Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGƯỜI CHẠY XE ÔM.






M ột buối sáng mùa thu trời cao vời vợi, mây trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh lơ lướt qua cửa sổ đoàn tầu tốc hành, đưa tôi vào Nam trung bộ thăm con. Được biết Nguyễn bạn tôi ở khu phố này. Vừa là đồng hương, đồng đội, biết nhau từ thủa cắt cỏ chăn trâu. Học hết cấp ba rồi vào quân đội cùng ở một tiểu đoàn. Tôi háo hức tìm ngay đến chỗ Nguyễn.

   Nghe tiếng chó sủa, anh chạy ra ngõ, hai anh em ôm nhau nghẹn ngào, vui mừng khôn xiết.
    - Ôi, anh Ngô. Chị và các cháu ở quê khỏe không. Ngồi đi, ta làm vài chén đạm bạc, rai rai...hàn huyên nhé. Nguyễn mở tủ lấy chai rượu nút lá chuối, bình lạc rang sẵn, mấy con mực khô, dưa chuột, tương ớt bầy ra bàn nhậu. Uống, rồi tính bữa trưa sau. Vợ mình ngoài chợ, chiều mới ăn cơm nhà. Thường thì bữa cơm chiều có bàn tay vợ vẫn tươm tất hơn, Còn mình tớ, cơm trưa chỉ qua loa cho xong bữa. Nhiều khi ăn trưa ở quán theo cuốc xe ôm trên đường. Hai năm nay bận kiếm sống chưa về thăm quê. May gặp anh vào chơi, thật là duyên kỳ ngộ. Nào, chạm cốc mừng ngày gặp mặt. 100% nhé.
    - Ông làm gì nhiều ảnh thế kia, toàn xe pháo nhà binh cả, tôi hỏi.
    - Để có tiền cho con ăn học, mẹ nó buôn rau quả ngoài chợ, tôi làm đủ nghề: đào đất, chặt cây, phụ hồ, trông coi ao, đầm nuôi tôm, cá, chụp ảnh, vẽ băng zôn, đạp xích lô, chạy xe ôm... cũng may trời phú cho sức khỏe dẻo dai, tự cứu mình. Anh tính mỗi tháng cấp cho hai cháu ăn học đại học, tiền thuê nhà này, tiền ăn tiêu của hai vợ chồng tôi, rồi lễ tết, mừng tân gia, mừng sinh nhật, tân hôn, và các khoản chi tiêu khác... phải kiếm thêm. Đúng là trăm thứ lo không qua lỗ đồng tiền. Các cụ nói chẳng sai “ Tiền vào nhà khó gió vào nhà trống.”
    -Những tấm ảnh kia là ký ức bi hùng giữa hai người lính ở hai chiến tuyến.
   Năm 1973 ta và địch giành giật ở khu công nghiệp An Hòa - Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Tôi là chủ nhiệm trinh sát pháo binh trung đoàn, có trách nhiệm kiềm chế pháo binh địch bằng 2 khẩu pháo nòng dài 85ly, tầm bắn 15,6 km.
   Địch có 12 khẩu gồm: ( 6 khẩu 155 ly, 6 khẩu 105 ly) do viên đại úy chỉ huy.
   Đến ngày thứ mười hai, đài chỉ huy của ta bị bom nhưng không thiệt hại về người, toàn bộ tư trang mất hết. Anh xem ảnh ta chụp từ đài quan sát thì rõ. Chắc anh còn nhớ cuộc đấu pháo lịch sử ở thung lũng này?

    Nguyễn đưa ra một tấm bản đồ quân sự đã ngã mầu thời gian vàng ố. Các ký hiệu bố trí hỏa lực của địch, và ta được đánh dấu. Mấy tấm ảnh đen trắng chụp xe pháo trên trận địa địch phóng to. Anh giảng giải say sưa, cuốn hút như khi báo cáo phương án tác chiến trước ban chỉ huy trung đoàn năm xưa :
Đây là dãy núi Phước Tường- án ngữ phía Bắc địch kiểm soát, kia là dãy Hòn Tàu- án ngữ phía Nam căn cứ của sư đoàn 2 bộ binh, và trung đoàn pháo 130 ly của quân khu năm, do đại tá Nguyễn Chơn chỉ huy anh còn nhớ chứ?
    - Nhớ! Tôi khẳng định.
    - Nguyễn chỉ vào bản đồ, thung lũng này có diện tích 200 km2, chiều rộng chỉ 10 km, nhưng có tới 200 khẩu pháo các loại chỉa vào nhau. Chưa kể pháo trên xe tăng, thiết giáp của hai bên, pháo địch từ ngoài biển bắn vào. Chúng còn tăng cường sáu khẩu pháo tự hành 175 ly (vua chiến trường) hòng tiêu diệt ta trong vài giờ.
    Cứ điểm này mạnh danh là “cánh cửa thép” phòng thủ khu vực chiến lược Xuân Lộc - cửa ngõ Sài Gòn, tướng Ngô quang Trưởng chỉ huy.
    “Cánh cửa thép này” bị phá vùng Xuân Lộc - cửa ngõ Sài Gòn tựa cá nằm trên thớt. Bằng mọi giá địch phải giữ. Vì vậy, từng tấc đất nơi đây có ý nghĩa sống, còn với hai phía. Ta quyết phá. Địch quyết giữ.
    -Với mật độ pháo dày đặc, bên nào kiềm chế được pháo đối phương đồng- nghĩa với chiến thắng.
    Bị ta đánh bất ngờ, Sau bốn ngày đấu pháo, địch chỉ triển khai được bốn khẩu pháo. Bị pháo ta khống chế ngay từ loạt đạn đầu gây thiệt hại nặng nề, mặc dầu chúng đã dùng cả không quân, hải quân trút đủ loại bom, đạn xuống thung lũng này suốt mười ba ngày đêm.
    Hố đạn, bom dày như mặt sàng. Trên sườn núi, dưới thung lũng máu loang đỏ đất, xác lính ngổn ngang, nước suối đỏ ngòm, lính gọi là “suối son.” Quân ta ở trên cao dội bão lửa xuống đầu giặc, thế trận không thể đảo ngược. Ngày thứ mười ba, cứ điểm này bị tiêu diệt vào tháng 3-1973.
    Sau này tôi mới biết, đến ngày thứ tám tên đại úy chỉ huy pháo binh VNCH ở đây phải tự thương để về tuyến sau, trước khi cụm cứ điểm này bị tiêu diệt.
    - Tôi nói như reo: tuyệt thật! Nào, ta nâng cốc mừng thắng lợi có ý nghĩa chiến lược này. 100%...dô!
    - Nguyễn cười tươi sau tiếng... khà...thoải mái, như vừa thoát ra sau trận quyết đấu pháo cam go ác liệt cách đây bốn mươi năm (1973-2013).
    - Tôi hỏi, sao anh biết tên đại úy chỉ huy pháo đội ấy tự thương?
    - Chuyện thế này:
      Sau giải phóng miền Nam, tôi được điều về làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo 175 ly. Một hôm trực ban báo “- có khách đến thăm tiểu đoàn trưởng.” Tôi hồi hộp ra phòng khách, mừng khấp khởi có thể gặp vợ, hoặc bạn chiến đấu đến thăm. Nhưng, đứng trước mặt tôi là một người đàn ông gần bốn mươi tuổi, tầm thước, nhanh nhẹn, thông minh, với cái trán dô bướng bỉnh, ngang tàng nở nụ cười xã giao. Anh ta đặt giỏ trái cây lên bàn, đứng nghiêm giơ tay chào theo kiểu nhà binh :
    - Chào tiểu đoàn trưởng Nguyễn! Tôi là đối thủ của anh trên chiến trường ba năm trước. Đấu pháo ở An Hòa - Đức Dục, đến ngày thứ mười ba thì chúng tôi thua! Tôi phải tự thương trước đấy cứu mình. Anh dang hai tay chạy lại ôm tôi, vỗ vỗ vào vai, như đôi bạn thân lâu ngày gặp nhau. Tôi đang ngỡ ngàng, thì anh ta nói tiếp:
    -Anh không nhận ra tôi. Nhưng tôi biết anh trên mặt báo- chủ nhiệm trinh sát pháo binh quân giải phóng. Đấu pháo với quân đội Việt Nam cộng hòa, rất thông minh, tài giỏi. Là tiểu đoàn trưởng pháo 175 ly đóng quân ở đây.
    Còn tôi, xin anh cứ gọi là Lê, ( Nguyễn Hoàng Lê.)
   Trận chiến đã phân thắng bại. Các anh chiến thắng. kẻ bại trận là chúng tôi.
   Lý tưởng ta khác nhau, nhưng nguyên lí khoa học, ví như nguyên lí nổ của bom, đạn, dù ở phe nào cũng không thay đổi!
   Tôi tâm phục, khẩu phục các anh đã đánh bại chúng tôi, khi mọi phương tiện chiến đấu chúng tôi hơn các anh nhiều lần.

    Thất trận, hoảng loạn phải tự cứu mình, tôi bắn đứt ba ngón tay để không phải chết oan ở thung lũng chết tiệt ấy.
    -Anh giơ bàn tay trái còn hai ngón ra trước mặt tôi, khóc nấc lên như vừa đánh mất vật gì hệ trọng trong đời mình.
   Anh bừng tỉnh về cuộc chiến tranh phi nghĩa phản dân, hại nước, mà mình đã mê muội đánh cược cả cuộc đời chăng. Một vết sẹo nơi bàn tay, hay vết sẹo trong sâu thẳm tâm hồn người lính cộng hòa? Trông anh có vẻ ân hận lắm.
    - Tôi cứ áy náy về thái độ trịch thượng của kẻ chiến thắng, khi giao tiếp với anh ấy những phút đầu ở nhà khách tiểu đoàn. Sau này mới biết anh Lê hơn tôi năm tuổi. Có hai bằng đại học, một bằng học viện quân sự Đà Lạt nữa. Và tôi gọi Lê bằng anh, về tuổi tác và học vấn. Đôi lần anh rụt rè xưng anh với tôi.
    - Thỉ thoảng Lê đến thăm tôi vào những ngày nghỉ cuối tuần tại nhà khách tiểu đoàn. Tôi thường giúp đỡ anh vượt qua mặc cảm, hòa nhập vòa cuộc sống cộng đồng, những ngày miền Nam vừa giải phóng. Tình cảm anh em ngày một thân thiết, gắn bó hơn. Bỏ qua quá khứ, chúng tôi kết nghĩa anh em, Nam Bắc một nhà hướng tới tương lai. Yêu quý nhau như anh em ruột.
    Năm sau, tôi về Hà Nội học ở trường trung cao, và ở lại trường làm giáo viên cho đến năm 1990 về hưu.

    Về quê làm ruộng, những lúc nông nhàn không có việc làm thêm túng bấn. Tôi lại quay vào mảnh đất có nhiều kỷ niệm này kiếm việc làm nuôi con ăn học. Vật lộn với cuộc mưu sinh không ít khó khăn trong gió bụi thị trường, quăng quật. Giúp tôi nhận ra bao điều trớ trêu về đạo lí, sự công bằng xã hội, và thân phận người lính sau chiến tranh. Nhất là thương binh, bệnh binh, của hai sắc lính đang vật lộn để mưu sinh với mức sống cận nghèo. Mặc dầu chiến tranh đã lùi xa, và đất nước đã qua ba mươi năm đổi mới.
    - Từ khi anh vào trong này có gặp anh Lê lần nào nữa không, tôi hỏi. Nguyễn không vội trả lời, mà rót thêm rượu vào hai cốc, tươi cười nói : nào ta cạn ly đã, hai... ba... nào,...dô! Sau tiếng Khà, anh nói:
    - Hôm đó, bến xe tỉnh vắng khách sau cơn bão mạnh tràn qua. Nhưng có đến mấy chục chiếc xe ôm, xe xích lô chờ khách. Thôi thì đủ kiểu : HON ĐA 50 phân khối từ đời tám hoánh, cho đến DREAM, FUTURE, WAVE ... hàng trăm phân khối. Mỗi xe một mũ bảo hiểm cho khách treo lủng lẳng bên tay lái. Xích lô cũ, mới lịch sự chở khách du lịch. Chủ xe hầu hết là hai sắc lính giải ngũ, họ đon đả chào mời khách, đôi khi bằng tiếng Anh: “- anh về đâu.?.. bác về đâu?... lên xe cháu.!.. lên xe tôi nhé!” Nhận được khách, hăm hở lên đường cũng là niềm vui của người chạy xe ôm. Đôi khi tranh giành khách chửi đổng, văng tục, đánh nhau vì miếng cơm manh áo. Nghĩ mà mủi lòng cho thân phận người lính hết thời.
    Tôi đã làm nhiều nghề, nhưng xem ra chạy xe ôm mà có khách, nhất là anh biết tiếng Anh vẫn dễ chịu hơn anh ạ. Sẵn khách ngày được một, hai trăm ngàn. Gặp khách sang đôi khi họ thưởng, thu nhập cũng khá.
Vào thời điểm bị bão, lụt này người tham gia giao thông giảm hẳn. Mới chín giờ sáng, cái nắng sau bão oi nồng, chói chang đến chóa mắt, rác rưởi, lá cây trên đường phố, sân bến xe chưa kip thu dọn ngổn ngang...

    Cánh xe ôm túm tụm vào vỉa hè, bóng cây đánh phõm, đọc báo, đánh cờ...
    Tôi lang thang qua những đường phố quen tìm khách, chợt nghĩ đến anh Lê, sau mười lăm năm đứt liên lạc, chắc anh làm ăn khấm khá lắm. Bởi nhà viên đại úy có cửa hàng vàng, và đá quý to nhất thị trấn này.
   Nắng chói chang, kính bảo hiểm, khẩu trang bịt kín mặt, mồ hôi tôi nhễ nhại bắt bụi đất đỏ hoe. Chạnh lòng nghĩ thân phận mình vất vả như trâu, ngựa thế này? Mỗi khi thấy người đi đường lại hy vọng...có khách. Nhưng đi mãi không đón đón được ai. Phải quay lại bến xe thôi, vì xăng rất đắt.
    -Lùm tre trước mặt có khách vẫy tay, và một xe ôm đã kề ngay đấy. Tôi mừng ra mặt hỏi : -chị về đâu ? - Tôi về huyện X. -Mời chị lên xe.
   Người chủ chếc xe ôm kia, nãy giờ bất động. Bỗng anh ta nhảy bổ vào túm cổ áo tôi: - Đ...mẹ mày cướp khách của ông nội mày hử? Tao đang làm giá với khách mày đui sao? - Ô, khách hàng vẫy tôi, họ chọn xe tôi, sao nói là cướp khách của anh được? -Không cướp hả. Anh ta nhằm mặt tôi vung nắm đấm; tôi né người, dùng tay trái bắt gọn cổ tay phải của đối phương, tay phải tôi chém mạnh vào cánh tay ra đòn, và đá quét vào hai chân anh ta ngã xuống rãnh thoát nước bên đường. Tôi lại đỡ anh ta lên. Thấy anh có vẻ đau đớn, khó thở tôi chạy vội lại cốp xe lấy hộp dầu gió, và gỡ mũ, khẩu trang xoa bóp cho anh ta...
    - Tôi giật thót tim, la lên : Ôi, anh Lê! Đúng anh rồi! Tôi bỏ cái mũ bảo hiểm của mình xuống đất, lột khẩu trang ra, chỉ vào mặt mình nói : em là Nguyễn đây! Anh có nhận ra em không? Hãy tha lỗi cho em nhé! Trời ơi, sao lại khổ thế này? Hai anh em tranh nhau cuốc xe ôm, què chân, sứt trán thế này đây!
    - Hai người ôm nhau không nói. Nước mắt giàn giụa trong tiếng nấc. khách đi xe, người đi đường ngỡ là đồng đội kẻ Nam, người Bắc gặp nhau. Họ đâu biết đây là hai kỳ phùng địch thủ từng trút đại bác lên đầu nhau, ở thung lũng Đức Lộc mười lăm năm trước.
    - Chú Nguyễn mới vào sao? Trời đất ơi, chú đá quét vào kheo chân anh đau quá. Anh Lê dụi mắt đỏ hoe đau đớn hỏi.
    - Tôi vừa nâng anh đứng lên vừa nói : vợ chồng em vào đây kiếm tiền nuôi con học đại học, hai năm rồi. Đang kiếm cuốc xe ôm mà từ sáng đến giờ chưa có khách.
    Sống mũi tôi cay cay... như bị xúc phạm. Vì trước đây tôi thường nói với Lê về sự phát triển kinh tế, và công bằng xã hội ở ngoài Bắc, anh cứ há hốc mồm nghe và thán phục “Bắc Việt” lắm lắm.
    - Ủa, sao nay mới gặp. Chú ở đâu mà tôi hổng biết ta? Thôi về nhà anh chơi chút, nhà ngay đây thôi. Nào ta đi! Bỏ qua chuyện đấm, đá hồi nãy đi. Chuyện tranh khách, đánh nhau của cánh xe ôm vẫn thường như cơm bữa mà em.

    Tôi ngỡ ngàng quan sát căn nhà lợp tôn lụp sụp, đặt câu hỏi: nhà viên đại úy ngụy thế này sao? Thường thì lương thiếu úy của họ đã nuôi được vợ, và hai con kia mà? Sao nhà chỉ có mỗi chiếc giường một, trên đầu giường một khung ảnh trùm kín băng đen là sao?
    - Ngồi đi Nguyễn. Anh biết chú đang nghĩ gì rồi. Chuyện dài lắm, đau buồn lắm. Thoát chết phần xác, lại chết phần hồn. Thôi kệ nó, ta nhậu đã. Có thực mới vực được đạo.
    Nhân viên quán ăn vào dọn đồ nhậu lên bàn gồm : bia, rượu, thịt bò, cá hấp, nem chua, rau sống, trái cây rất thịnh soạn. Anh Lê nâng cốc: -Nào, mừng ngày gặp lại giữa hai người lính từng bắn nhau trên mảnh đất này. Giờ lại đánh nhau bưu đầu, quẹo chân mới nhận nhau. Đời chó má thật! Nào cạn 100% nhé,...dô!
    - Nói vậy chớ, chú học võ hồi nào mà lẹ tay, nhanh mắt vậy. Anh là “ đại ca” môn quyền, cước của trường võ bị Đà Lạt, mà thua miếng phản đòn của chú đấy. Khi nào rỗi chú dạy anh nghe!
    Hai người cười vang... Không biết chúng tôi cười vì lâu anh em mới gặp nhau; hay vì hai sĩ quan hết thời, ăn mặc lôi thôi, bụi bặm chạy xe ôm, đạp xích lô kiếm sống. Cười chua chát về thân phận mình, trước sự sang giàu của bọn cơ hội, quan tham vô lại kia !?

    - Chị nhà vẫn quản lý cửa hàng vàng, đá quý chứ anh? Lâu nay làm ăn thế nào mà nhà cửa tạm bợ thế này? Có chuyện gì xảy ra sao?
    - Đang làm ăn thuận lợi, Lê nói : Một lần tôi đi “cải huấn” hai mươi ngày trên thành phố, ở nhà vợ bán hết gia sản cùng thằng Bất lính hầu của tôi trước đây, và đứa con gái sáu tuổi chạy ra nước ngoài.
   Mãi lúc ấy tôi mới biết mình không có khả năng sinh con vì nhiễm chất đọc da cam. Đứa con gái là con thằng Bất nó cắm sừng mình, qua thư cô ấy để lại.
   Đau buồn vì bại trận chưa nguôi, lại bị vợ phụ tình, chiến hữu cướp vợ, chiếm hết tài sản. Tôi tự vẫn nhưng không thành. Vì người hàng xóm sang chơi, khi tôi vừa đạp đổ chiếc ghế dưới chân, đang giãy trên sợi dây treo cổ...

    Anh ta mắng té tát vào mặt tôi: “- Đồ hèn. Cậu định bỏ mẹ già cho ai nuôi cụ đây. Đồ bất hiếu. Định chạy trốn hử?”
    Bình tâm lại, mình nghĩ phải sống vì má già cho tròn chữ hiếu!
   Hai bàn tay trắng. Tôi chạy xe ôm, đạp xích lô nuôi gia đình. Má tôi vừa mất năm kia. Thú thật với chú nếu không vướng má, tôi chẳng thiết sống làm gì trong cảnh nghèo khổ, cô đơn, đau buồn nhục nhã này.
    - Lâu nay anh có tin tức gì về mẹ con chị ấy không. Tôi đánh trống lảng sang chuyên khác.
    - Nghe đồn, khi họ lên tầu bị bọn hải tặc hãm hiếp, lột hết của, rồi chúng xô xuống biển. Đã mấy chục năm gia đình không có tin gì về họ!
    Anh Lê gỡ cái khung ảnh trùm khăn đen trên đầu giường xuống , chỉ vào người trong ảnh - cô ấy đây, Tuyết Nhung - minh tinh màn bạc đấy. Trông mặt mũi thế này mà lộn chồng. Nước mắt anh chảy dài trên gò má, nói trong nghẹn ngào: Còn có thể tin ai hơn vợ mình nữa Nguyễn?
    - Tôi nhìn tấm ảnh, đúng là minh tinh màn bạc, nhan sắc mê hồn. Sao tâm địa xấu xa vậy. Vợ chồng đầu gối tay ấp mà lừa dối nhau táng tận lương tâm. Ôi ma lực của đồng tiền.
    - Thôi anh Lê ạ, cái gì đã qua cho qua đi mà sống. Đời là bể khổ, là cuộc đấu tranh không ngưng nghỉ. Suy cho cùng thì cũng do chiến tranh.
   - Nào, cạn chén này nữa để ta ăn cơm, anh Lê nguôi ngoai nói: nghỉ trưa ở đây, ba giờ chiều anh đưa chú đi nhận một cuốc xe ôm khách họ hẹn anh lúc sáng.
   - Tôi hơi ngại vì anh cũng cần tiền nên từ chối.
   - Anh hiểu ý tôi nói: anh chẳng dư dặt gì, nhưng một thân một mình dễ xoay hơn. Chú còn gia đình cần có tiền chi tiêu trong ngày, tôi nhường chú một cuốc xe ôm không được sao? Chú từ chối thì còn gì là anh em nữa.
  -Trời ơi, một cuốc xe ôm hai ngừơi lính nhường nhau lúc khó khăn, bươn trải đời thường. Tôi nhìn anh mắt ngân ngấn lệ.
    Hai anh em ra điểm hẹn chờ khách. Tôi xúc động viết mấy câu thơ vào vỏ bao thuốc lá, cao hứng đọc cho anh nghe xem cần sửa chỗ nào : “ Thung lũng hẹp chưa đủ tầm đại bác/ Hai sư đoàn quần nhau/ Giành giật những ngọn đồi trọc lốc/ Ngổn ngang thân xác một mầu/ Anh dưới thấp, tôi trên cao/ Món quà tặng nhau là những viên đại bác/ Anh tự thương/ Không thể khác/ Để hôm nay ta gặp nhau/ Hai người nắm hai đầu cái chết/ Đẩy nhau đến mút cuộc đời/ Chiến tranh qua đi cũng chỉ hai người/ Hai thân phận tả tơi kiếm sống/ Lại nhường nhau từng cuốc xe ôm.”
   - Hai anh em ôm nhau nước mắt chảy tràn. Anh nói trong tiếng nấc:
   - Trước đấu pháo anh thua chú, giờ làm thơ anh xin hàng luôn. Hồi nãy, giở thói du côn tranh khách cũng không thắng chú.
   Anh đã đọc không ít văn, thơ từ hai phía, nhưng đây là thơ chắt ra từ số phận của hai người lính đối lập nhau còn sống sót, đang vật lộn để mưu sinh làm anh rất xúc động. Chú cho anh bài thơ này làm kỷ niệm!

   Đúng giờ hẹn, tôi đón khách lên xe lòng nôn nao vui, buồn khó tả... Không hiểu vì đón được khách, hay ngôn ngữ, dư âm của bài thơ kết tinh từ thực tiễn cuộc sống, và tính nhân văn từ trái tim người lính. Xe tôi lướt êm trên đường đưa khách đến điểm hẹn an toàn trong chiều thu Nam trung bộ.
   Đã mấy mươi năm mà như vừa gặp bạn hôm qua. Thương anh Lê đã đi xa.
   Qua câu chuyện bi hùng này, tôi muốn gửi đến người bạn xấu số một nén hương chia sẻ tinh người giữa hai sắc lính, sau chiến tranh bươn trải mưu sinh. /.

Tháng 10- 2013.


@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ Thanh Hóa ngày 03.8.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn