Việt Văn Mới
Việt Văn Mới




Tàu Bay Mỹ và Tàu Thủy Ta



Tàu bay Mỹ

   Ngày ấy, đang vào thời điểm chiến tranh phá hoại Miền Bắc bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Trận Điện Biên Phủ trên không nóng bỏng từng phút từng giây. Chiều hôm ấy, sau cả ngày trời vất vả đẩy xe đạp thồ đầy những công cụ đá cuội, Mẫu trầm tích hóa thạch động vật mới phát hiện dược ở Nậm Tun (Phong Thổ), Thẩm Khương (Lai Châu) tôi và Võ Qúy đã lên tới đỉnh Pha Đin. Trưa hôm ấy đang trên đèo thì thấy tiếng tên lửa nổ, đạn bắn rào rào. Một chiếc xe téc chở xăng đang leo đèo bị trúng rốc két cháy bùng bùng khét lẹt lăn xuống vực . Tôi và Qúy chưa kịp dựng xe vào bệ đá của trạm khí tượng đỉnh đèo thì bỗng có tiếng dộng cơ ầm ầm. Ngẩng lên đầu chẳng thấy cái tàu bay nào, đảo mắt xuống khe núi thì nhung nhúc cả bầy Con ma F4 đang lao vun vút như những con cá chuối, Lạ thay, chúng lẩn vào lẫn với vách núi không tinh mắt rất khó nhận ra. Thì ra bọn Mỹ rất khôn. Để trốn Mig 21 của ta ở độ cao lớn bổ xuống nhằm bắn, chúng đã sơn màu loang lổ trên lưng tàu bay để trà trộn vào màu sắc núi rừng ruộng lúa bên dưới.
   Nhớ lại những trận trực chiến ở Hà Nội năm ấy, chúng tôi được huấn luyện bắn máy bay địch bằng súng bộ binh. Bắn tầm cao, tầm thấp, bắn bổ nhào và ngắm bắn đón đầu với khoảng cách 2 thân, 3 thân của chiều dài máy bay. Chỉ huy huấn luyện cho làm những máy bay dài ba gang tay gỗ sơn đen cắm trên cọc rồi cho người di chuyển để cả đại đội bắn theo.
   Máy bay bay ngang , bổ nhào sơn đen trên nền trời mà ngắm bắn cũng chẳng dễ dàng gì. Khi vào trận thật, tôi giương súng dõi theo tàu bay Mỹ bay trên bàu trời Viện Khảo Cổ khi chúng bổ nhào bắn phá ném bom Đại Sứ Quan Pháp và nhà ga Hàng Cỏ. Tôi giương súng lên lướt cố tìm máy bay để bắn mà trời trắng xóa chẳng nhìn thấy gì. Anh Cao Xuân Phổ, đại đội trưởng qùy bắn bên tôi đã nổ kịp mấy phát đoàng đoàng đoàng. Máy bay đi qua, tôi hỏi anh Phổ sao mắt anh tinh thế? Anh Phổ cận thị nặng , người chiến sỹ chống Pháp năm xưa về phục viên và lúc ấy làm biên tập cho tạp chí Khảo Cổ Học cùng trong nhóm trực chiến với tôi hôm ấy chỉ cười . Anh bảo: “Nào có nhìn thấy rõ đâu, nó trắng phau như con cá ấy. Tao cứ bắn. May ra thì trúng, chí ít thì cũng làm cho nó sợ. Mọi người thêm hăng cái tinh thần.
   Sau này vào Bảo tàng Không Quân tôi mới vỡ ra là Bọn Mỹ nó để bụng máy bay giữ màu trắng để khi dưới đất bắn lên khó nhận thấy tàu bay lẫn với mây trắng trên trời. Còn sơn loang lổ trên mặt lưng là để Tàu bay ta từ trên trên bắn xuống bị lẫn với cỏ cây bên dưới khó ngắm trúng.

Tàu thủy ta.

   Những năm trước, ngay từ cái thời mà thủy lôi vẫn chưa được vớt hết ngoài cửa biển, tôi đã có nhiều dịp được ra Cát Bà Quảng Ninh khảo sát. Lúc ấy làm gì có tàu du lịch, chúng tôi đi thuyền gỗ, ca nô nhỏ. Trên biển xanh, núi non nhấp nhô xen lẫn cánh buồm nâu thật là một cảnh tiên. Mỗi lần tàu bè, thuyền cá đi lại gặp nhau mọi người lại hú vang , vẫy chào nhau. Có khi còn quảng cho con tôm con cá. Ôi cảnh thanh bình và hài hòa làm sao. Cánh buồm nâu và con tàu gỗ đã hằn vào óc tôi như những kỉ niệm không phai mờ. Con thuyền với buồm cánh dơi đã như một vật thể không thể thiếu được trong tổng thể du lịch Hạ Long. Đố bạn tìm thấy vật kỉ niệm vẽ về Vịnh Hạ long, Ảnh chụp về Vịnh Hạ long thời ấy mà thiếu cảnh cánh buồm nâu. Cảnh biển mà thiếu cánh buồm thì còn ra cái gì nữa?
Hai tuần trước, tôi có việc phải vội ra Hạ Long đẻ tổ chức cứu Cụ Tùng ngót 700 tuổi bị bão đổ gục trên đỉnh non thiêng Yên Tử. Dừng lại Hạ Long một đêm. Sáng dậy, tôi vội chạy ra bãi tàu định chụp mấy hình ảnh rạng đông với những cánh buồm nâu thân thương mà chỉ thấy trời mây mù mịt. Những con tàu gỗ và cánh buồm nâu thân yêu của tôi biến đâu mất cả.
   Hỏi bác thường trực cửa nhà khách xem nó lẩn đâu mất rồi. Với nét mặt buồn rầu bác bảo “sao mắt ông kém thế? Nó lù lù cả dống kia kìa”. Thì ra cả bãi neo tàu ngoài ấy giờ tàu bè họ đem sơn trắng toát một màu trông chẳng còn ra cái hình thù gì nữa. Trời mây mù mịt, tàu trắng hòa vào sương khói mù mịt nên khó khắn lắm mới nhận ra. Ông thường trực bảo tôi. Đã có mấy vụ tàu cháy, tàu chìm rồi đây ông ạ. Cánh lái tàu thì cứ lo ngay ngáy vì tàu sơn trắng vào những hôm mặt biển mù sương chỉ sợ đâm nhau thôi.
   Tôi cãi. Bố chỉ nói lẩn thẩn. Người ta bảo sơn trắng thì nó mới thể hiện là qúy phái, mới tỏ ra đẳng cấp chứ? Cũng như cái anh bồi bàn , gác cổng trong khách sạn ấy. Cứ phải trắng từ đầu đến đít thì nom nó mới ra đẳng cấp du lịch chứ? Muốn Hạ Long nó đẳng cấp như bên Tây ấy thì tàu cũng phải sơn trắng tuốt tuồn tuột, Tàu gỗ tàu sắt, buồm nâu buồm tím gì cũng phải trắng tất nó mới sang!
   Một tay thủy thủ tàu viễn dương đưng bên thấy tôi tranh luận cũng chõ vào một câu.
   Bố gàn bỏ mẹ! Bố chẳng hiểu cái gì cả. Tàu bè du lịch bên Địa Trung Hải nó chạy trong biển lặng nước trời xanh ngắt quanh năm nên họ sơn trắng chỉ làm nổi con tàu trong biển xanh thôi. Xứ Hạ Long này thì mưa nắng thất thường lắm ngày mù mịt tàu chạy san sát suýt đụng nhau thì mới nhận ra. Sơn trắng chỉ tổ va chạm đâm quyệt thôi bố ạ.
   Tôi sực nhớ đến câu chuyện về màu sơn của cái tàu bay Mỹ năm nào và lo thay cho thân phận những con tàu du lịch bị cưỡng bức phủ trắng toàn thân trong vịnh biển Hạ Long đệ nhất danh thắng này.
Nhà thơ Nguyễn Bính, người vô cùng chân chất mộc mạc yêu cái hồn quê hương đồng gió nội và chúa ghét son phấn lòe loẹt giả tạo phải đã thốt lên khi nhớ đén cánh buồm nâu thân thương

"Anh đi đấy, anh về đâu ?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…"
(Thơ Nguyễn Bính)

    Nhớ Cánh buồm nâu thân thương chở đầy hồn Việt , tôi bỗng bật lên một câu than dài

"Anh đi đó anh về đây
Hỡi ôi còn thấy buồm nâu, cánh buồm ?"

Hà nội 17-8-2014


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 19.8.2014.