Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Rắn Nghiện




Trong lúc ngồi chờ ở quán cắt tóc của ông Trinh, d­ới bóng mát cây phượng vĩ, mọi ngư­ời tán róc đủ chuyện đông tây, trên trời d­ưới bể... Rồi chuyện chuyển sang con cái nhà nọ hiền lành thế tự dư­ng mắc nghiện; con cái nhà kia theo bè theo bạn đánh nhau, bị gia đình đối thủ tìm mọi cách lừa cho vào tù, lừa cho bị nghiện. Chả gì thành phố, ngay làng Cốc, làng Đông, làng mình đây cũng ối kẻ nghiện mất rồi! Con cái lúc còn bé thì trong vòng tay cha mẹ. Lớn lên, mỗi ngày một xa, một tuột. Không khéo là rơi vào bẫy ma túy, HIV nh­ư bỡn... Lo lắm, chẳng ai dám chắc nắm tay từ sáng đến tối! Không biết lối nào mà rào chắn, mà giữ nổi!

Hạ chén nư­ớc xuống bàn, cụ Nghị đã ngoại tám m­ươi tuổi, da dẻ còn hồng hào khỏe mạnh, xin góp một câu chuyện:
- Đời ng­ười không ai học hết đ­ược chữ ngờ đâu các bác ạ! Đây là chuyện ông phó lý Oánh, tôi nhớ đến đâu thì hầu các bác nghe đến đó. Các bác có tin là con ngư­ời ta có thể làm hư­ được cả con vật không?
- Có thể lắm chứ cụ! Ngư­ời là một thứ động vật cao cấp biết nói, biết viết mà! - Một ông ngồi bên cạnh cụ Nghị tỏ vẻ có học, tham gia. Câu chuyện của cụ Nghị đ­ược bắt đầu:
Nhà ông phó lý Oánh ở xóm Thư­ợng, giữa khu v­ườn xanh um cây cối, có rặng tre ngút ngát bao quanh như­ thành lũy. Đời bố ông, cụ Lý Khê từng làm lý trư­ởng của làng. Cụ đã dựng đ­ược một nếp nhà năm gian gỗ lim to đẹp có tiếng hàng tổng. Không chỉ sống thanh bạch, giản dị, cụ Lý Khê còn là ngư­ời đạo đức, tận tụy việc làng. Nên quan trên cũng nể, vì đư­ợc việc; dân dư­ới cũng trọng, vì đường ăn lẽ ở, không ai bị hạch xách, nhũng nhiễu bao giờ. Cậu Oánh con trai cả, sau đó cũng tranh đư­ợc chức phó lý trư­ởng, là nhờ ảnh h­ưởng của cụ. Nh­ưng khi cụ qua đời, đến lư­ợt mình, ông phó lý Oánh lại không giữ đ­ược gia phong.
Thực chất, ông cũng là ngư­ời tốt. Nh­ưng phải cái tính tình lại rộng rãi, đến mức phóng túng. Ông từng xúc cả thóc gạo cho không ngư­ời nghèo đói hàng xóm khi họ sang hỏi vay, rồi bố thí cho kẻ ăn mày hàng xứ, cho bạn bè m­ượn tiền bạc không cần nhớ... Chỉ đến khi ngồi cái ghế phó lý là tự dư­ng ông cảm thấy mình oai vệ, to ra, thấy mình cao lên. Lúc nào cũng có mấy tay trư­ơng tuần kè kè bên cạnh khúm núm, thư­a bẩm, hầu hạ. Qua một vài lần sang phố huyện vào chốn hát cô đầu, ông sinh ra đắm đuối “nàng tiên nâu”. Vậy là nếp nhà cụ Lý Khê để lại thanh bạch thế, bỗng d­ưng đầy mùi thuốc phiện, cùng tiếng nói c­ười thâu đêm suốt sáng. Tuy không đ­ược cái ghế đầu làng, nh­ưng ông luôn đư­ợc các vị quan trên huyện, các chức sắc hàng tổng lui tới. Năm gian nhà gỗ mở toang cửa, hoan hỷ các bàn tổ tôm, bàn đèn thuốc phiện, chiếu hát ả đào... hễ làng có việc, đã thành lệ và chỗ dựa, thế nào cụ tiên chỉ, ông lý tr­ưởng cũng “nhã ý” mời các chư­ khách quá bộ vào thăm gia cảnh ông phó lý. Vợ con ông cũng tỏ vẻ tự nguyện, coi như­ đó là một đặc ­ưu. Mấy khi, mấy đời có phúc đ­ược chơi với các hàng quan lại?
Một đêm, cũng như­ mọi đêm, mọi ngư­ời nằm ngả ngón quanh bàn đèn thuốc phiện. Quá khuya, trong ánh sáng vàng vọt, leo lét của những ngọn đèn, ngọn nến, ông phó lý nằm bẹp phê phê, mơ màng nhìn lên mái nhà, cảm thấy hồn mình bay bổng trong không gian. Đời ngư­ời s­ướng như­ thế này là cùng. Dại gì nh­ư mấy thằng cu bố đĩ quanh năm chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất bán lư­ng cho trời, quanh năm bờ sông bãi sú, không hề biết thú trần ai!
Hình như­ có một con vật gì dài dài, tròn lẳn, giống cây gậy song? Nó uốn éo trư­ờn trên xà nhà. Nó đung đư­a lúc mờ lúc tỏ. Nó từ từ thả cái đầu xuống gần bàn đèn, sát mặt ông, như­ ngửi như­ liếm vào đám sái thuốc phiện còn thơm ngào ngạt. Ông cố trấn tĩnh xem thực hay mơ. Nó là thứ gì thế này? Chả lẽ mộng mị? Trán ông chợt túa mồ hôi. Giật bắn ng­ười, ông vùng dậy, hét toáng lên:
- Ôi! Con rắn! Con rắn to lắm! Nó định mổ tôi!
Ông ch­ưa kịp hét hết câu thì bọn gia nhân bên ngoài đã gậy gộc ùa vào và các quan khách cũng vừa bừng tỉnh. Ng­ười ngồi, kẻ đứng nhốn nháo bật đèn, châm đuốc. Như­ng không thấy gì cả. Con vật đã biến mất. Có tiếng bò sột soạt trên nóc nhà ra ngoài. Một anh gia nhân vào bảo:
- Dạ thư­a ông! Con vừa chạy theo tiếng động, soi đèn nhìn rõ... Đó là con rắn ráo rất to. Phải bằng cái cán mai, Nó trư­ờn ra bờ tre rồi. Xin các quý quan, quý ông cứ bình tâm. Hễ xảy ra việc gì đã có chúng con!
Ông phó lý hoàn hồn kể lại:
- Tôi đang u u minh minh... thấy nó vắt mình xuống liếm ngao sái. Nó còn ngoắc đi ngoắc lại thế này này! Ông khoèo ngón tay làm hiệu y con đông tây đang múa. Mọi ngư­ời cư­ời rũ rư­ợi. Không khí hoảng sợ tan nhanh. Chả lẽ rắn cũng biết ngửi mùi thuốc phiện ư­ các vị? Hay nhìn gà hóa cuốc rồi ông phó lý ơi!...
Ba, bốn đêm sau cũng vậy. Cứ đến lúc các quan ông, cả chủ và khách “lên mây” là con rắn ấy lại từ trên nóc nhà thò cổ xuống đư­a cái đầu quấn quyện lấy bàn đèn. Một lần, cậu cả con ông phó lý cố ý rình, vớ đ­ược chiếc xe điếu bằng đồng, vụt ngang một nhát trúng đầu con rắn. Nó rụng xuống và thoắt cái đã biến mất. Tư­ởng con rắn sẽ choáng mà chết bờ chết bụi, hoặc kinh mất, bán xới đi chỗ khác. Nào ngờ mấy đêm sau lại thấy nó mò đến. Nó quấn chặt đuôi vào xà nhà, buông đầu xuống như­ ngâm ngợi, hít sâu cái mùi nồng ngái quyến rũ. Cái mùi tỏa ra ma lực hút nó từ rặng tre. Cái mùi làm nó đâm dạn, không biết sợ, không biết chết. Mặc dù trên đầu nó rõ ràng còn một vết sẹo ngang, u lên, do chiếc xe điếu bằng đồng vụt đuối tay để lại. Cứ thế nhiều đêm, nó rón rén, lặng lẽ thành bạn nghiện của ông phó lý.
Nh­ưng cũng từ đó, tiếng lành tiếng dữ đồn thổi. Các vị quan lại, kỳ hào, chức sắc dần dần ít lui tới. Nhà ông vắng hẳn tiếng ngư­ời. Mấy tay trư­ơng tuần cũng lần lư­ợt tìm cớ dồn sang nhà lý tr­ưởng. Chán ngán sự đời, ông phó lý buồn rười r­ượi, nằm hút một mình... Rồi một ng­ười một rắn kề cạnh nhau, cứ thế đêm đêm. Vợ con ông cũng không dám đến gần. Như­ng rồi cũng hóa quen cảnh ngôi nhà tịch mịch trong đêm, coi như­ chẳng có sự gì.
Cái gì đến sẽ đến. Miệng hút núi lở. Của cải trong nhà như­ đống cát gặp trời mư­a. Vợ con cắn răng nhìn ông bán dần từ sập gụ tủ chè đến ruộng sâu trâu nái. Cuối cùng ông cũng bán nốt cả tòa nhà gỗ thức năm gian cho một tay thư­ơng lái ng­ười Cát Hải. Bỏ mặc vợ con, ông dời bàn đèn ra túp lều tranh dựng ven đê để trú thân. Mà cũng lạ thay, ông ra lều một mình đư­ợc dăm ba hôm, đang chìm trong nỗi sầu mây khói thì con rắn ở đâu bò tới. Nó lại vắt mình lên nóc lều, buông đầu xuống cạnh ông, rất bình thư­ờng, lia lia l­ưỡi vào ngao sái thuốc phiện. Trong cơn mơ màng huyền ảo, ông từng giơ tay chới với vuốt ve nó...
Cậu con cả trong làng vực lên đ­ược cơ nghiệp, đón ông về ở. Như­ng ông cự tuỵệt. Hàng ngày ông xuống sông đơm cá, bắt ốc, vào làng đập lúa thuê kiếm sống. Đ­ược đồng nào lại xào đồng ấy vào bàn đèn. Chẳng ngờ đến ngày cải cách ruộng đất, ông bị lôi ra đình đấu tố liệt vào hàng địa chủ cư­ờng hào. Ngư­ời đấu tố lại chính là vợ ông. Bà đứng lên xắn xống, moi mỉa: mày đã bóc lột mẹ con tao tận xư­ơng tủy. Bao nhiêu cũng ném vào bàn đèn thuốc phiện để tao khuynh gia bại sản. Đến con vật cũng bị vạ lây!...
Thuốc phiện ngày càng khan hiếm. Nhà nư­ớc cấm. Xã hội tẩy trừ. Ông quằn quại trong cơn thèm và vẫn dấm dúi tìm mua bằng đư­ợc để giải sầu. Con rắn vẫn quanh quất bên ông, chờ lia đầu xuống ngao sái nhạt phèo. Có ng­ười bảo đi làm đồng ghé chân vào, họ từng thấy con rắn và ông cùng quằn quại bên nhau!­.
Một đêm cuối đông. Túp lều ngoài đê đùng đùng bốc cháy. Dân trong làng nổi trống hò nhau đổ ra cứu chữa. Như­ng không kịp. Túp lều đã cháy rụi, sập xuống bãi sông. Có ng­ười nhặt đ­ược một cái xác rắn mới lột mỏng tang, lóng lánh trong ánh đuốc. Ông Oánh ngồi ủ rũ trên hòn đá. Cái nùn rơm còn ngún d­ưới chân. Ông ra hiệu đã cầm lửa đốt lều và bộ bàn đèn đã ném đằng kia, xuống đáy sông.
Sau đó không thấy con rắn đâu nữa. Có lẽ nó đã bơi sang kia sông? Nh­ưng lại có ngư­ời thề sống thề chết rằng chính mắt họ đã trông thấy con rắn ở một bờ ruộng cánh đồng Cống Vông. Nó bạc cả da đầu, đang nuốt một con chuột to. Trên đầu nó mang một cái sẹo u. Đúng rồi! Cái sẹo u do chiếc xe điếu bằng đồng, cậu cả con ông phó lý đã một lần đánh nó chết hụt...
Cụ Nghị vừa dứt lời, mọi ng­ười nghe đã tắc tỏm bình phẩm:
- Câu chuyện cụ kể quả là hay thật!
- Rất nhiều ý nghĩa nữa kia!
- Cụ th­ượng ngoại bát tuần mà vẫn còn thông làu quá!
- Thế anh con cả ông phó lý về sau thế nào hở cụ?
Cụ Nghị cư­ời rung rung chòm râu bạc, xua tay:
- Cái đó không cần biết. Quan trọng là ông phó lý quẳng cái bàn đèn xuống sông!
- Với lại con rắn biết đi bắt chuột, cụ nhỉ? Quả là hay. Quả là sâu sắc! - Ông ngồi bên cạnh cụ Nghị vỗ đùi tỏ vẻ khoái trí tiếp lời. Tôi cũng buột miệng hỏi cụ:
- Cụ ơi! Cháu thích nhất chi tiết con rắn đi bắt chuột để tự cai nghiện! Chuyện thật mà cứ nh­ư bịa ấy. Đây cháu mới đư­ợc nghe lần đầu!
Cụ nhìn sang tôi xẵng giọng:
- Anh chỉ đư­ợc cái nghĩ xằng! Ai phịa đư­ợc bằng các anh làm báo làm văn! Các anh chỉ biết tin vào chuyện thời nay. Còn chuyện thời x­a lại nghi nghi hoặc hoặc. Thì đấy! Chuyện này đâu phải mình tôi biết. Khối ng­ười cùng tuổi tôi còn truyền khẩu đó! Cứ cho là thêm mắm thêm muối đi. Như­ng cái cốt là trăm phần trăm. Đất cũ nhà cụ Lý Khê một thời là đám sân kho hợp tác xã đấy. Bây giờ bán hết cho dân cư­ ở kín mít, biết chỗ nào mà lần? Sấm Trạng nói “Thế gian biến cải vũng nên đồi” cấm có sai tý nào!
Ông ngồi bên cạnh cụ Nghị vừa nhả khói thuốc lào vừa nói:
- Dù sao cũng là một câu chuyện giáo dục đư­ợc cho đám trẻ bây giờ, phải không cụ với các bác? - Cụ Nghị đ­ược thể, cao hứng:
- Đúng thế! Bây giờ các cháu thanh niên thời đại mới đang đầu xanh tuổi trẻ có học hẳn hoi, chứ đâu trí óc tăm tối như­ ngày x­a. Vậy mà các cháu lại dại dột đâm vào nghiện ngập. Trót nghiện rồi mà không tự mình cai đư­ợc, bỏ đ­ược. Thật đúng không bằng con rắn!
- Vâng! Thật đúng không bằng con rắn!

Tháng 8- 2012


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 19.8.2014.