Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (4)





Dân Việt Đánh Tần Cướp Nước Việt







Chiến tranh Việt- Tần là cuộc chiến lịch sử đầu tiên của người Việt giữ đất nước, và giặc Tàu (Tần) cướp nước Việt.

    Lãnh thổ nhà Tần đã mở rộng về phía Nam, bao gồm các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Năm 214 TCN. Tần Thủy Hoàng sai Triệu Đà dời vài chục vạn người đến vùng Ngũ Lĩnh (Việt Thành, Đồ Bang, Manh Chữ, Kỵ Điền, Đại Dữu (thuộc Hồ Nam), Cần (Giang Tây), Việt (thuộc Quảng Đông) và Quế (thuộc Quảng Tây). Từ đây Lưỡng Quảng thuộc về Trung Quốc.
    Cuộc chiến chống Tần của người Bách Việt kéo dài khoảng mười năm. Các tộc người Bách Việt gồm: Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt… bị chinh phục, nhưng người Âu Việt và Tây Âu đã chiến thắng.
    Cuộc chiến chống Tần thắng lợi, Thục Phán- thủ lĩnh người Việt thay Hùng Vương, lập nước Âu Lạc vào khoảng năm 207 TCN.

    Nhà Tần- Khủng long tàn bạo
    Nhà Tần (( 221 TCN - 206 TCN) kế tục nhà Chu và trước nhà Hán. Việc thống nhất Trung Quốc (năm 221 TCN thời Tần Thuỷ Hoàng) đánh dấu sự khởi đầu của đế quốc Tàu.
    Nhà Tần đã để lại một di sản trung ương tập quyền và một hệ thống quan liêu, được áp dụng vào những triều đại sau này.
    Trong lịch sử nước Tàu, nhà Tần là vương triều đầu tiên có cương thổ rộng lớn và tàn bạo nhất. Cái tên "China" người phương Tây gọi Trung Quốc ngày nay, xuất phát từ những âm phiên chữ Tần khác nhau.
    Nhà Tần thi hành chính sách hà khắc, độc đoán và tàn bạo. Tần Thuỷ Hoàng đã đưa lại một trong những giai đoạn triều đình mạnh mẽ nhất. Song thời của ông ngắn 15 năm, chưa đủ thời gian cho một thế hệ (năm 221 TCN- 206 TCN) đã sụp đổ.
    Vòng xoáy quyền lực cuồng bạo
    Nhà Tần- vòng xoáy quyền lực bạo liệt trong lịch sử Tàu. Não trạng người sáng lập ra nó- Tần Thuỷ Hoàng- rất hiểm độc, nhiều bí ẩn, cuồng điên.
    Tần là triều đại đầu tiên thiết lập chế độ quận, huyện để xác lập quyền lực tuyệt đối của hoàng đế.
    Nhà Tần đặt ra tiêu chuẩn hoá chữ Hán, trọng lượngđo lườngluật pháp, mở các kênh để tưới tiêu và vận chuyển, xây dựng hệ thống đường xá to lớn, mở rộng nước Tàu về phía Bắc và phía Nam. Công và tội xây đất nước thống nhất, chiếm đất nước khác, của nhà Tần rất khùng. Chính sách tàn bạo và tiêu diệt Văn hoá, gây ảnh hưởng xấu ghê gớm cho đời sau.
    Sử ký Tư Mã Thiên và sau này là Giả Nghị đời Hán viết bổ sung thiên Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ phân tích nguyên nhân thất bại của một triều đại dã man, khốc liệt, và ngắn ngủi.
    Năm 256 TCN. Tần đã trở thành nước mạnh nhất ở Tàu. Năm 246 TCN. Vương triều rơi vào tay cậu bé Doanh Chính (Tần Thủy Hoàng) mười ba tuổi. Tuổi nhỏ, hoàng đế có các đại thần Pháp gia phụ chính. Trong đó, Lý Tư- một nhà tư tưởng nền tảng của phái Pháp gia, có nhiều quyền lực và được tin cậy nhất.
    Năm 232 TCN. Doanh Chính 27 tuổi- bắt đầu vòng xoáy bạo lực cuồng bạo, thôn tính các quốc gia phía Bắc . Năm 221 TCN. Tần Thuỷ Hoàng chinh phục toàn bộ các nước phía Bắc, tạo ra một triều đình được coi là kiểu mẫu cho mọi triều đại tiếp sau của Tàu.
    Để tập trung quyền lực, nhà Tần thay toàn bộ đám cai quản cũ. Lãnh thổ được kiểm soát bằng một hệ thống quan lại mạnh, theo thứ bậc. Bẻ gãy quyền lực của tầng lớp quý tộc. Tần Thủy Hoàng thu đất của quý tộc, chia đất cho nông dân, nhằm thu thuế. Thuế được triều đình thu trực tiếp từ những người nông dân, không qua tay tầng lớp quý tộc.
    Tần Thuỷ Hoàng tổ chức các chiến dịch đầy tham vọng, tiêu chuẩn hoá tiền tệ và trọng lượng, đo lường. Thực thi những học thuyết Pháp gia khắc nghiệt nhất. Các luật lệ của đế chế rất chặt chẽ và ác nghiệt, đặc biệt đối với người trong triều đình.
    Nhà Tần ngoài việc cai trị nghiệt ngã lãnh thổ phía Bắc, còn điên cuồng xâm lược phía Nam. Họ lần lượt chinh phục các vùng phía Nam Trung Quốc tới tận sông Hồng- miền Bắc Việt Nam.
    Kẻ thù lớn nhất của họ là từ phương Bắc. Những người Hung Nô du mục đó tường xâm nhập vào vùng lãnh thổ phía Bắc trong thời nhà Chu. Dân phương Bắc nước Tàu vốn là thợ săn và đánh cá. Nhưng vùng đất đó khô dần. Rừng biến mất. Họ chuyển sang chăn thả. Họ học để thành kỵ sỹ và sống du cư. Họ gây chiến lẫn nhau. Những cuộc chiến tranh thường xuyên này biến họ trở nên những chiến binh tài ba trên lưng ngựa. Khi tới các vương quốc phía Bắc nước Tàu, họ là những đối thủ đáng gờm cho bộ binh của các nước đó.
    Để đẩy lùi sự xâm lấn của các nước phía Bắc, nhà Chu xây những bức tường và công sự dọc theo biên giới phía Bắc của họ. Nhà Tần mở đường lớn, nối các bức tường và công sự đó vào với nhau gọi là " Vạn lý trường thành".
    "Ông vua có thể lấy thiên hạ trên lưng ngựa nhưng không thể cai trị thiên hạ trên lưng ngựa".
    Câu đó rất đúng với nhà Tần. Sau khi thống nhất thiên hạ, thay vì dùng chính sách khoan dung thu phục lòng người, nhà Tần lại tăng cường pháp trị, lấy sự hà khắc để đề phòng sự chống đối của nhân dân.
    Tần Thuỷ Hoàng- Người khùng bí hiểm
    Tần Thủy Hoàng là con Triệu Cơ (thiếp của Lã Bất Vi) người nước Triệu, cuối thời Chiến Quốc .
    Triệu Cơ đang mang thai. Lã Bất Vi đem nàng dâng Thái tử Tử Sở, làm phu nhân. Triệu Cơ sinh con đặt tên Doanh Chính. Lã Bất Vi cùng Triệu Cơ âm mưu đưa Doanh Chính lên ngôi (Tẩn Thủy Hoàng).
    Tần Thủy Hoàng- một người khùng bí hiểm, đáng sợ. Những nghĩ suy, hành động của Tần Thủy Hoàng đầy kinh hãi và hiểm hóc, kinh rợn. Ông giống một kẻ điên có quyền lực. Những ý tưởng điên loạn trong đầu kẻ có quyền, đã bắt đám đông thực thi hành động, thành những hiện thực kinh hoàng.
    Đây là bài học khủng khiếp nhất với những xã hội không có Nhân quyền- Dân chủ. Người dân răm rắp cúi đầu làm theo ý chỉ của một ông vua điên, hay một nhóm người cai trị Tham Ác. Thảm họa khôn lường!
    Ngay sau khi thống nhất đất nước, Tần Thủy xây cung A Phòng khổng lồ, tốn máu dân (phía Nam sông Vị), làm tam cung lục viện với hơn một vạn mỹ nữ, để tưởng nhớ nàng A Phòng- Mối tình đớn đau mang xuống tuyền đài chưa tan của Tần Thủy Hoàng.
    Một khoảng bán kính dài trên trăm cây số quanh kinh đô, Tần Thủy Hoàng xây 270 cung điện nữa. Bao nhiêu châu báu, nhạc công và vũ nữ của lục quốc, ông gom cả về đó để giải trí. Cuối đời Tần, kinh đô bị chiếm và đốt, ba tháng sau ngọn lửa mới tắt.
    Khi chiếm được kinh đô một nước chư hầu nào, Thủy Hoàng sai người vẽ kiểu cung điện của nước đó, về xây lại y hệt tại Hàm Dương, ở bên cung điện của ông, thành một dãy dài cả mấy dặm. Bao nhiêu đồng và vũ khí trong thiên hạ gom cả về để đúc 12 pho tượng, mỗi tượng nặng 24.000 cân bày trong cung…
    Sợ chết- Tìm thuốc trường sinh
    Tần Thủy Hoàng giết người không ghê tay, nhưng rất sợ mình bị chết. Ông sợ chết và tuyệt vọng tìm thuốc trường sinh. Ông bị lừa bởi nhiều người hứa chế tạo thuốc trường sinh. Ông thăm đảo Chi Phù ba lần, mong đạt được sự bất tử.
    Tần Thủy Hoàng nghe lời Hầu Sinh và Lư Sinh muốn tu Tiên. Nhưng ít lâu sau hai người bất bình vì sự hà khắc của Thùy Hoàng, nên cùng nhau bỏ trốn. Thủy Hoàng cấp cho Từ Phúc một con tàu chở hàng trăm đồng nam và đồng nữ tìm kiếm núi Bồng Lai thần bí. Họ cũng được gửi đi để tìm An Cơ Sinh- người sống 1.000 năm tuổi, mà Tần Thủy Hoàng cho là đã gặp trong một chuyến vi hành và An Cơ Sinh đã mời ông đi tìm mình ở Bồng Lai. Những người đi tìm thuốc trường sinh không trở lại. Họ biết, nếu quay về, không có thuốc trường sinh, họ sẽ bị tử hình.
    Người ta nghĩ Thủy Hoàng đốt sách còn có lý do ông muốn tập trung tâm trí của các học giả giỏi nhất chuyên nghiên cứu giả kim thuật. Một số học giả bị tử hình vì họ không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng về khả năng siêu nhiên của họ.
    Tần Thủy Hoàng sợ chết và bị ám ảnh các "linh hồn xấu xa" vây bủa. Ông xây các đường hầm và lối đi thông qua mỗi cung điện của mình, để giữ an toàn. Ông tin mình đi trong hầm, không bị các “linh hồn xấu xa” nhìn thấy.
    Cái chết thảm thê
    Năm 211 TCN. Một thiên thạch được cho là rơi xuống Đông Quận ở sông Hoàng Hà. Trên thiên thạch ghi dòng chữ "Thủy Hoàng chết thì đất bị chia". Khi Thủy Hoàng biết, phái người đi điều tra. Không ai nhận đã viết dòng chữ đó, nên tất cả những người sống gần đó đều bị giết. Tảng thiên thạch bị đốt cháy và nghiền thành bột.
    Sau đó, Thủy Hoàng đi kinh lý phía Đông. Tả Thừa tướng Lý Tư đi theo. Trên đường về kinh, đến bến Bình Nguyên, vua bị bệnh.
    Ngày 10 tháng 9 năm 210 TCN. Thủy Hoàng qua đờiBình Đài, đất Sa Khâu cách kinh thành Hàm Dương khoảng hai tháng đi đường bộ. Sử liệu phương Tây cho rằng ông chết vì uống phải thuốc thủy ngân do các ngự y chế. Những viên thuốc này được làm nhằm giúp Tần Thủy Hoàng bất tử.
    Thừa tướng Lý Tư thấy nhà vua mất ở xa kinh đô, lo sợ tin về cái chết của Thủy Hoàng, kích hoạt cuộc nổi dậy lớn trong toàn đế chế. Ông giấu kín, không báo tang, chở quan tài trong một cỗ xe mát, cho một hoạn quan ngồi trong xe. Trăm quan vẫn tâu việc và dâng thức ăn. Hoạn quan đóng giả vua ở trong xe, nghe lời tâu, liền bảo: "Được!". Chỉ có dăm người thân tín của vua, biết vua đã chết.
    Xe chở xác Tần Thủy Hoàng từ Tỉnh Hình đến Cửu Nguyên, theo đường thẳng về Hàm Dương. Gặp lúc trời nắng, xe bốc mùi thối, tùy tùng sai các quan đi theo chở trên xe một thạch cá muối để đánh lẫn mùi thối.
    Khoảng hai tháng sau. Lý Tư và xe chở xác trở lại Hàm Dương, tin về cái chết của Tần Thủy Hoàng được công bố.
    Lăng mộ- sông biển thủy ngân
    Một trong những dự án đầu tiên Tần Thủy Hoàng thực hiện khi còn sống là xây lăng mộ cho mình. Năm 215 TCN. Ông lệnh cho tướng Mông Điềm dùng khoảng 720.000 người xây mộ. Mộ xây xong, những người xây mộ đều bị giết, để giữ bí mật muôn đời.
    Ngôi mộ có chứa xác Thủy Hoàng, nay vẫn chưa được mở. Có bằng chứng cho thấy nó vẫn còn tương đối nguyên vẹn.
    Tư Mã Thiên mô tả lăng mộ Tần Thủy Hoàng rất nhiều châu báu. Có một bản đồ của một trăm con sông, trên đó sông Hoàng Hà, sông Dương Tửbiển Đông đều bằng thủy ngân. Hầm mộ ngày đêm đều thắp đèn đốt bằng dầu cá, một loại cá giống hình người. Quan tài hạ, người ta nấu đồng để gắn phần mộ và đặt một cái máy. Nếu có kẻ nào lén vào đào mả, thì sẽ bị những mũi tên từ mọi chỗ, phát ra tự động, bắn chết.
    Lăng mộ Tần Thủy Hoàng xây trên núi Li Sơn, cách Tây An 30 km. Các nhà khảo cổ học hiện đại đã xác định mộ, đưa người máy vào thăm dò sâu bên trong. Các thăm dò cho thấy số lượng thủy ngân cao bất thường, tỷ lệ cao khoảng 100 so với tự nhiên. Bí mật của ngôi mộ được duy trì đến nay, vì những người xây mộ đều bị giết.
    Chiến tranh Việt-Tần
    Là cuộc chiến chống nhà Tần cướp đất phía Nam, của các bộ tộc Bách Việt, sống ở Bắc Bộ Việt Nam và Nam Trung Quốc hiện nay (trong thời nhà Tần mới thống nhất cuối thế kỷ 3 TCN).
    Tư liệu cổ nhất ghi về cuộc chiến này là sách Hoài Nam tử của hoàng thân nhà Hán là Hoài Nam vương Lưu An, sống sau thời Tần trên 50 năm. Lưu An lý giải nguyên nhân Nam tiến của vua Tần: [nhà Tần] lại ham sừng , ngà voi , lông trả, ngọc châu và ngọc cơ của người Việt, bèn sai Đồ Thư mang 50 vạn binh chia làm 5 đạo
    Cuộc chiến chia thành hai giai đoạn:
    Giai đoạn 1: Quân Tần thắng thế, chiếm đất, thêm ba quận mới. Các tộc Bách Việt gồm: Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt... bị đánh bại và dần bị đồng hóa.
Giai đoạn 2: Khi tiến sâu xuống phía Nam, quân Tần bị người Âu Việt chống trả mạnh và thất bại nặng nề.
   Quân Tần cướp Nước Việt
    Các sách Tàu Sử ký Tư Mã Thiên Hoài Nam tử xác định thời gian Tần Thủy Hoàng phát binh đánh Bách Việt khoảng năm 218 - 217 TCN. Cuộc chiến tranh Tần- Việt "kéo dài 10 năm" kết thúc năm 208 TCN.
    Quân Tần do Đồ Thư- Tổng chỉ huy. Trong đó, có Sử Lộc là tướng người Việt, từng làm chức Ngự sử giám của nhà Tần, vốn thông thạo đường xá, sông núi nước Nam.
    Theo Hoài Nam tử, 50 vạn quân Tần chia làm năm đạo.
    Đạo thứ nhất, đóng ở đèo Đàm Thành, thuộc đất Thủy An trên núi Việt Thành- Ngũ Lĩnh, trên đường từ Hồ Nam xuống đông bắc Quảng Tây.
Đạo thứ hai, đóng ở ải Cửu Nghi, ở phía đông bắc QuảngTây giáp Hồ Nam.
Đạo thứ ba, đóng ở Phiên Ngung.
Đạo thứ tư, đóng ở Nam Dã.
Đạo thứ năm, đóng ở sông Dư Can.
    Đạo quân thứ nhất và đạo thứ hai, tiến sâu về phía Nam, vào Quảng Tây là địa bàn của người Tây Âu, hay Âu Việt (thuộc Bách Việt)
    Đạo thứ ba, đóng ở Phiên Ngung thuộc Nam Việt ( Quảng Đông), đi theo đường Trường Sa vượt Ngũ Lĩnh đến Quảng Đông.
    Đạo quân thứ tư, và đạo thứ năm, tạo thành hai cánh quân đánh Đông Việt (nam Chiết Giang) và Mân Việt (Phúc Kiến). Sau đó hai đạo quân này cùng đạo quân thứ ba, tụ ở Phiên Ngung, hội với đạo quân thứ ba, đánh chiếm đất Nam Việt, lập quận Nam Hải.
    Trong khi ba đạo quân nói trên tác chiến, đạo quân thứ nhất và thứ hai ngược sông Tương bắt nguồn từ Ngũ Lĩnh, nhưng đến đầu nguồn, không có đường thủy để chở lương sang sông Ly (tức sông Quế)- vùng nội địa Quảng Tây. Đồ Thư sai Sử Lộc mang một số binh sĩ đi làm cừ để mở đường lương. Đường cừ Sử Lộc mở, được xác định Linh Cừ hay kênh Hưng An nối liền sông Tương (tức sông Quế) nay vẫn còn.
   Dân Việt quyết đánh thắng
    Trong khi ba đạo quân tiến đánh vùng Mân Việt, Đông Việt và Nam Việt khá thuận lợi, và hoàn thành mục tiêu, đạo quân tiến vào Ngũ Lĩnh gặp rất nhiều khó khăn. Liên tiếp trong 3 năm (218 – 215 TCN), quân Tần vừa phải đào kênh, vừa phải đối phó với sự đánh trả khá mạnh của người Âu Việt. Trong ba năm đó quân Tần liên tục phải tác chiến "không cởi giáp dãn nỏ”.
    Nhờ có Linh Cừ, quân Tần tiến theo sông Quế vào lưu vực Tây Giang là địa bàn người Tây Âu (thuộc Bách Việt). Tại đây, quân Tần giết thủ lĩnh người Tây Âu là Dịch Hu Tống.
    Dân Việt không đầu hàng, bầu thủ lĩnh khác lên chỉ huy cuộc chiến chống Tần.
    Năm 214 TCN. Quân Tần chiếm được đất Lục Lương, lập ra hai quận Quế Lâm và Tượng (quận Nam Hải thuộc Lục Lương, do đạo quân thứ ba đánh chiếm). Từ đây, Đồ Thư tiếp tục thúc quân về phía Nam. Quân Tần theo sông Tả Giangsông Kỳ Cùng tiến vào vùng đất của người Âu Việt.
    Dịch Hu Tống tử trận. Để tránh thế mạnh của quân Tần, người Việt rút vào rừng sâu, chọn bầu thủ lĩnh mới chống Tần đến cùng. Thục Phán được bầu, cùng dân đứng lên diệt Tần. Quân Tần truy kích, vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ. Người Việt đánh tập kích bất ngờ và dùng cung nỏ bắn Tần, làm chết nhiều binh lính Tần.
    Cuộc chiến chống Tần của người Việt kiên cường, liên tiếp nhiều năm. Quân Tần tấn công, không hiệu quả, dần dần hết lương thực, đói khát, muốn tiến hay lui đều bị người Việt bủa vây đánh úp.
    Sử ký Tư Mã Thiên mô tả tình trạng quân Tần:
    Đóng binh ở đất vô dụng… Tiến không được, thoái không xong. Đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta phải thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau…”
    Khi quân Tần bị nguy khốn, người Việt tổ chức tấn công, giết tướng Đồ Thư. Quân Tần thua nặng.
    Hoài Nam tử viết: "Thây phơi, máu chảy hàng chục vạn người"
    Tại Trung Nguyên, Tần Thủy Hoàng qua đời, Tần Nhị Thế kế vị. Các nước Sơn Đông nổi dậy, đòi nhà Tần chia đất nước. Cuộc chiến xâm lược Bách Việt thua thảm hại, Nhị Thế buộc phải ra lệnh bãi binh năm 208 TCN.
    Bài học Thánh Gióng- Sức Mạnh Lòng Dân
    Các sử gia Tàu công nhận: Người Việt “Đại phá quân Tần”.
    Sử ký Tư Mã Thiên, Hoài Nam Tử đã mô tả cuộc chiến tranh Tần- Việt, đánh giá người Bách Việt thắng quân Tần bởi lòng dân Việt muôn người tụ hội, cùng núi sông, biển trời, đồng ruộng hợp sức mạnh vô địch.
    Lòng dân quyết định đánh giặc Tần giữ nhà, giữ nước, dù các thủ lĩnh đầu hàng, hoặc hy sinh.
    Trước thế mạnh ban đầu của quân Tần “Người Việt đều vào rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt” (Hoài Nam Tử).
    Các sử gia Tàu phân tích người Việt bỏ trốn”. Đó không phải là một cuộc chạy trốn vì khiếp sợ, thất bại, mà trái lại, là một cách đánh giặc. Người Việt rút vào rừng là để tránh thế mạnh lúc đầu của quân Tần. Họ không muốn đánh lớn, không tổ chức quyết chiến khi chưa có lợi. Trong lúc đó “Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần” (Hoài Nam Tử).
    Đây là cuộc chiến đấu kiên cường, bất khuất, thông minh, có tổ chức. Người Việt biết dựa vào cơ cấu xã hội các chạ- chiềng, các bộ lạc sẵn có của mình, biết tận dụng địa hình núi, rừng, sông, suối, đồng đất, vũng lầy, ao hồ, để kiên trì cuộc chiến đấu lâu dài. Họ tổ chức đánh nhỏ, đánh lén, đánh ban đêm nhằm tiêu hao quân Tần. Họ triệt nguồn cướp lương thực của giặc, dồn chúng vào cảnh chết đói, chết bệnh.
    Giặc Tần càng ngày càng bị dồn vào tình trạng căng thẳng, nguy khốn đến tuyệt vọng.
    Lúc đó, người Việt tập hợp lực lượng, tổ chức đánh lớn nhằm tiêu diệt sinh lực Tần. Kết quả người Việt đã “ đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư”. [Quân Tần] thây phơi máu chảy hàng chục vạn người’ ( Hoài Nam Tử). Năm 208 TCN, nhà Tần phải bãi binh.
    Bài học Thánh Gióng- Sức Mạnh Lòng Dân & Sức Mạnh Tâm Linh Việt từ cuộc chiến tranh Việt- Tần đầu tiên ấy- trả lời câu hỏi tại sao hơn hai nghìn năm qua, người Việt đã kiên cường, bất khuất, đánh trả những cuộc xâm lược lớn của Bắc phương để Sông núi nước Nam- Dân Nam ở.
Cớ sao lũ giặc tới xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!
(… Còn tiếp ...)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 11.8.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn