Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





BÀ NGOẠI




Bữa cơm có đĩa cá kho, đĩa tôm rang thịt, đĩa rau muống luộc xanh ngắt và bát tộ nư­ớc rau vắt trái quất thơm nức. Bà Quí lần l­ượt đơm cơm cho ông Thảo và ba đứa cháu ngoại. Cu Mỹ gắp một miếng rau chấm vào bát mắm cáy:

-Bà ơi! Cháu chỉ thích ăn thế này!
-Phải ăn nhiều thứ cho đủ chất mới thông minh. Ngữ này theo ông s­ư Tuân chùa Giữa Đồng thôi cháu ạ! Thịt cá không màng, làm sao lớn được mà học? Yếu ớt, bệnh tật lại phải nhờ bệnh viện, tiền mất tật mang.
-Cháu vẫn lớn đây bà. Đến vai mẹ cháu rồi nhá!...
-Bà ơi! Đi bệnh viện chúng cháu đã có Bảo hiểm y tế!
-Bảo hiểm mới là một chuyện. Còn nhiều thứ phiền hà khác! Còn cái Hồng với cái Hoè nữa, chưa chi đã đứa sợ béo, đứa giữ eo. Các cháu xem mấy đứa hàng xóm, cu Tuấn, cu Tòng, cái tí Nhung đấy, chúng ăn cứ như­ “hùm đổ đó”…
-Bà trông thấy hùm nó đổ đó bao giờ chư­a? Cháu chẳng mất nết thế đâu... Con Hồng cười nhe hàm răng sún trêu bà: Thịt lợn bây giờ, cháu thấy bà bảo người ta nuôi toàn bằng các chất kích thích, ăn vào dễ mắc bệnh...
-Bà ơi, chỉ có thằng trộm hôm nọ nó đổ đó tôm nhà cháu thôi! Cu Mỹ tiếp lời cái Hồng. Bà Quí chả biết giải thích thế nào nữa đành mắng yêu chúng:
-Cha tổ bay, chuyện nọ xọ chuyện kia. Thịt đây là thịt ngon của hàng cô Đầm cân từ con lợn nhà bà Thanh nuôi bằng rau cám thật. Chịu khó mà ăn đi. Kẻo gầy ra, mẹ chúng mày về lại trách bà!                                      
Bỗng điện thoại reo reng reng. Đã con mẹ mày. Lại hỏi han ăn uống, học hành thế nào đây. Đến khổ với chị em chúng bay! Bà lập cập lên nhà trên. Quả đúng như­ bà đoán. Chị Hiền, mẹ của con Hồng, con Hoè từ TP Hồ Chí Minh gọi về. Bà ấn nút loa để nghe to và rõ hơn. Bọn trẻ xúm lại quanh cái điện thoại: -Con chào mẹ! -Cháu chào bá Hiền! Chúng con nhớ mẹ lắm! Tiếng Hiền vẳng lên nhẹ nhàng, trong vắt: “Bố mẹ và các cháu khoẻ không? Tình hình các cháu thế nào, mẹ ơi!”
-Ngoan và học được. Chỉ tội chúng chẳng chịu ăn. Cứ phải ép như­ ép dầu ép mỡ. Theo dõi nh­ư bác sĩ theo dõi bệnh nhân ấy... “Một tuần nữa, giáp Tết con mới được nghỉ. Tiện thể có người bạn về quê sớm, con gửi biếu bố mẹ hai hộp sữa chống loãng xư­ơng và các cháu mấy bịch sữa dinh dưỡng. Bố mẹ đã nhận được chưa?” -Nhận được rồi! Từ hôm kia! “Bố mẹ và các cháu siêng uống vào cho khoẻ nhé!” -Thôi! Tiết kiệm, chắt bóp thành khoản để nuôi chúng nó ăn học lâu dài. Phần bố mẹ, các con không phải lo. Chúng tao còn cứng cốt cứng gân...
Đứng phơi cái giẻ lau ngoài hiên, ông Thảo nói vọng vào:
-Đến lạ cái bà này! Bao giờ cũng đăm đăm cháu ngoại. Không biết mai mốt có cháu nội thì thế nào?... Cuộc gọi kết thúc. Bà Quí hạ điện thoại:
-Cháu nào chả phải lo hở ông? Nư­ớc mắt chảy xuống. Nội ngoại đứa nào cũng là máu mủ nhà mình! Chợt có tiếng cu Mỹ khóc sấm sướt dưới nhà bếp. Qua hàng hiên bà thấy hai chị em cái Hồng luống cuống, tụm vào một góc. -Thoáng cái vừa quây túm ở đây, sao đã khóc thế hở cu Mỹ?
-Các chị ấy cho cháu mỗi một bịch sữa! Chị Hồng bảo của mẹ chị ấy chứ không phải của bố mẹ cháu...
-Lại phải Bao Công xử án đây! Bà liền xuống bếp: -Nín đi cháu! Con giai không nên khóc nhè. Hồng, Hoè như vậy là sai. Bà đã dặn rồi. Mẹ các cháu gửi về ít sữa làm quà, chia đều cho các em, không được phân biệt đối xử. Con dì con bá như lá một cành. Hai chị em cháu là khúc ruột trên, cu Mỹ là khúc ruột dưới. Chia cho em thêm một bịch đi. Kẻo bà buồn lắm!... Bà giảng giải, giọng ôn tồn, xúc động: -Trước đây trong mái nhà này, chị em mẹ các cháu rất thương yêu nhau. Từ nhỏ chí lớn không bao giờ các dì các cậu biết đến câu chửi hay chí choé nhau. Lớn lên mỗi người một phận, vẫn yêu quí nhau. Bây giờ các cháu cũng phải noi gương, sống với nhau như thế chứ! Ngay cả anh em ruột bên nội bên ngoại của ông bà đây, thuở bé cũng chẳng hề xích mích chi nhau. Nhà ông bà ngoại cũng là nhà của các cháu. Sống đâu tu đấy. Phải để tình thương cho nhau mới là cháu của ông bà... Con Hoè kéo tay con Hồng:
 -Tại chị ý... xin lỗi bà đi! Con Hồng khoanh tay lí nhí xin lỗi.
-Như thế mới xứng là liền chị. Bà cười vỗ vai từng đứa: -Thôi, bây giờ tranh thủ ngủ trưa để dậy đi học chiều. Mai nghỉ thứ Bẩy, mỗi đứa một việc. Con Hồng đánh vi tính bản thảo cho ông, con Hoè cọ nhà tắm, cu Mỹ quét nhà, rửa ấm chén. Kể ra, ông bà làm một nhoáng xong ngay. Nhưng bà phân công các cháu để các cháu biết việc, biết quí mồ hôi, công sức lao động. Không nhỡ mai ngày lớn lên, con trai dài lưng, con gái õng ẹo, người ta cắm cờ đầu ngõ! Ông bà xấu hổ lắm!...
Cu Mỹ là đứa cháu ngoại đầu tiên ở với ông bà. Bố mẹ nó làm đầm nuôi tôm bên Hà An, vẫn còn nhiều khó khăn. Chúng gửi con cho ông bà từ lúc thằng bé còn ẵm ngửa. Cu Mỹ chỉ dở ốm đau, sài đẹn. Trở mùa khô hanh hoặc giêng hai ẩm ­ướt là thằng bé ho trợn cả mắt mũi, rồi sốt liên miên. Bà Quí thường phải trắng đêm ôm cháu. Nó như­ cái máy đo thời tiết, đang chơi hễ sắc mặt thay đổi, thúng thắng ho là y rằng trời có chuyện. Mà lại cảnh ăn nữa chứ. Con giai gì ăn uống như­ mèo. Qua đ­ược đoạn sài đẹn,  “bảy ngày ba bão” đến lúc cắp sách tới trường lại lo ra đường xe pháo láo nháo, tai nạn bất ngờ. Cu Mỹ lên bẩy thì ông bà lại nuôi tiếp cái Hồng, cái Hoè, con chị Hiền. Vì vợ chồng chia tay, Hiền dắt con về ngoại. Chúng đang tuổi chơi tuổi học, đứa lớp bốn, đứa lớp ba. Hiền phải xin thủ tục chuyển trường cho chị em nó sang bên này. Để bên ấy ai nuôi? Trước kia cực nhọc nuôi con. Chỗ ướt chưa ráo. Bây giờ bà Quí lại nuôi cháu. Tự đáy lòng, bà cốt ăn ở để đức để nhân. Vất vả bà không ngại. Chỉ lo chúng yếu ăn, thất học, lại mang tiếng ông bà ngoại không biết chăm nom.
 
Xinh đẹp, hiền lành, chịu khó, Hiền sớm đoan trang, yểu điệu thục nữ trong đám con gái xóm Bờ ốc. Bà Quí mừng đấy vì con có sắc, có nết. Nhưng lại lo đấy vì phận gái đâu chỉ mười hai bến nước! Nhà có con gái lớn, khách lui tới, chó sủa mỏi răng. Nhiều chàng trai đến nhòm ngó. Ngư­ời có thuyền vận tải, kẻ có tàu chạy hàng đi Trung Quốc. Ng­ười nghề thợ mộc, kẻ kéo l­ưới ngoài sông. Họ đều là con cái nhà tử tế, biết làm ăn. Vậy mà không chàng trai nào hái đ­ược bông hoa đẹp nơi xóm nhỏ này. Hiền lại rơi vào tay thằng Điểu dưới xóm Đìa làng Giữa. Đầu tiên trông hắn bảnh trai trong bộ quần áo sơ mi là nuột nà đi gặt lúa cho chị gái hắn. Ruộng chị gái hắn gần ruộng nhà Hiền. Nhác thấy Hiền, hắn đã chết mê chết mệt và rắp tâm làm quen.                                                      
Điểu chiếm đoạt được Hiền bằng một cú đe doạ: -Nếu không lấy tôi, ngõ nhà cô sẽ bị phong toả, đố thằng nào bén mảng tới! Điểu rút ra một con dao nhỏ sáng loáng: “Đứa nào yêu Hiền phải bước qua xác thằng này!” Hiền về mếu máo. Con gái đầu lòng, ông bà Quí không khỏi bàng hoàng lo lắng. Y rằng chàng trai nào đến nhà Hiền, Điểu cũng gây gổ, đánh ghen ầm ĩ cả xóm láng. Non dại và yếu bóng vía, Hiền đành dấn thân vào bến đục cho yên. Ông bà chỉ còn cách dặn con: -Thôi! Số sao chịu vậy! Lấy đức mà trị. Hãy học các cụ xưa “Giết chó dạy chồng” con ạ! May ra...
Hôm đám cưới, Điểu vẫn còn tham gia một vụ đánh nhau. Đến giờ đón dâu cũng không thấy chú rể đâu. Hiền rất buồn chán và ân hận. Khi bước chân về nhà chồng, Hiền mới vỡ lẽ mình bị rơi vào một gia đình “cứt lộn lên đầu”, anh em trong nhà đánh chửi nhau như mổ bò. Trước đây, họ một thời lang bạt đầu gành cuối bãi. Một cái nhà không mái quanh năm nổi trôi trên mặt nước. Ông bố tục tợn với bà mẹ đanh đá cầm đầu bảy, tám đứa con từng làm mưa làm gió trên các ngả đường sông vịnh Hạ Long. Hết kéo lưới, chặt củi, vét than xà lan, lại buôn bán cá tôm, “đánh quả” hàng trên “tàu tây”. Giăng lưới chặn lối tàu thuyền cho lưới rách để ăn vạ. Nửa đêm kêu cướp cho mọi người đổ đến, rồi mấy thằng con lẻn đi cắt “vịt” cá của bọn dấm cá bống… Là những ngón nghề lừa đảo của họ. Hễ có sự là đám trẻ tau nhau bu lại đứa giành giật, đứa hôi tát khiến nhiều đoàn tàu thuyền, đoàn xà lan chở hàng qua đây phải khiếp vía. Thoáng cái có thể bị chúng móc hàng và bị hành hung, gây sự... Mãi đến khi công an đường sông truy quét, ráo riết làm sạch môi trường an ninh trên biển để vịnh Hạ Long thành Di sản thế giới, cha mẹ Điểu mới đưa lũ con cái nhảy lên bờ, chấm dứt thời mưa gió du thủ du thực.
Không đọc hết mặt chữ, nhưng Điểu lại học mót cực giỏi như một con vẹt. Chỉ nghe ng­ười ta nói, ng­ười ta hát, hoặc nghe đài là hắn có thể nhớ lời, nhớ bài hát nh­ư in. Hắn có khoa thao thao bất tuyệt. Đám bạn trong xóm phục lăn Điểu “nói cứ như­ đài, còn hay hơn cả đài!”. Điểu lười biếng, dày ăn mỏng làm, suốt ngày đầu tóc óng mượt “quân tử nhất bộ” la cà cờ bạc, rượu chè, chán ra lại vào mấy quán karaoke hát ra rả, rồi thuê băng chưởng, băng mát về xem tối ngày. Hiền có nói thì Điểu lại ném ghế, quăng mâm. Mùa gặt, độc một mình Hiền bụng mang dạ chửa đập hết sân lúa đến nửa đêm. Gà mới gáy đã bò dậy nấu cơm sắp liềm hái, cày cuốc, cho lợn gà ăn sớm để ra đồng. Con bé Hồng lọt lòng chưa đoạn cữ, Hiền đã phải lội bùn để theo kịp thời vụ. Vẫn biết gái đẻ làm non sẽ hậu quả sau này. Nhưng không làm thì ai làm cho? Chả lẽ lúa chín để gục ngoài đồng? Chả lẽ bỏ mạ ra lá xanh om cả giành? Có lần, cơn mưa bất ngờ ập đến, Hiền bỏ việc chạy về. Sân thóc chềnh ềnh, sũng nước. Điểu vẫn điềm nhiên ngồi xem băng chưởng. Uất nghẹn tận cổ, Hiền vừa kéo chang xúc thóc vừa khóc không ra tiếng. Một chốc sau, đám ốc bươu do Hiền mò về định sớm mai đem ra chợ bán cũng bị Điểu đem luộc tiếp mấy thằng bợm rượu... Say rượu, Điểu nôn mửa đầy nhà. Hiền lấy muối xát hai gan bàn chân rồi nghe chị Ngà bảo, thả viên C sủi vào cốc nước cho chồng uống. Bỗng Điểu tỉnh queo, cầm cốc nước quẳng ra sân, chửi té tát: “Tiên sư mày dám pha thuốc ngủ cho ông chết à? Cho mày đi lấy thằng khác à? Bố mày không chết đâu nhá! Còn sống để hưởng mùi đời, để trị mày tới số!” Hiền không dám kêu với mẹ. Nhưng chuyện con gái đẻ làm non vẫn đến tai bà Quí. Thương con đứt ruột, bà bỏ cả việc nhà đang lút mắt chạy đến đỡ đần. Giận thằng rể lắm. Nhưng sợ nó sẽ hành hạ con gái, bà đành ngậm bồ hòn. Rồi biết bao tin dữ: Thằng Điểu đánh cô Hiền khi cô Hiền ra can nó gây sự với ông trưởng thôn... Thằng Điểu dìm vợ xuống sông thừa sống thiếu chết khi bữa cơm không có rượu uống... Thằng Điểu thua bạc, về vòi tiền, vợ không có, đang gầm cả ông bà ngoại lên chửi... Nó chửi thì gió bay lên trời. Xóm láng nghe hộ. Nhưng nó đánh con gái bà thì bà đau quá, như nó cắt vào gan ruột bà. Ngần ấy đứa con, dạy bảo, có bao giờ bà nỡ cầm đến cái roi? Bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu rồi con ơi! Hai mặt cháu gái ra đời, không khỏi tay bà nâng giấc. Bà chăm con, chăm cháu trong dòng nước mắt chảy ngầm. Hiền chịu đựng. Bà chịu đựng. Sợi dây tình cảm giữa ông bà với chàng rể ngày một căng ra. Điểu là thằng đổ đốn, không có đầu óc nghĩ suy. Nó thường bắt vợ lên nhà ngoại vay tiền, vay thóc. Nhiều lần Hiền phải nói dối ông bà: “Con vay để sắm lưới cho nó đi làm!” Nhưng lưới chài nào? Tiền bà đưa, lại như gió vào sòng bạc, vào hàng thuê băng hình. Nói là cho vay, chứ biết đến bao giờ một cắc trả lại? Có mà đơm gió ngọn tre! Giá nó quịt để nuôi vợ con nó, lọt sàng xuống nia cho cam. Khốn nạn, nó lại đem biếu các bố giời ơi đất hỡi...
Một hôm đang xem ti vi đến đoạn kết của một bộ phim Hàn Quốc, con bé Hồng vô tình hỏi Hiền: “Người bố bét rượu về sau thế nào hở mẹ?” Hiền cũng vô tình đáp: “Mẹ vừa ngoài đồng về, mới kịp nhìn một đoạn, chưa biết đầu cua tai nheo gì. Hỏi bố ý”. “Hỏi hỏi cái gì? Say say cái gì? Tiên sư con mẹ mày!” Con Hồng bị ăn liền mấy cái tát nổ đom đóm mắt. Hiền đứng dậy can ngăn, che chở cho con. Điểu liền đạp vợ xuống đất, đá túi bụi vào mạn sườn, vào ngực. Con hư tại mẹ này! Cháu hư tại bà này!... Trận mưa đòn không biết kinh tay trút lên đầu Hiền. Lũ con khóc toá loả. Quá mù ra mưa, bố mẹ, vợ chồng anh em nhà Điểu ở ngay quanh đấy đã nhàm sự, cũng chẳng thèm ngó tới. Hàng xóm đổ sang thì Hiền đã bất tỉnh. Trán sưng vù, vỡ toác cả đầu gối. Bận đó, Hiền bị chảy máu dạ dày, phải nằm viện mất một tháng.
Xem băng hình lắm, Điểu đâm như kẻ hoang tưởng. Điểu coi thân xác vợ là một cái bao cát để thực hành đấm đá như các nhân vật võ lâm trong “phim chưởng” Hồng Kông. Không thể chịu được nữa, Hiền quyết định làm đơn ly dị. Bố mẹ chồng can ngăn: “Trời còn phải chịu đất. Trót đa mang thì cố chịu con ạ!” Nhưng, thằng Điểu nổi máu sĩ diện: “Ông bà mặc nó, cho nó lắm chữ!” Điểu hăng máu ký roẹt vào đơn. Bệnh sĩ chết trước bệnh tim. Không trách có lần mượn xe máy đèo Hiền đi cho oai, bị ngã trước mặt mọi người, nó hoắm mắt quát vợ: “Đang đi lại đẩy bố mày xuống ruộng!”... Toà gọi sang cắt đứt. Trước toà, Điểu cao giọng: “Không cần dài dòng! Cô nhận đám trẻ! Hàng tháng tôi sẽ gửi dăm trăm, một triệu về cho cô nuôi con. Đây quân tử nhá! Cô sẽ tiêu tiền phát cáu!” Hiền bấm bụng cố nén nỗi cay đắng, khỏi bật cười xấu hổ thay cho loại người “trăm voi…”! Hiền cần thoát khỏi cái cùm man rợ của hắn chứ cần gì đồng tiền của kẻ phét lác không biết ngượng mồm! Hiền chỉ cần những đứa con. Gà mái ấp lấy con mình. Khi ông bà Quí biết chuyện thì sự đã rồi. Đành lòng vậy. Bà chẳng bao giờ muốn nhìn cảnh chia loan rẽ thuý, chỉ khổ con trẻ đang cơ ăn cơ ngủ, chỉ tổ dở dang đời con gái bà. Bà tiếc cho cái công Hiền và ông bà đã cố đắp điếm, vun tròn mà không sao tròn được. Coi như đốt rể đầu chẳng còn ý nghĩa gì nữa trong gia tộc ông bà! Bà sửa soạn giường chiếu đón các cháu về:
-Ông ơi! Cây măng phải trú nơi yên lành gió bão!
-Bà nghĩ thế là phải! Thời nào nhà ta cũng cần người. Làm gì cũng phải có người! Trai hay gái, đã là con người thì đều là báu vật của Tạo Hoá, là lộc của Trời Đất. Mà đã là lộc, là báu vật, thì mình phải yêu quí, nâng niu...

Bà Quí ngồi thần người bên thúng gạo nếp mới xát. Mùi gạo thơm nồng nàn khắp căn nhà. Hương vị Tết đến nơi. Thấm thoắt đã mười năm Hiền tuột khỏi tay bà. Mười năm bị cướp mất tuổi xuân, Hiền như con nhái bén. Nay về với bà, Hiền đã nở nang trở lại. Nhưng rồi, lo cho tương lai đám trẻ, Hiền phải gạt nước mắt gửi con cho ông bà, để đi làm xa. Mấy năm nay bão lũ liên miên. Năm ngoái, cả làng cả tổng di tản chạy cơn bão số 7, ông bà phải dắt díu ba đứa cháu cùng đám trẻ xóm sang nhờ người nhà bên thị trấn. Năm nay bão lại hoành hành miền Trung. Ngoài biển ngư dân bị cuốn, trong bờ nhà cửa đổ tan hoang. Vùng mình thì tôm cá thất thu, mùa màng phát sinh lắm chuột bọ, sâu bệnh. Ba sào giống mới vừa loe cổ đòng, chuột phá tan tành. Năm sào Khang Dân trỗ lên mướt mượt đã khấp khởi mừng, ai dè bị nhiễm sâu đục thân, bay trắng cờ lau. Bên đầm tôm, bố mẹ cu Mỹ cũng bẫng tay. Trời đất bây giờ lạ thật, hết sự nọ đến sự kia. Tháng mười mà sấm chớp đùng đùng. Mưa đá từ đâu ném xuống. Ti vi lại đưa tin: lốc cuốn bất ngờ đổ bộ thành phố Hạ Long, bẻ gãy cả cần cẩu cảng Cái Lân... Bè gỗ chưa xong, bè dong đã tới. Lại khó khăn lắm đây! Bà không dám điện cho con gái biết ở nhà mất mùa, kẻo nó lại buồn và đâm lo. Nó cũng y bà cái tính cả nghĩ, có sự là trằn trọc thâu đêm. Cũng đời con gái, mà mỗi người như một hạt mưa. Hồi trẻ bà cũng xinh đẹp có tiếng nhưng gặp được ông Thảo đã hiền lành, đức độ, lại tài hoa thơ phú văn chương... Còn Hiền, mặt hoa da phấn lại lọt vào tay thằng quỉ sa tăng. Cũng là đời rể, ông Thảo khiến bên ngoại mát lòng mát dạ, danh giá bao nhiêu thì thằng Điểu lại làm ông bà thất vọng và tủi hổ bấy nhiêu! Nó còn rêu rao khắp nơi nhờ mưu mẹo mượn nhẫn, mượn dây chuyền vàng về đeo đầy tay đầy cổ mà nó cưa đổ được con Hiền! Nghĩ hận thằng rể, bà càng thầm cảm phục ông Thảo. Nâng chén nước, bà mời ông:
-Dù mất mùa, mình cũng phải cố lo cái Tết thật đàng hoàng cho mẹ con chúng nó có nồi bánh chưng đêm Ba mươi! Ông tính, con Hiền từng than với tôi ngần ấy năm trời về nhà chồng không hề biết nồi bánh chưng đợi giao thừa là gì. Chồng đi đằng chồng. Cha mẹ, anh em mỗi người một mặt. Có khổ đời nó không? Bà quệt giọt lệ ứa ra: -Ông ạ! Vụ này chắc là không sợ thằng H5N1? Tôi mới đặt mua được mấy con gà Tiên Yên để dự trữ đón khách ngày xuân. Bà cô chú bác nội ngoại, khách khứa mình, rồi bạn bè các con các cháu...
-Bao giờ bà cũng là người chu đáo! Ông Thảo hạ quyển sách đang đọc xuống bàn, quay ra: -Sợ bà buồn, tôi chưa kịp nói với bà. Lúc nãy thằng Điểu nó điện về...
-Sao? Nó bảo sao? Còn biết tiếc cái tép đồng ta cơ à?-Nó xin Tết được đến thăm các con nó...
-Đạo đức nhỉ? Đúng là kỳ đà chết giả!
Từ dạo ly hôn, thằng con rể lặn bặt tăm luôn cùng mấy lời hứa suông trong toà án. Bà cũng chẳng cần gì. Chỉ cần nó đừng làm bà thức dậy nỗi đau đớn, ê chề. Đừng để lần nữa thấy nó, bà thêm xấu hổ với xóm giềng. Bà đã vùi sâu nó vào dĩ vãng. Trước mắt bà chỉ còn các con, các cháu, những bông hoa bà nguyện chăm sóc cho nở sắc khoe hương trong ngày mới. Bê thúng gạo nếp vào buồng, bà dõng dạc: -Tốt nhất nó đừng vác mặt đến đây! Ông chuẩn bị cho tôi cái xẻng!...
Là chị của tám đứa em, mới chín, mười tuổi, Quí đã theo mẹ ra rừng sú vẹt chặt củi, bắt cáy còng, rồi leo núi lên tận Quảng La, Vị Loại mua sắn nương gánh bộ hàng chục cây số về ăn độn. Quí nổi tiếng bắt cáy giỏi trong làng. Sang tháng tám khi gió heo may rải khắp đồng là mùa soi cáy bắt đầu. Mới xế chiều mẹ con Quí đã cùng bầy soi cáy chèo thuyền ra bãi Hoàng Tân cắm sào đợi nước giọt. Đêm xuống, mải mê nhặt cáy đến tận hừng đông. Hết năm ngày con nước, lại cặm cụi giã, ủ được hàng chục thảm mắm cáy. Mẹ con chở mắm bằng thuyền nan ngược sông Rừng, sông Đá Bạc, qua sông Kinh Thầy lên các tỉnh miền trên đổi lấy thóc gạo, đậu ngô... Ban ngày máy bay Mỹ rèn rẹt trên đầu, phải vừa nép vào những rặng cây vừa kéo thuyền đến sã vai. Ban đêm lại thức trắng chèo thuyền tưởng bửa ngực mới đến nơi.                                              
Đêm ấy. Mảnh trăng non như hạt thóc mắc trên nền trời. Mặt bãi láng phù sa như tấm gương mới tráng còn ướt nháng. Gió hiu hiu lướt qua cánh rừng. Sóng vỗ nhẹ thầm thì, xa ngái. Cáy lên hóng gió đùn bọt la liệt như ai đổ xuống đầy một bãi sỏi kêu rào rào, tanh tách. Âm thanh rộ lên. Bãi triều lấp lánh muôn giọt li ti như một nồi cơm khổng lồ đang sủi khi giòn lửa. Cáy dâng mỗi lúc một nhiều. Giá có cái chổi cũng có thể quét được! Quí vừa lội vừa nhặt nhanh tăm tắp. Chiếc đèn bão treo trên ngọn sào làm tín hiệu nơi thuyền đậu đã khuất mấy cánh rừng. Chiếc giọng tre to đùng đeo bên hông và chiếc giành kéo theo sau lưng đã đầy ắp cáy.
Đang hí húi, Quí giật mình vì tiếng gió và sóng ồn ào ngay trước mặt. Thuỷ triều lên! Cô vội vã tìm đường xuống thì nước đã bò lênh láng bãi, ngập bắp chân. Ngọn sú vẹt chìm dần. Chết đuối đến nơi mất rồi! Quí hốt hoảng khóc oà gọi mẹ vang rừng:
-Mẹ ơi... cứu con với... Mẹ ơi!... cứu con với... Buộc thòng sợi dây giữ cho chiếc giỏ và chiếc giành đựng cáy trôi nổi đằng sau, cô trèo lên một cành cây đước hú gọi đến khản cổ: -Có ai không? Cứu tôi với... Tôi ở đây! Mẹ ơi... Con ở đây...
Nước lên nhanh quá. Cả bãi triều cùng cánh rừng biến mất. Đêm cũng vọng lại tiếng người gọi tìm, nhưng bênh bông mãi đẩu đâu. Bỗng có tiếng mái chèo ràn rạt cùng tiếng hỏi:  -Ai đó? Đâu... ở đâu...? Quí reo cuống quít:
-Đây, đây! Tôi đây! Chỗ cây đước này! Chiếc thuyền nan lao tới. Một chàng trai! Quí nhảy ào xuống lòng thuyền. Chàng trai buông chèo, đỡ lấy cô. Con thuyền tròng trành suýt lật:
-ấy, nhẹ thôi! Nhảy mạnh thế?
-Hú vía! Mải quá, nước lên mà em không biết! Vô tình, hai người ôm chặt lấy nhau. Hơi thở hai người toát ra nóng hổi vào mặt, vào tóc nhau. Hai quả tim như hai cái trống làng đập cạnh nhau. Một thoáng ngượng ngùng. Họ thấy vai nhau ướt sũng sương đêm. Chàng trai xoay mũi thuyền. Con thuyền thoăn thoắt lướt trên ngọn rừng về phía tiếng bầy thuyền đang gọi vẳng lại. 
-Mải mê gì mà đến nỗi...? Thấy tiếng gọi, biết là có sự, tôi liền chèo mò theo. Đêm nhiều sương nên trời mờ quá...
-Tẹo nữa, không có anh có khi em thành mồi cho Hà bá.
-Biết đâu lại hoá nàng tiên cá nhảy lên...! Chàng trai cười hì hì.
-Đằng ấy chỉ khéo lãng mạn! Anh ở đâu? Cũng biết soi cáy cơ à?
-Cô tưởng vùng này chỉ có làng Me của cô biết soi cáy?
-Là em hỏi thế! Nhưng sao lại biết em làng Me?...
-Chim nghe tiếng hót, người nghe tiếng nói. Làng Me tiếng nói như chuông. Lại hát chèo hay. Chỉ mỗi tội nói cái rỗ thão với cái rỗ thề. Con tâu tắng nằm bụi te thanh... (cái rổ sảo với cái rổ sề, con trâu trắng nằm bụi tre xanh).
-Tài bắt chước! Nhưng anh xem, em có nói đặc sệt thế đâu?
-Không một thóc cũng một gạo. Nhưng đấy là tiếng đặc trưng của làng cô. Quê mình mỗi làng một thổ âm. Ví dụ, làng Lụa tôi nói ngọng, líu lô thành níu nô. Có người gọi con dao con rựa cứ dính bệt cả lưỡi vào răng.
-Còn hơn bọn ngoài phố. Hà Nội thành Hà Lội. Quảng Ninh thành Quảng Linh, nghe điệu chảy nước! Nom anh công tử thế sao phải ra rừng?
-Tranh thủ chủ nhật nghỉ học đi soi kiếm con ruốc, con cua...
-Anh còn đang học?                                                                                  
-Lớp mười!                                                                                           
-Thích nhỉ? Em chẳng được học nhiều như bọn anh... Nhà chắc ít người nên mới có điều kiện?                                                                           
-Cám ơn cô! Chín anh chị em! Nhưng tôi cố học!
-Ôi! Bằng nhà em!... Trùng hợp thế nhỉ?
Chàng trai ấy chính là ông Thảo. Thảo là con trai lớn một gia đình nho giáo vốn nền nếp gia phong. Từ bé, Thảo đã hiếu học và học giỏi, sớm nổi bật trong đám học trò trường Kim Bị. Tướng học trò, nhưng buông sách là anh cuốc ruộng, tát nước, nhổ mạ, gánh lúa không thua kém trai làng. Lại thêm nhiều tài vặt: vẽ tranh, viết báo, làm thơ... Sau đêm ngoài rừng bãi triều ấy, hai người tỏ ý yêu nhau. Tình yêu thật tha thiết. Thảo còn là trưởng tộc một chi ngãnh trong dòng họ. Quí về gánh vác sự nghiệp nhà chồng với biết bao lo toan nặng nhọc, công kia việc nọ. Nhưng tính Quí “xởi lởi giời cho”. Bao giờ người ta cũng thấy Quí tươi cười, coi mọi thứ nhẹ như không. Tổ ấm mỗi ngày thêm ríu rít tiếng trẻ. No đói, rau cháo có nhau, gia đình thật đầm ấm, hạnh phúc...

Con chó Lu sủa mấy tiếng rồi ngoáy tít cái đuôi. Bọn trẻ nhóm “Sân khấu học đường” lớp con Hồng kéo vào sân rối rít:
-Chúng cháu chào ông bà! Chúng cháu đến sinh hoạt câu lạc bộ đây ạ! Bà dạy tiếp bài “Lới lơ” cho chúng cháu hát đi... Bà Quí chợt tỉnh dòng ký ức. Chiều thứ sáu rồi a? Chỉ còn một tuần nữa là hết năm! Vất vả thì vất, bà vẫn là cây hát chèo chủ công của chiếu chèo làng Lụa. Tiếng hát chèo được bà mang về từ bên kia cánh đồng. Ngày ấy, đoàn Chèo của tỉnh về tận nhà tuyển Quí đi làm diễn viên. Nhưng nghĩ thương mẹ vừa lâm cảnh goá bụa, một mình nuôi chín đứa con, Quí đành từ chối và từ đó chỉ hát trong đội văn nghệ của làng. Giờ đây, bà truyền sang cho lớp con cháu để chúng nó giữ lại tiếng hát xưa...
Sáng nay bà Quí đi họp phụ huynh học sinh. Mấy đứa cùng lớp với cái Hồng reo to: -Bà ơi! Bà xem bài văn của bạn Hồng chưa? Bạn ấy viết về bà ngoại hay lắm! Hôm qua cô giáo đọc mẫu trước lớp. Hay ơi là hay! Về nhà, bà vội vàng hỏi cháu. Cái Hồng lục trong ngăn kéo rút ra một tờ giấy, ngượng nghịu đưa cho bà.
Cha tổ con Lọ Lem. Mỗi thế cũng đỏ rựng cả mặt lên! Ông ơi! Bài làm văn của con Hồng được điểm 9 đây này! Cháu bà giỏi quá! Mời ban giám khảo chấm giùm! Bà chuyền tờ giấy cho ông Thảo. Ông thong thả đọc: “...Bà ngoại em vất vả lắm. Bà đã một thời nuôi mẹ em, nuôi các dì các cậu em khôn lớn. Nay bà lại nuôi chị em em trong ngôi nhà ấm áp. Từ quyển vở, cái bút, từ mái tóc, tấm áo, từ bữa ăn, ngụm nước... Thứ gì bà cũng dành dụm, chăm bẵm cho chúng em. Bà ngoại là hình ảnh gần gụi, quá đỗi thân thương. Bà ngoại là diễn viên chèo, là Nguyên phi ỷ Lan bên cạnh ông em là Đức Vua. Bà ngoại là bà tiên từ cổ tích hiển hiện trong ngôi nhà và mảnh vườn trĩu đầy hoa quả. Trên đời chỉ chị em em có bà ngoại như thế này mà thôi...” Ông Thảo bỏ kính, lau khoé mắt: -Được đấy. Cháu ông tế nhị quá! Bài văn mộc mạc mang cảm xúc thật, hay hơn những bài văn trước. Ông mừng cháu có năng khiếu!... Con Hoè cũng giở sách ra khoe điểm chín, điểm mười. Cu Mẽ khoe chữ đẹp, sẽ được đi thi viết bên huyện. Bà Quí cười khen mà giọng rưng rưng:
-Các cháu cố gắng học giỏi. Cháu ngoại giống ông ngoại càng hay! Nghe bà nói vậy, ông Thảo bèn kể:
-Các cháu biết không? Nhà ta đây từ xa xưa, các cụ cũng đã mang ơn bên ngoại. Như cụ Bá Trân để lại bức đại tự “Thế Hữu Hưng” treo trên bàn thờ gian giữa kia kìa. Vợ cụ Bá là cháu ngoại được cụ huyện Nguyễn Huy Bích từng làm quan ở Hà Đông nuôi đến lúc trưởng thành. Cụ Bá được ăn học nên người, đậu cử nhân và từng làm chánh tổng tổng Hà Nam mình, là một phần nhờ ảnh hưởng của bên ngoại... Ba đứa trố mắt lắng nghe, liền tranh nhau:
-Học xong, cháu đi làm nhà thơ, nhà báo, nhà văn...
-Cháu làm ca sĩ, mang xe về đón ông bà lên Hà Nội xem “Tiếng hát Sao Mai”!    
-Cháu làm bác sĩ, làm cô giáo cơ... Ông Thảo ôm cả ba đứa:
-Cả nhà ta cùng làm “sĩ”! Bà Quí nguýt nhẹ ông cháu:
-Không nhất thiết phải thế! Cháu nào cũng làm bác sĩ, ca sĩ, cô giáo thì ai làm nông dân, công nhân để có gạo, có than, có xi măng, sắt thép? Sao các cháu không ước làm người nông dân nhiều hiểu biết, chế tạo ra máy móc cho đồng ruộng như các ông gì trên ti vi đưa tin làm ra máy trĩa ngô, máy cấy, máy gặt đấy, cho bà con được nhờ, trong đó có bà? Ông Thảo cười dí dỏm:
-Ư, phải rồi! Nghề nông là gốc của nhà ta. Phải có cháu làm nông dân đời mới vừa sản xuất, kinh doanh giỏi, lại vừa hát hay như bà ngoại chứ nhỉ? Bọn trẻ reo to:
-Dạ! Đúng rồi ạ!
Ông bà thư thái ngồi bên nhau trên bộ tràng kỷ uống trà. Bọn trẻ vui lắm. Chúng ngồi vây quanh gợi ông bà đủ chuyện. Cái Hồng còn cuốn hai bàn tay làm chiếc máy ảnh, nheo mắt ngắm ông bà, rồi chép miệng đánh “tách” một tiếng: -Thế là cháu có một bức ảnh đẹp!
-Vậy thì... bao giờ các cháu cũng phải yêu thương nhau như ông bà!
Như có một dòng sông rào rạt chảy trong lòng, bà Quí lặng nhìn ra sân. Không gian hoe ánh nắng non. Nền mây xám như một tấm chăn bông đang cuốn lại. Trời rõ vẻ ấm. Cây đào trước cửa đơm đầy nụ hoa đã nở mấy đoá phớt hồng rung rinh trong gió nhẹ. Bà ngỡ đấy là những mảnh giấy tinh khôi do bọn trẻ đính vào. Dăm bảy ngày nữa, ngôi nhà lại đầy tiếng con tiếng cháu nói cười.

Bỗng con chó Lu vột dậy sủa ran. Ngoài ngõ có bóng người thấp thoáng qua lùm cây táo lai.
-Ai đấy? Cứ vào đi!... Con chó càng sủa dữ dội. Vừa sủa nó vừa lùi lại, doãng chân lấy thế sẵn sàng tấn công. Cu Mỹ cầm cây thước gỗ chạy ra đe. Bà giật mình. Thằng Điểu! Đầu trần. Kính đen. Chân tay không. Bộ quần áo mới sơ vin hẳn hoi. Nhưng nét mặt hốc hác và dáng chừng dè dặt: -Con chào ông bà!
-Vâng! Không dám! Chúng tôi chào anh! Ông Thảo gấp cuốn sách. Bà Quí đứng lên. Con Lu vẫn ấm ức, mãi mới chịu nằm một góc trên hiên, nhưng đôi mắt vẫn lóng lánh liếc kẻ mới vào. Con Hồng, con Hoè bám chặt vạt áo bà, so lại, không dám ho he. Chúng nhìn bố chúng như nhìn một người xa lạ. ánh mắt bà Quí cháy rực. Nỗi đau đớn, căm giận và khinh miệt trào dâng. Ông Thảo bấm tay bà tỏ ý can ngăn bà bình tĩnh. Ông cứ để mặc tôi! Vì đâu nên nông nỗi này? Nó còn đeo được cái mặt mo đến đây ư? Các con nó đây. Thấy bố, chúng lại như con nai gặp cọp. Chả lẽ hình ảnh kẻ đẻ ra chúng lại có thể nhạt nhoà và bỗng chốc xoá nhanh đến vậy ư? Nuốt hận, bà cúi xuống bảo cháu:
-Thôi! Chào bố các cháu một tiếng đi. Dù sao các cháu cũng phải nghĩ có người này... Bà chỉ thẳng vào Điểu: -Có người này... thì mới có các cháu trên cõi đời!       


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 11.8.2014.