Đặc biệt trong năm Hà Thành thất thue lần thứ 2 (1882) xuất hiện bài Hà
 Thành chính khí ca, tương truyền tác giả là Nguyễn Văn Giai – một lãng tử - người làng Hồ Khẩu.
Xem trong sách "Quốc triều Hương khoa lục" có ghi tên các ông thi đỗ Cử nhân :
Khoa thi năm Đinh Mão niên hiệu Gia Long thứ 6 (1807)
        - Nguyễn Tư Trực  làm quan tới chức Tri phủ
   - Vũ Đình Kỷ làm quan tới chức Thiêm sự bộ Lễ, tước Song Giang Hầu.
   - Nguyễn Duy Thanh khoa thi Ất Dậu 1826 đỗ cử nhân
   - Phùng Kiệt  làm quan tới chức Ngự sử
Khoa thi Đinh Mùi niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1647)  
         - Nguyễn Hiển (sau đổi là Nguyễn Vỹ)  làm quan tới chức Tư nghiệp Quốc tử giám.
Khoa thi năm, Nhâm Tý niên hiệu  Tự Đức thứ 5, lấy đỗ :
        - Nguyễn Quý Cầu 
Khoa thi năm Giáp Thân niên hiệu Kiến Phúc 1 (1884) lấy đỗ :
        - Nguyễn Túc
Khoa thi năm Ất Mão niên hiệu Duy Tân thứ 9 (1915) láy đỗ :
        - Nguyễn Trọng Đường
Có điều lý thú là năm Gia Long thứ 6 có 3 người làng Yên Thái đều đỗ Cử Nhân đều làm quan trong triều 
Chưa kể tới các vị đỗ cử nhân, tiến sĩ nhưng có tài kinh bang tế thế, văn học nổi tiếng một thời được người đời coi trọng như Phùng Kiệt, Lý Văn Phức.
Nhiều người thi đỗ đại khoa, nhiều người làm quan cao, chức tước trong các triều Lê, triều Nguyễn, đi đến đâu, họ cũng hết lòng sống theo đạo sĩ phu, lấy dân làm trọng. Nếu lần giở gia phả các dòng họ, chúng ta có thể tìm được nhiều tấm gương hay. Đó cũng là phí phách mà người xưa lưu lại đến bây giờ.
Gia phả họ Vũ ở Yên Thái cho biết cụ Vũ Hữu Tín khi làm Tri phủ Lạng Giang gặp năm mất mùa đã đầu đơn xin triều đình xá thuế cho dân, đển khi được cử làm Thiêm sự bộ Hình, làm việc tại Gia Định bên cạnh Tả quân Lê Văn Duyệt, cụ đã chống lại thói đa sát của Tả quân hạ ngục. Những người được cụ Vũ tha tội chết đã về Kinh kêu oan cho cụ, vua Minh Mạng đã ra lệch tha cho cụ. Gia phả họ Nguyễn cho biết Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng vì trái ý vua mà phải xử vào tội chết những được dân các nơi làm đơn xin tha tội chết, liên tục từ 1831 – 1842 đi tiền quân hiệu lực, khi được tha về vẫn mở trường dạy học, trở nên một nhà giáo có tiếng.
Như ông Lý Văn Phúc, trong cuộc đời làm quan, đã có bao nhiêu thăng trầm thế mà vẫn tỏ ra à một người có học vấn, để lại nhiều tác phẩm văn học chữ Hán và chữ Nôm, trở thành một nhà văn học lớn trong thế kỷ 19 ( Hoa Bằng nhận xét).
Những năm dưới sự áp bức của thực dân, vùng Bưởi cũng không ít nhân tài, đó là nhà văn Tô Hoài ở Nghĩa Đô, nhà văn Vũ Trọng Can ở An Thái.
Trong những năm đổi mới, từ 1990 đến nay, lại có một loạt các nhà báo, nhà văn hóa dân gian xuất hiện. Những người này đã vượt qua khó khăn về kinh tế của gia đình, cầm bút ca ngợi sự đổi mới của quê hương, ca ngợi cuộc đời mới. Những lớp người đi sau đó đã và đang nối tiếp nguồn mạch văn hóa của cha ông đất Kẻ Bưởi.
 
3. Ý thức của người Kẻ Bưởi
 
Thông thường ở các làng xã Việt Nam nói chung, vị thần được thờ làm Đương cảnh Thành hoàng bản thổ đều là các vị xuất thần từ thượng giới xuống cõi trần giúp dân và được dân thờ. Nhưng ở các làng trong phường Bưởi không có hiện tượng này. Các vị thần được thờ đều là những người hàng ngày ta gặp: ông lão bán dầu, bà lão bán dầu, ông đánh cá trên Hồ Tây, hoặc xa xưa là con giai của bà Thục nương, con gái của vua Lý Nam Đế. Họ đều làm nên những " kỳ tích " mà chỉ có trong ngày ấy, giờ ấy xuất hiện. Như Tố Hữu đã viết "có những phút làm nên lịch sử" cho nên khi thấy vua (biểu hiện cho quốc gia) lâm nguy, ai cũng rỏ lòng trung.
Cái ý thức đó đã được Nho giáo tổng kết thành câu "Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách" (Nhà nước nguy biến thì đến kẻ thất phu cũng có trách nhiệm, nữa là người có hiểu biết).
Sự tồn vong của đất nước đã khiến cho không ít người con vùng Bưởi đứng iên để cứu nhà và cứu nước. Ở làng Trích Sài – một làng quen dệt lĩnh sống bên Hồ Tây, nhiều văn sĩ đã ca ngợi:
 
Liễu bờ kia bay tơ liễu phất phơ
Thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm
 
Thế mà có tú tài Phùng Xuất Nghĩa nổi lên chống Pháp hưởng ứng phong trào Cần Vương chiến đấu mấy năm liền. Khi Phùng Xuát Nghĩa bị thát bại lại có phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do các cụ Bùi Đình Tú (trích sài) cụ Tú Luyện ở An Tháí tiếp tục hoạt động. Thực dân Pháp bắt cụ Tú Luyện đầy đi Côn Đảo, nhưng tiếp sau đó, khi có mầm mống hoạt động cộng sản do nhóm các anh Nguyễn Đăng Thêm cùng các bạn thanh niên ở Nghĩa Đô, Hồ Khẩu tổ chức. Các anh đã thành lập Chi hội Thanh niên Dân chủ tuyên truyền cho tờ báo công khai của Đảng. Đến năm 1940, đồng chí Trần Đăng Ninh tới vùng Bưởi xây dựng tổ chức phản đế, thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tại vùng ghép Cổ Nhuế – Bưởi.   Đã có nhiều hoạt động soi nổi như phong trào Xóa nạn mù chữ do các anh Nguyễn Quý Khôi, Nguyễn Quý Thái, và Nguyễn Xuân Trúc lãnh đạo.
Điểm qua những hoạt động trước 1945 để thấy rằng dù tình hình chính trị xã hội có đen tối, nhưng có nhiều thanh niên vùng Bưởi không e ngại uy lực quân thù mà sớm giác ngộ cách mạng, chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công. Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở vùng Bưởi do lực lượng thanh niên tham gia như một cuộc hội ngộ của tuổi trẻ. Đêm đêm khắp các làng bên sông Tô Lịch rộn vang tiếng hát
                             Toàn dân Việt Nam đứng đều lên quyết tâm phen này
                             Mười chín tháng Tám- chớ quên là ngày khởi nghĩa
                             Hạnh phúc sáng tô, non sông Việt Nam
Với niềm vui dạt dào từ nay là công dân một nước Việt Nam độc lập, thoát khỏi 80 năm nô lệ, thoát khỏi ách phong kiến phát xít, thanh niên vùng Bưởi như được chắp cánh bay cao . Cái chí khí anh hùng, có trách nhiệm trước non sông đã thể hiện rõ khi Toàn Quốc Kháng Chiến.  TRong 60 ngày chiến đấu bảo vệ Thủ Đô, lực lượng tự vệ chiến đấu của Bưởi phối hợp với Vệ Quốc Đoàn đã chiến đấu trong khu vực Liên Khu I
Chín năm kháng chiến con em các làng vùng Bưởi đã tham gia chiến đấu trên các mặt trận. Có người hy sinh ngày đầu kháng chiến như liệt sĩ Vương Đình Bảng, có người hy sinh tại Mặt trận Điện Biên Phủ như các liệt sĩ Phùng Đình Hộ , Nguyễn Xuân Sinh, Nguyễn Đăng Uyển. Có người đi Nam tiến, chiến đấu và hy sinh trong Nam để lại một mối tình sâu nặng.
Hồi năm 1946, anh Vũ Bá Khảo theo đoàn quân Nam tiến vào hoạt động tại Sài Gòn. Anh và cô giao liên yêu nhau, nhưng không may anh bị Pháp bắt và kết án tử hình. Trong những ngày anh nằm xà lim án chém Chí Hòa, cô giao liên vẫn kiên trì tiếp tế thương yêu anh. Khi anh được tổ chức giúp vượt ngục, cô mừng lắm, tìm ra cứ gập anh, nhưng thật lạ, anh lại xưng tên là Vũ Trọng Nghĩa, chối bỏ không quen biết cô. Thế là hờn giận nhiều nỗi,  cô ra về trong nỗi buồn. Mấy tháng sau, trong một trận chống càn vào cứ, anh Vũ đã hy sinh. Lúc này tổ chức mới cho cô biết : vì nguyên tắc bí mật, nên sau khi vượt ngục anh phải từ bỏ mọi quan hệ cũ, nén tình riêng dâng hiến cuộc đời cho kháng chiến,
Hối hận vì mình đã trách oan người tình, cô đưa linh hồn anh vào chùa, và xuống tóc thờ anh.  Sau ngày thống nhất đất nước, khi thấy mình đến cõi, cô gửi về quê Bưởi tấm hình của anh, để mong gia đình họ tộc ngoài Bắc thương cảm .
"Chín năm làm một Điện Biên, nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng"  những người con đất Bưởi trở về giải phóng Thủ đô năm 1954, ai có ngờ trong 6 người lính vác quân kỳ đi đầu hàng quân lại có anh Dần người bên Cổng Xanh An Thọ. Đội hình đại đoàn 308 đi trên phố cổ Hà Nội trong mưa hoa của nhân dân vui mừng rải xuống đầu, xuống vai mỗi người. Ngày nay, mỗi năm đến ngày 10/10 kỷ niệm Giải phóng Thủ đô xem lại những thước phim tư liệu lại thương nhớ các anh.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954) đã có 53 chiến sĩ người Bưởi hy sinh. Có nhiều chiến sĩ là con duy nhất trong gia đình, nhưng trước họa xâm lăng, các anh đã ra đi rồi không về nữa. Lịch sử làng còn ghi tên các chiến sĩ Hoàng Phạm Đều hy sinh trong chiến dịch Hà Nam Ninh, chiến sĩ Nguyễn Văn Hỵ hy sinh trong ngày đầu kháng chiến tại Ô Đống Mác, liệt sĩ Nguyễn Hoàng Tôn hy sinh dưới 18 tuổi vì tội hoạt động tuyên truyền cộng sản.
Các anh đã hy sinh, nhưng để  lại khí phách bất tử cho con em noi theo noi theo, đến năm 1964 khi đế quốc Mỹ mang quân xâm lược Miền Nam Việt Nam, đưa máy bay ném bom đánh phá miền Bắc, cả một lớp con em sinh năm 1954, mang những cái tên mơ ước Hòa Bình, Thắng Lợi, Trung Hiếu, Hạnh Phúc...đã háo hức lên đường chống Mỹ cứu nước, tiếp bươc cha anh.
Đại tá pháo binh Nguyễn Khắc Tính người đã dự trận Điện Biên Phủ nói với tôi : " Ngày xưa chúng tôi ra đi để giành lại Độc Lập Tự Do bởi vì sau lưng họ là một kiếp người dân mất nước, sống dưới các tầng bóc lột. Còn ngày nay các cháu ra đi vì động cơ nào nhỉ ? Đúng là người già chưa hiểu hết ý chí của lớp trẻ, bây giờ đọc lại di thư của các liệt sĩ.  nghe kể lại những khó khăn hồi ấy ta mới hiểu các anh đều rất yêu quê cha đất tổ, không muốn xa quê, nhưng vì đế quốc Mỹ gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam nên "cuộc đời đẹp nhất của thanh niên là đi chiến đấu đánh Mỹ" (thư của liệt sĩ Võ Thanh Hiếu gửi mẹ ở xóm Thọ- An Tháí) Liệt sĩ Nguyễn Đăng Học gửi thư về cho các em , lạc quan mơ đến một ngày   "tiếng kèn chiến thắng vang khắp non sông, anh em chúng ta lại đoàn tụ một nhà"
Liệt sĩ Nguyễn Phương Tiến viết thư gửi anh chị cũng nói " em cũng như nhiều người khác đều  không muốn xa gia đình,xa sự chăm sóc dậy bảo của bố mẹ, anh chị, xa cái tổ ấm mà từ bé tới giờ chúng ta chưa rời nhau. Nhưng vì giặc Mỹ xâm lược đã chia cắt anh chị em mình, cũng như chia cắt bao tổ ấm khác, nên em phải ra đi"
Con đường vào Nam chiến đấu không phải là con đường có hoa thơm cỏ lạ mà là con đường đầy gian nan nguy hiểm : lội suối, trèo đèo, mưa rừng, muỗi vắt và nguy hiểm nhất là bom đạn lúc nào cũng đe dọa . Liệt sĩ Võ Thanh Hiếu trong lá thư gửi Mẹ đã viết " Trong này nó bắn phá ác liệt lắm, không có lúc nào im tiếng máy bay, chúng bay hết tốp này đến tốp khác cứ liên tục suốt cả ngày đêm tìm mục tiêu để bắn phá, đêm thì chúng thả pháo sáng liên tục, chúng con lắm khi phải kiên trì vận động rồi dừng lại đào hầm trú ẩn, cứ thế suốt ngày và đêm. Đã có đồng đội của con ngã xuống, và cuộc chiến đấu giữa chúng con với máy bay giặc Mỹ cứ diễn ra từng giờ, từng phút" . Lá thư đó đề ngày 25/8/1972 nhưng cũng là lá thư cuối cùng của liệt sĩ.  Hai năm sau gia đình mới được tịn liệt sĩ Võ Thanh Hiếu đã hy sinh ngày 17/12/1972 khi tuổi đời còn rất trẻ.
Bấy lâu nay ai cũng nói tin người con chết làm tan nát lòng mẹ, nhưng có ai biết lòng cha với nỗi đau khi bộc lộ ra mới biết tình phụ tử sâu thẳm đến dường nào.   Ông Võ Cẩn – cha của liệt sĩ- đã viết :
Như con chim non ra ràng vừa ra khỏi tổ.
Thì gập ngay giông tố gian nan
Con ơi ! Lông cánh chưa được là bao
Mà con đã quyết bay trong gió bão
Còn sống, con thường bảo bạn bè :
Khi có quân xâm lược, cuộc đời có ý nghĩa là cuộc đời bộ đội
Còn sống con đã nghĩ rằng : "Thà chết giữa biển khơii còn hơn là chết đuối giữa đĩa đèn. Thà bắt con cá kình ở đại dương còn hơn ngồi trên bậc cửa đuổi quanh quẩn con gà con lợn.
Thà sống 20 năm có nghĩa còn hơn là sống 70,80 năm vô vị
  Nhưng con đã đến tuổi 20 đâu mà con đã đâu rồi nhỉ ?"
                                                                        (trích Nhật ký của ông Võ Cẩn khóc con trai Võ Thanh Hiếu)
Phường Bưởi có làng Đông Xã là nơi Nguyễn Văn Thạc cùng bố mẹ anh cư trú, lớn lên anh về quê nội Cổ Nhuế rồi đi NVQS tại quê. Nguyễn văn Thạc đã hy sinh tại Quảng Trị năm 1972 để lại cuốn Nhật ký, được NXB Thanh Niên xuất bản với tên "Mãi mãi tuổi 20"
Câu chuyện của Nguyễn Văn Thạc đã khơi gợi nhiều kỷ niệm trong các gia đình liệt sĩ ở Bưởi. Không riêng gì Nguyễn Văn Thạc có bạn gái mà ở tuổi 19-20 ai cũng có bạn khác giới. Anh Nguyễn Phương Tiến sau khi nhập ngũ, đã viết thư về gia đình " Anh chị kính mến . Hôm chuẩn bị đi em muốn nói với anh chị nhiều lắm ...em cũng như anh chị rất mong muốn có một cuộc sống vui vẻ và đoàn tụ, nhưng vì điều kiện chiến tranh nên em phải xa anh chị. Hạnh phúc riêng phải tạm dừng, Em và  cô M  đã yêu nhau được hơn một năm. Trong thời gian qua em đã tìm thấy ở M một người con gái ngoan, có đạo đức và đáng quý mà it người có được. M đã hứa yêu em mãi mãi, chờ em đến ngày toàn thắng trở về.
Anh chị kính mến ! Bây giờ đối với em chuyện vợ con khó nói lắm, thế nhưng em cũng nói để anh chị biết. Nếu như vẫn ở nhà thì 2-3 năm nữa chúng em sẽ cưới nhau, nhưng bây giờ em ra đi biết bao giờ trở về
Đó cũng là lá thư cuối cùng của liệt sĩ khi anh đang hành quân trên đất Lào, đơn vị tổ chức lễ truy điệu sống cho một số chiến sĩ đi nhận nhiệm vụ đặc biệt nên trong giấy báo tử về gia đình, đơn vị lấy ngày làm lễ truy điệu là ngày hy sinh của các anh.
Có một chiến sĩ khác là Nguyễn Công Sơn, anh vốn là học sinh Chu Văn An, xung phong sang Gia Lâm xây dựng trường cấp III Nguyễn Gia Thiều niên khóa 1969-1960.  Anh đã tốt nghiệp Phổ thông cấp III, nhưng vì hoàn cảnh gia đình không được vào Đại Học (năm xưa, chọn người vào Đại Học theo thành phần giai cấp xuất thân) mà đi làm công nhân  Đài Truyền thanh Hà Nội rồi đi NVQS tại Đài.  Khi đơn vị anh đi B, anh được phép về chào gia đình, chào bạn bè. Trong buổi chia tay không ai biết anh đã có bạn gái. mà chỉ nghe anh nói về nhiệm vụ người chiến sĩ khi đất nước có giặc là phải ra tiền tuyến, Anh vui vẻ ra đi và hứa sẽ trở về khi sạch bóng quân thù. Nhưng Sơn đã hy sinh năm 1968 tại chiến trường Tây Nguyên. Khi xóm làng cùng gia đình tổ chức lễ báo tử, có một cô bạn gái từ Gia Lâm sang nhà, xin được chít khăn tang thờ Sơn ! Rồi 4 năm sau, cô lại đến nhà xin phép cha mẹ Sơn  cho cô  đi lấy chồng, đời cô coi như đã một lần  "tái giá". Ba mẹ Sơn và bạn bè đều không cầm nước mắt khi chứng kiến tấm lòng chung thủy của người con gái ấy.
Con trai đất Bưởi là những người như thế, họ đã làm nên nhiều chuyệ hay đáng để sử sách ghi công, nhưng họ im lặng không nói về mình, chúng ta chỉ biết về họ khi mà ánh sáng rọi tới. Trải qua hai cuộc chiến  tranh có hàng ngàn thanh niên nhập ngũ, hàng trăm người hy sinh nằm lại chiến trường. Những người trở về  đang tiếp tục cuộc chiến chống đói nghèo, giúp dân cải thiện đời sống. 
Như vậy, khí phách trai vùng Bưởi đã là một điều cụ thể , có truyền thống đến mọi thế hệ sau này. Người đời sẽ truyền tụng "trai đất Bưởi giỏi lắm, họ đã  từ đói nghèo nô lệ đứng lên  thành những chiến sĩ đi cứu nước, giữ nước và đang đem  hiểu biết, cống hiến cho xã hội"    

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 25.8.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn