Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGỌN NẾN ĂN NĂN





           VỀ THĂM QUÊ NHÀ



T rong một xã hội sau hàng chục năm chiến tranh, nạn kiêu binh, quân hồi vô phèng là điều khó tránh khỏi. Vì vậy phát sinh tình trạng mất kỷ cương, pháp luật không bảo vệ được người cô thân cô thế, những kẻ có quyền thế và nhiều của cải thì sử dụng nó như một phương tiện vạn năng, để “bôi trơn” những việc làm đen tối, kể cả tội ác, thì tôi luôn hướng về mảnh đất và mái nhà cổ ba gian ngày nào, nơi tôi được sinh ra làm một người có đạo, được cưu mang thời còn thơ dại, còn bé bỏng. Vì ở quê hương ấy, tôi vẫn tin sự chân thật và tình người chưa bị xã hội duy vật chất, vô thần lấn lướt tinh thần Kitô giáo, mặc dù  đã có lúc một ai đó bị điều kiện hóa, đã tự hủy hoại thanh danh của mình khi có những hành động làm khổ lụy cho người này người kia. Nhưng họ là kẻ đơn độc và đã bị lên án.

 
Thời còn nhỏ của tôi đã gắn liền với những nơi chốn mà sau này chỉ cần nhắc lại thì tôi thấy mình được bình yên và hạnh phúc. Trước hết là Nhà chung An Mỹ, rồi Hoàng Nguyên, một ngôi trường đào tạo các linh mục, tu sĩ của địa phận Hà Nội từ 100 năm trước; Sở Kiện, Phủ Lý, lên Hà Đông, ra Hà Nội và từ nơi văn vật này, tôi rời xa tất cả vào năm 1954.Vì vậy, sau này khi thời thế đổi thay, tôi đã trở về, cho dù trong tình trạng thất thế và hai bàn tay như ngày ra đi. Điều này tôi đã được bù lại nhiều hơn những gì mong đợi, sau nhiều lần trở về và có lẽ còn nhiều hơn nếu như tôi ở lại. Tôi càng xác tín điều này một cách cụ thể hơn là việc tôi đã hoàn tất cuốn Gia phả của 5 Chi tộc họ Nguyễn chúng tôi vào cuối năm 2013. Đây là công trình có nhiều người cộng tác với tôi, vì biết việc này phức tạp và khó khăn, lại nữa nó là bước đầu tiên của một dòng họ có một lịch sử lâu đời, đã sống, xây dựng và phát triển, cách riêng về mặt tinh thần, trên miền đất cổ Đồng Bằng Sông Hồng.
 
Trong mười lần trở về, có một lần tôi đã ghi lại trong một tập truyện ký, dịp khánh thành ngôi nhà thờ làng tôi trùng tu, từ năm 1995-1997. Lần khác là cuối năm 2003, trở về ăn Tết nhân kỷ niệm 50 năm tôi rời xa quê nhà. Lần này tôi cũng đã ghi lại trong một tâm bút, đăng tải trên newvietart.com, ngày 20-11-2009. Dưới đây tôi chỉ ghi lại lần trở về đầu tiên vào năm 1980, sau đó là Hà Đông và Hoàng Nguyên năm 1997.
 
NHỮNG CHUYỆN VUI BUỒN
 
Lần trở về đầu tiên, sau 26 năm nổi trôi trên dòng đời, buồn nhiều hơn vui. Trở về, nơi tôi đã để lại một núm ruột lúc chào đời. Trở về, với mái nhà thân yêu của mình, nhưng phải mang theo trong mình tấm giấy “bảo lãnh” của người nhà, mới được đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ tiên! Đó là điều kiện của thời thế, như thể mình không cùng một Tổ quốc, nhưng như một kẻ xa lạ, một người bên ngoài, không chung một giàn.
 
Tôi trở về trong tình cảnh thất thế, lẻ loi, cô đơn và trên hết: một người con lạc đàn, không cùng số phận lao lung, không gánh chung thân phận của kiếp người trong thời chủ nghĩa…
 
Ngày đó, con tàu chở tôi rời ga Sài-Gòn vào một buổi chiều trong tháng 3 năm 1980. Không biết do tàu chạy chậm hay do tôi nôn nao chỉ mong sớm về tới quê, mà thời gian như không chiều một hành khách trên tàu như tôi. Khi tàu vào ga Phủ Lý, Đồng Văn rồi Phú Xuyên, tôi đã đứng lên ngồi xuống nhiều lần, kiểm điểm hành lý chuẩn bị xuống. Mặc dù tôi đã gửi điện báo về là xuống ga Hàng Cỏ, nhưng từ lúc tàu rời ga Phú Xuyên, tôi đã nhìn ra ngoài xem có người thân nào đứng đợi ở Ngã Ba Nguộn không, vì từ chỗ này có con đường đi về quê tôi, khoảng 3km. Lúc này trời đã chạng vạng tối, nhưng cũng sắp tới ga Tía, cách Hà Nội 26km, nên tàu đã chạy chậm lại, cho nên khi đi qua Ngã Ba Nguộn, tôi đã nhìn thấy người chị và đứa cháu gái đứng ở bên đường, nhìn theo đoàn tàu đi qua. Tôi gọi tên chị song cả hai mẹ con chị không ai có dấu hiệu gì là nghe thấy. Tôi quyết định xuống ga Tía, thay vì ga Hàng Cỏ, rồi gọi xe xích lô chở tôi xuống chỗ chị tôi đang đứng.
 
Tới nơi, chị và cháu tôi vẫn còn đứng đó, bên kia đường. Tôi gọi tên chị hai ba lần chị mới nghe được, rồi nắm tay đứa con gái lớn chạy sang chỗ tôi. Chị hỏi: “Ông hỏi ai?” Tôi biết chị không nhận ra tôi vì trời tối và vì ngày tôi ra đi còn là một đứa em út, một chú học trò dẫu đã 18 tuổi rồi, nhưng vì được bao bọc bởi tình thương trong gia đình, nên tôi vẫn thấy mình nhỏ bé, rụt rè và không suy nghĩ gì trước lúc khởi đầu cho một cuộc đời bất trắc. Nay đã vững vàng hơn, khác xa lắm ngày ấy, nên tôi nói: “Em là Tùy đây mà”. Vừa nghe tên tôi, chị ôm chầm lấy tôi, nước mắt trào ra. Rồi nắm lấy tay tôi, vừa đi vừa kể lể nỗi lòng nhớ thương suốt bao nhiêu năm trời xa cách.
 
Năm đó thân phụ chúng tôi còn, nên khi tới nhà chị ở đầu ngõ, chị đã nói ngay: “Phải vào nhà tổ trước, chào thầy đã. Chắc giờ nầy thầy cũng đang mong em lắm.” Đứa cháu đã đi đón tôi cùng với mẹ, đã chạy vào báo tin tôi về, nên lúc chị em tôi bước vào cổng sân nhà, tôi đã thấy người đang ở dưới mái hiên, tay vịn cột. Tôi vội chạy lại, ôm choàng lấy người, chỉ thốt lên được một tiếng “Thầy!”.Mấy phút như thế im lặng. Những người nhà cũng đứng im chung quanh, rồi tôi dìu người vào trong nhà, cả thân mình người rung lên, bước đi không vững. Tuy vậy, trong suốt một tháng tôi ở nhà, sáng sớm nào cũng thế, khi nghe chuông nhà thờ đổ thì người trở dậy, mặc vội chiếc áo dài thâm, cầm lấy cây gậy tre rồi vào nhà thờ. Ngày nào cũng thế, cả mùa đông rét mướt và sương mù, người không bỏ một giờ kinh sáng nào bao giờ, như lời kể của anh chị tôi. Năm đó, người đã ngoài 80 tuổi, còn tôi 44, thế mà tôi không theo kịp người, mặc dù tôi đã đi thật nhanh. Có lẽ con đường đến nhà thờ đã nhập vào trái tim của người.
 
Từ năm 1953, cha xứ quê tôi đã đi Hà Nội bởi tình hình đất nước ngày đó đang chuyển biến từng giờ, nên cha tôi được Tòa Giám mục Hà Nội ban quyền lo việc bàn thánh, mở cửa Nhà Tạm để giáo dân chầu Thánh Thể trong các ngày Chủ nhật, thứ sáu và thứ bảy đầu tháng; dậy giáo lý hôn nhân cho các thanh niên nam nữ chuẩn bị kết hôn. Khi nào hết Mình Thánh Chúa, trường hợp có linh mục về cử hành thánh lễ, cho giáo dân chịu lễ và khi nào phải thay Mình Thánh Chúa, vì để lâu sẽ mốc, người đi nơi nào có linh mục, như xuống Hoàng Nguyên, lên Bằng Sở, Hà Nội. Từ năm 1965, sau khi du học ở nước ngoài về được ít năm, cha Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh về Chuôn Trung dưới hình thức quản thúc, thì cha tôi xuống đó. Nhưng một lần cán bộ yêu cầu người không được vào Chuôn, để tránh việc tiếp xúc với cha Oánh. Cha tôi nói: Tôi già rồi không đi xa được. Cán bộ bảo: Cụ phải đi lên Hà Nội, chúng tôi sẽ cấp phương tiện cho cụ đi. Cha tôi trả lời: Tôi không cần tiền. Thấy cha tôi cương quyết như vậy, họ cũng thôi không ép buộc người nữa.             
 
Ngày tôi về đang là Mùa Chay, nên chiều ngày Thứ Năm Tuần Thánh, trong chiếc áo “Các phép”, cha tôi mở cửa Nhà Tạm để giáo dân chầu Thánh Thể. Lúc người bước lên bàn thờ cũng như khi bước xuống, tôi quỳ bên dưới mà hồi hộp quá chừng, có lúc tôi toan đi lên để đỡ nâng bước chân người vì sợ người ngã. Tôi hiểu rằng người sắp ra đi.
 
Hai ngày sau là Lễ Vọng Phục Sinh, làng tôi không có thánh lễ, nên tôi theo người nhà và những người trong làng, cả mấy người bên họ mẹ tôi, ở ngoài Hà Thao ngoại, biết tôi về, cũng ghé nhà thăm tôi và cùng chúng tôi dõi theo ánh đèn bão vào Chuôn Trung dự thánh lễ nửa đêm. Nhà thờ nhỏ, số người dự lễ quá đông, nhưng tôi cũng lọt được vào trong lòng nhà thờ, ngồi bệt xuống đất như mọi người. Mặc dù chính quyền địa phương cấm cha Nguyễn Ngọc Oánh làm lễ trước giáo dân, song ngài không kêu gọi, nên giáo dân đến, ngài không thể đuổi họ về. Hơn nữa, bổn phận của linh mục là phải cử hành thánh lễ hằng ngày.
 
 Ngày mới về, anh tôi đã dẫn tôi đi chào những vị có tuổi trong họ hàng, bên nội cũng như bên ngoại và một số cụ cao tuổi trong làng. Tôi cũng vào nhà thờ, nhà xứ, viếng mộ cha già Chi ở phía đầu nhà thờ. Ngài là vị linh mục đã khởi xướng công cuộc xây dựng ngôi thánh đường lớn ở làng tôi từ năm 1914, tồn tại cho đến nay.
 
Mùa hè năm 1954, tôi về thăm nhà rồi mấy tháng sau đó vào Sài-Gòn, nhà thờ và nhà xứ vẫn còn nguyên. Nhưng đến nay trở về, 27 năm qua đi, đứng trước khu vực của nhà xứ, từ ngoài sân nhà thờ đi vào, đột nhiên tôi dừng chân, ký ức dồn dập trở về. Không gian và những con người ngày đó mà chúng tôi chung sống, làm việc, học tập và thờ phượng. Nay, chỉ có tôi đứng lặng trên đất cũ. Tôi đã khóc nhiều. Khóc vì nhớ người xưa, khóc vì đắng cay, vì đổ vỡ. Toàn khu vực nhà xứ tan hoang. Dẫy nhà cha Đỗ Đức Hanh, nghĩa phụ của chúng tôi, và các cha tiền nhiệm của ngài ở, chính là ngôi nhà thờ bằng gỗ quí, mái ngói, dựng lên từ năm 1881, tức là trước khi cha già Chi xây nhà thờ lớn, chỉ còn những mảnh gạch vụn. Còn dẫy nhà của thầy giáo và chúng tôi ở, là một đống rơm to của ai để đấy; dẫy nhà bếp, nhà ở của bô Đệ, ông Mỡ, những người giúp việc các cha, cũng như nhà kho, có cối giã gạo, đã đổ xuống, được che chắn hờ hững bằng mấy tấm phên làm bằng nứa. Cổng nhà xứ và bức tường nhà xứ, ngăn cách khu nhà xứ với sân nhà thờ, cũng không còn hòn gạch nào trên nền móng cũ. Ngay bên cạnh cổng nhà xứ là cây hồng có tuổi thọ, thân cao đến 10m, chúng tôi không nhìn thấy quả của nó bao giờ, mà có thì cũng không ai dám trèo lên. Nhưng đôi khi  có hoa rụng, nhỏ, sắc trắng và có vị ngọt, nay không còn cả gốc.
 
Tôi muốn đi tới tận nơi những chỗ cũ trong nhà xứ, nhưng trước cảnh đổ vỡ này, lòng tôi chùng xuống, nỗi đau không bao giờ tôi có thể nghĩ tới, nay nó là sự thực trước mặt…Hình bóng của một vị tu sĩ mặc áo chùng thâm, tóc trắng như sương mai, đặc biệt khuôn mặt sáng ngời tinh anh…như đang lặng lẽ bước đi ngoài hành lang trước cửa phòng của ngài. Tôi chột dạ…
 
Tôi không sao quên được những năm tháng cũ ở đây, dù thời gian khắc nghiệt đã muốn xóa đi tất cả. Bụi bặm của đất, bàn tay bạo tàn không thương tiếc của con người đã gây nên cảnh vật này.
 
Trở về lần này sau 5 năm kết thúc chiến tranh, tôi không thấy có người lạ mặt nào theo dõi, như mùa hè năm 1954. Có lẽ thế mà một cảm giác bình yên rất hiếm có trong cuộc đời tha hương của tôi từ bấy lâu nay, tôi đã đón nhận được lúc tôi đứng ở trên mảnh đất của nhà xứ. Chính xác hơn thì đó là trước cửa phòng của chúng tôi.
 
Một cơn gió nhẹ từ phía ao nhà xứ đưa vào, dẫn tôi lên nhà thờ phía cửa ngang.
Vừa bước vào bên trong, tôi phủ phục ngay xuống nền nhà thờ, nước mắt trào ra, nhỏ từng giọt nặng nề xuống nền đất thánh thiêng do Tổ tiên của dân làng chúng tôi, đã dày công tạo dựng. Tôi còn nhận ra một cách rõ ràng những dấu chân non của tôi ngày xưa ấy. Trên kia là ghế ngồi của riêng các chú giúp lễ chúng tôi. Cái thang phía sau bàn thờ còn đó, để lên thắp nến ở Tòa Đức Mẹ và các thánh hai bên tường gian cung thánh.Còn cái ghế dài ở giữa nhà thờ bên nam, ngay phía dưới toà giảng, cũng vẫn còn đó, mộc mạc, sơ sài. Ở đầu phía ngoài cái ghế dài này, tôi ngồi ở đó đọc sách vào các giờ kinh chiều hàng ngày.
 
Cuốn phim của gần 30 năm đời tôi lênh đênh giữa dòng đời gian trá và hiểm nguy, trôi qua lặng lẽ trong tâm trí tôi lúc đó, trước sự hiện hữu của Chúa Giêsu Thánh Thể trong Nhà Tạm.Tôi cảm tạ Chúa đã dẫn tôi về với gia đình, với người cha già sau bao nhiêu năm mong đợi. Nghĩ đến ngày tôi nằm trong nhà thương lao Hồng Bàng mới năm trước đó thôi, tôi như còn bàng hoàng. Bệnh tôi mặc dù đã hết, song chưa hẳn là đã hồi phục hoàn toàn. Bởi mấy ngày sau khi về nhà, một lần tôi đã ho ra một cục máu nhỏ, làm tôi choáng váng đầu óc một lúc. Nghĩ đến đây, tôi đã phó thác cho Chúa.
 
Sau những phút cầu nguyện, tôi đứng lên, đi chầm chậm một vòng trong lòng nhà thờ, tay chạm nhẹ vào những mảng tường bị thời gian làm xói mòn, lở loét để lộ ra gạch đỏ bên trong, những tấm cửa kính bị vỡ, khung gỗ thì hoen ố, bạc hết mầu sơn, đang trong tình trạng gẫy đổ. Tới chỗ cầu thang lên gác chuông, tôi dừng lại, chân thì muốn bước lên nhưng lòng thì bảo thôi. Tôi không e ngại điều gì, mà chỉ sợ đụng đến cát bụi phủ đầy các bậc thang, in dấu chân của một đứa con xa xứ đã lâu, nay trở về, sẽ làm dậy lên dấu thời gian buồn phiền. Đứng đó mà lòng hồi tưởng xưa kia mấy chú nhỏ chúng tôi thường trèo lên các tầng trên để bắt chim sẻ, và một lần hú vía trốn lính Tây về làng…
 
ĐI VĨNH PHÚ
 
Nghỉ ở nhà mấy ngày, sau đó tôi đi Vĩnh Phú với một người chị thăm người anh trong họ, là em trai của bà, đang cải tạo ở trại Vĩnh Quang. Năm 1954, ông là sĩ quan trong quân đội Quốc gia, là “tù binh chiến tranh” trong tay quân Việt Minh, được trao đổi với tù binh bên Việt Minh theo Hiệp định Genève.Trở về với gia đình, lúc đó đã vào Sài-Gòn hết, ngoại trừ người chị ở lại, ông anh họ tôi tiếp tục phục vụ trong quân đội VNCH. Mấy năm sau này, ông đảm nhiệm chức vụ Quận trưởng, một là Quận Châu thành Bình Dương, hai là một quận ngoài Quy Nhơn. Cấp bậc của ông thời gian này là Trung tá.
 
 Chúng tôi vừa lên tới ga Hàng Cỏ, thì tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly vang lên một bản nhạc của Trịnh Công Sơn, trong lúc bị cấm ở Sài-Gòn. Ngày đó, xe lửa chạy tuyến đường Hà Nội-Vĩnh Phú còn chạy bằng than, vừa chạy vừa phun khói, máy nổ phành phạch, các toa tàu thì bụi bặm, thấy rất thô sơ và nghèo nàn. Dọc đường lên Vĩnh Phú, tôi nhìn thấy một tấm bảng đề hai chữ Nghĩa Lộ ở đầu một con đường dẫn vào bản. Tôi chỉ nhớ được địa danh này trong cả hai lượt đi và về, vì Nghĩa Lộ là quê hương của nhà văn Thế Phong, người đã nhận in ấn cho tôi hai tập thơ, liên tiếp trong hai năm liền, 1963 và 1964. Đó là hai tập Người Ôm Mặt Khóc và Tiếng Hát Khuẩn Trùng.
 
 
Chúng tôi lên tới Vĩnh Phú thì đã xế chiều. Sau khi trình giấy phép đi thăm, chúng tôi xuống Bến Ngọc đi đò dọc vào. Ở đò lên, chị em tôi lên xe trâu để vào trại. Lúc đó trời đã tối, chúng tôi vào nhà tạm trú nghỉ đêm. Sáng sớm hôm sau, bà chị tôi thức dậy thật sớm để làm thịt con gà mang từ nhà đi, nghĩ rằng ba chị em chúng tôi sẽ được ngồi ăn với nhau một bữa cơm ở trại tù. Tôi và người anh họ xa quê từ gần 30 năm nay rồi, còn bà chị thì ở lại với chồng và con của bà. Bây giờ mới gặp lại nhau trong tình cảnh thế này, nên giàu nghèo gì, thì bữa cơm hôm đó cũng phải có đĩa thịt gà luộc rắc lá chanh. Tất cả đều từ đồng quê thân yêu cả thôi.
 
Nhưng đến giờ thăm nuôi, bà chị tôi trình giấy phép thì cán bộ nói là Nguyễn Văn Bang, người nhà của bà đã chuyển trại rồi. Không thể hỏi cán bộ được câu nào, và cũng không thể hỏi được ai, một số người từ trong Sài-Gòn đi thăm nuôi người  nhà, còn đau đớn hơn chúng tôi. Họ cô thân lắm, nặng nề với những  thức ăn và thuốc men cho chồng, ký cóp bao nhiêu ngày tháng. Chúng tôi cũng  chỉ biết nhìn nhau thông cảm và lặng lẽ ra về.
 
Trong lần trở ra, lúc ngồi trên đò, có một phụ nữ nói giọng khác thường, giống như người nói lắp hay nói cà lăm, song không phải thế. Chị nói mãi mới bật ra được một tiếng, nặng nề và khô cùng với nét khổ sở hiện trên khuôn mặt cơ bần. Một người ngồi cạnh chị, hỏi:
 
-Tại sao lại nói khổ sở thế?
Chị trả lời:
-Do…d…o…do…đẻ...
 Một bà ngồi gần chị, có vẻ hiểu chuyện, nói:
-Do kế hoạch hóa gia đình. Nhiều bà, nhiều chị mang thai bị y tá đến tận nhà, nó đè ra nó mổ ấy chứ. Giọng nói của chị này là biến chứng của việc đó. Nó làm cho người ta sợ không dám đẻ nữa.
 
Trên  đường trở về Hà Nội, tàu dừng bánh ở một ga nhỏ. Tôi bước xuống tàu, vào một quán nước trong sân ga, gọi ly cà phê. Chưa uống hết một ly nhỏ thì có 3,4 thanh niên bước vào. Một cậu đi vòng trước mặt tôi ngồi ngay xuống bên cạnh, còn mấy người kia ngồi xuống bên trái tôi. Một cảm giác bất an chợt đến trong đầu, tôi đứng lên trả tiền nước, trở lên tàu, mấy phút sau tôi vẫn chưa hết ám ảnh về mấy thanh niên kia.
 
Tàu đã chuyển bánh…
Lần về này, chúng tôi bị đẩy lên toa chở hàng tồi tệ, người thì nhiều hàng hóa cũng nhiều, ai ngồi đâu cứ ngồi đấy. Chị em tôi ngồi ở giữa hai bên cửa. Ai nấy hình như cảnh giác rất cao, nên lúc nào cũng ôm chặt đồ đạc của mình vào lòng. Trời đã tối, tàu lại đang vào ga, nên chạy chầm chập, nhưng không dừng lại. Cho nên, toa chúng tôi ngồi xảy ra cảnh hỗn độn. Kẻ lên tàu, người nhảy xuống. Kẻ gian thừa lúc trời tối và lộn xộn, nhảy lên tàu cướp giật hàng hóa, quẳng xuống cho đồng bọn đứng ở dưới. Bà chị tôi “ối” lên mấy tiếng “cướp!” “cướp!”, thùng quà chị mang đi đã bị lấy mất. Tôi ngồi gần đó mà không thể có phản ứng gì.
 
Cảnh này vừa dứt thì cảnh khác xảy ra, bất nhẫn vô cùng.
Tàu vẫn còn chạy chậm. Ở phía cửa, có mấy thanh niên mặc quần áo bộ đội ngồi bỏ thõng chân ra ngoài, choán hết lối lên xuống. Một vài cụ già bước chân lên tàu, nhưng đã bị một bộ đội đạp vào ngực làm cụ ngã ra phía sau. Còn mấy người kia vẫn ngồi im, không để cho một người nào lên.
 
Tận mắt nhìn thấy cảnh này, tôi lại nhớ chuyến tàu hôm trước từ ga Hàng Cỏ đi, toa tàu chúng tôi ngồi cũng đầy người, kẻ đứng người ngồi rất xô bồ. Giữa một toa tàu chở đầy những người lam lũ, quần áo bạc màu cũ kỹ, chắp vá nhiều mảnh, thì một thanh niên mặc áo sơ mi trắng, bỗng cất lên giọng kẻ cả. Hắn nói: “Cả nước cùng đi buôn như thế này thì làm sao mà khá được!” Liền đó, giọng một cụ già còn cứng cáp, đáp lại: “Chúng tôi không đi buôn thì lấy gì để sống?!”. Người thanh niên áo trắng lại nói: “Cả nhà tôi sống được nhờ làm cơ quan.” Vừa lúc đó tàu vào ga, người thanh niên bước xuống. Cụ già lúc nẫy, nói: “Giọng nói của hắn có vẻ như là đội trưởng.”
 
LẠI RA ĐI
 
 Tôi không sao quên được buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng của tháng 3 âl, trời còn những cơn gió mát dịu, êm ả ở đồng quê, nhưng bỗng dưng tại sân nhà tôi, xuất hiện một không gian thân tình kỳ lạ. Ở góc nhà và góc sân, bên cạnh cây bưởi già, những tiếng nói đầm ấm, những ánh mắt và những nụ cười nhìn tôi như để trao gửi cho tôi một tình cảm thân yêu, trước lúc tôi lại ra đi, lại rời xa họ, những người thân cận trong họ hàng nội ngoại của tôi.
 
Vâng, đó là một buổi sáng trong đời tôi, giữa lúc tôi là kẻ thất thế. Nhưng tôi vẫn được ôm ấp, được trao gửi thương yêu từ quê hương và họ hàng. Mọi người biết tôi sắp đi, nên đến nhà chào tôi. Trong số người có mặt, có cả người tôi không biết, vì họ sinh ra sau này; có cả bạn bè đã ở với nhau trong nhà xứ trước kia. Ai cũng muốn gặp tôi để trực tiếp nói vài lời chia tay, làm tôi không thể ngồi lâu bên cạnh cha tôi và một người anh trong họ của tôi, tóc đã bạc trắng. Người chị lớn thì kéo tôi qua nhà chị ở bên cạnh. Một bạn cũ của tôi cũng theo sang. Chị tôi phàn nàn rằng sắp đến giờ rồi, phải đi ngay. “Thôi về chào thầy đi. Chị hài lòng về em”. Thế rồi chị cầm tay tôi kéo về bên nhà, không để một giây phút nào cho bạn tôi nói. Tôi đành xin lỗi anh.
 
Mọi người vẫn còn đứng ở sân. Tôi bước vội vào nhà, cúi mình xuống chào cha tôi và người anh họ: “Xin thầy cho con đi!”, rồi ôm lấy người, khóc trên vai áo người. Nước mắt của người cũng rơi xuống mặt tôi. Có tiếng khóc của các chị và các cháu tôi ở trong nhà.Tôi cầm tay người đứng lên, hướng về bàn thờ Chúa, rồi lại khóc, không thể đọc được một lời kinh nào. Các chị tôi khóc lớn tiếng. Người anh họ tôi nói: “Chú ấy đi rồi chú ấy lại về. Thôi để yên cho chú ấy đi.”
 
Tôi bước qua ngưỡng cửa của mái nhà xưa, ra đứng dưới mái hiên, cúi chào mọi người, rồi quay về phía cha tôi đứng, bước nhanh tới ôm chầm lấy người. Các chị tôi lại khóc, gỡ tôi ra và nói: “Gần tới giờ tàu chạy rồi”, rồi kéo tôi đi. Những người có mặt lúc ấy, cũng tiễn chân tôi lên đầu làng rồi mới quay về. Các cháu tôi, một số theo tôi lên tới Ngã Ba Nguộn, một số lên xe đò đi Hà Nội, tàu trong sân ga chuyển bánh mới trở về.
 
Lúc đứng trên xe đò, các chị và các cháu tôi vẫn khóc. Có tiếng người đàn ông nói: “Ông này đi công tác xa hay sao mà người nhà khóc mãi thế.”
 
Tới Văn Điển thì kẹt xe. Chị tôi đứng bên cạnh, ghé sát vào tai tôi nói nhỏ: “Em cầu nguyện đi kẻo kẹt đường thế này thì tàu nó chạy mất.” Tôi thầm thĩ trong lòng kinh Lạy Cha. Đọc xong thì xe chạy lại như thường, kịp giờ tàu chạy.
 
TÔI ĐI TÌM TÔI
 
Thật tình, tôi đã có ý định đi Hà Đông, vào giáo xứ Thạch Bích rồi xuống Trường Hoàng Nguyên, là những nơi tôi tha thiết đi thăm hơn cả. Nhưng lần trở về năm 1980, người nhà không muốn tôi đi. Có lẽ vì nhiều lý do mà tôi không tiện hỏi, một trong những lý do này theo tôi, là lòng người còn ngổn ngang tâm tư. Mới chỉ có 5 năm “thống nhất đất nước”. Nhưng lần trở về thứ hai để dự lễ khánh thành ngôi nhà thờ sau hai năm sửa chữa, từ 1995-1997, thì tôi đã đi thăm những nơi này với người anh em tinh thần với tôi trước kia.
 
Trước hết, chúng tôi vào Hà Đông, sau khi ở Tòa Giám mục Hà Nội ra.
Thời trước còn xe điện, từ Bờ Hồ vào Hà Đông là 11 cây số. Nay xe điện đã gỡ bỏ, Hà Nội mất đi một nét cũ. Chúng tôi tới nơi, đi thẳng vào sân nhà thờ, rồi vào phòng giáo xứ, lúc đó đang có mấy người ngồi uống trà. Anh Nguyễn Tùy, đi với tôi, giới thiệu là trước kia tôi học ở đây, nay từ trong Sài-Gòn ra,  xin phép cho lên nhà thờ viếng Thánh Thể. Một người được gọi là thầy cầm xâu chìa khóa mở cửa phía đầu nhà thờ mời chúng tôi vào.
 
 Ngôi nhà thờ không có gì đổi thay, chỉ có chung quanh, cả ngôi trường Minh Tân xưa kia, phía sau nhà thờ, nay không còn một nét cũ nào nữa. Con đường trước cửa trường, xưa thấy rộng rãi, nay như hẹp lại. Người và nhà cửa đã chen vào. Tôi thấy chật chội và thiếu một không gian chung quanh ngôi thánh đường.
 
Đứng ở cuối nhà thờ, nhìn sang nơi trước kia là trường Trung học Minh Tân, tôi nhớ đến ba hình ảnh nổi bật và cũng thân thiện nhất đối với tôi ngày đó. Một người là bạn, mấy năm trước cũng học trường Hoàng Nguyên với tôi. Nay gặp lại nhau ở phố thị, chúng tôi thường đi chơi với nhau vào ban tối, trên một vài con phố của thị xã Hà Đông. Có một ngày, anh mời tôi về nhà trọ của anh, nói rằng, anh và mẹ phài về “hậu phương”. Tôi lờ mờ nghĩ đến một miền quê nào đó, do chính quyền Việt Minh kiểm soát. Còn hai vị kia là thầy giáo. Một vị là Trần Ngọc Hiệp, xuất thân từ Trường La tinh Hoàng Nguyên, cùng lớp với anh Nguyễn Văn Thả (Sài-Gòn). Sau ngày vào Sài-Gòn, ông Trần Ngọc Hiệp là ân nhân của tôi. Người thầy thứ hai là Lăng Tuyền, giáo sư Anh văn. Thỉnh thoảng ông đưa sách Văn phạm tiếng Anh ông đang soạn cho tôi đọc, chỗ nào không hiểu thì nói cho ông biết để sửa chữa. Vì ông bảo học trò đọc sách của mình mà không hiểu là do mình.
 
Rời Hà Đông, chúng tôi đi Thạch Bích, một giáo xứ đông tín hữu thuộc huyện Thanh Oai, Hà Đông. Trong thời gian tôi học ở Hà Đông, Thạch Bích là một trong mấy địa điểm chúng tôi chọn làm nơi cắm trại. Giữa đồng quê yên lành, có một ngôi nhà thờ như Thạch Bích, biểu tượng của một đời sống tinh thần, hằng ngày sớm chiều, người ta tụ họp nhau lại để dâng lời ca ngợi Thiên Chúa, sao tôi thấy “đẹp” quá, thánh thiện quá. Khi tiếng chuông chiều ngân lên, là lúc người và vật đã về tổ ấm, đồng thời cũng là lúc người ta thấy an bình nhất, ấm êm nhất sau một ngày ngoài đồng ruộng.
 
Về tới làng thì đã xong giờ kinh chiều. Chúng tôi hẹn nhau ngày hôm sau đi xuống Hoàng Nguyên.
 
Ngày 12-11-1997, anh Nguyễn Tùy và tôi đi Hoàng Nguyên. Hôm trước, 11-11, lúc vào thăm Đức Hồng y Phạm Đình Tụng tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, ngài nói với tôi là nên viết lại thời gian tôi học ở đó, vì đây là giai đoạn cuối cùng của nhà trường. Còn cha Cao Văn Đạt thì khi gặp lại ngài từ sau ngày nhà trường đóng cửa (năm 1952) đến nay (1997), cũng tại tòa Giám mục, cũng đã 45 năm, cha đã không quên tên tôi lại còn hỏi nhưng thật sự là nhắc nhở: “Đi Hoàng Nguyên chưa?” Cha con tôi gặp nhau chỉ trong vài phút, nhưng lời thăm hỏi và nhắc nhở ấy đã chạm đến vùng sâu trong tôi, nên tôi cảm thấy đó chính là tinh thần tu sĩ Kitô giáo. Tinh thần này đã dìu dắt tôi trong suốt cuộc đời tôi, nhất là trong giai đoạn mệnh nước nổi trôi.
 
Lời của Đức Hồng y Phạm Đình Tụng, tôi coi là “di chức”, còn lời nhắc nhở của cha Cao Văn Đạt, thì như lời “khuyến khích” của người anh. Vì vậy mà tôi đã đi Hoàng Nguyên hai lần, lần này với anh Tùy và lần sau, năm 2005, đi với người cháu lớn con ông anh trong Sài-Gòn, về dự lễ chịu chức linh mục của một người thân trong nhà, là thầy Trần Đình Sơn.
 
Được biết trường Hoàng Nguyên bắt đầu chuyển những lớp lớn lên Piô XII Hà Nội từ niên khóa 1949-1950, chỉ còn lại lớp 7A và 7B.
 
Trong quyển Lịch sử địa phận Hà Nội 1926-1954, Paris 1994, của  Nguyễn Khắc Xuyên, chỗ này có sai biệt. Tác giả viết: “Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên thì vẫn còn mở cửa cho tới 1949 hay 1950. Lúc đó vì sự đi lại cũng không dễ, đồng thời việc tiếp tế không đơn giản, cho nên đành phải đóng cửa. Không phải không đau lòng. Lịch sử trường Hoàng Nguyên đượm nhiều niềm vui cũng như sự đau khổ. Nó đã đóng góp vào lịch sử địa phận trong thời bình, cũng như thời bắt đạo. Nhiều thừa sai ngoại quốc đã dạy học ở đây, đã xây dựng vật chất và tinh thần cho hàng giáo sĩ bản quốc.” (Sđd tr.223).
 
Như chúng tôi nói ở trên, niên khóa 1949-1950, Hoàng Nguyên bắt đầu chuyển những lớp lớn lên Piô XII Hà Nội, chính thức mở từ năm 1951. Tiền thân của nó là cơ sở Lacordaire. Hoàng Nguyên chỉ còn hai lớp 7A,7B. Như vậy, vẫn còn hai lớp gồm các chủng sinh, trong số này, như chúng tôi biết, đã có nhiều người là linh mục sau ngày vào Sài-Gòn. Chẳng hạn như, Lm Cao Văn Đạt, Lm Trần Văn Nghị, Lm Nguyễn Văn Luận v.v… Hoàng Nguyên chưa thật sự đóng cửa. Trường vẫn còn tiếp tục dưới một hình thức khác, như chúng tôi nói dưới đây.Cũng từ niên khóa này, cha xứ chúng tôi bắt đầu đưa hai người lớn trong chúng tôi đi trước, đó là anh Trần Đức Căn và anh Nguyễn Văn Thiện. Năm sau, 1950-1951, hai người này lên Piô XII Hà Nội, thì đến Nguyễn Văn Nhân, Phạm Văn Dánh và tôi.
 
Đây cũng là lần đầu tôi rời khỏi lũy tre làng đi học xa.Tôi được mẹ dẫn đi, mang theo thư của cha xứ gủi cha bề trên Giuse Kiều Năng Lợi, một linh mục khả kính, như được viết trong Nhật ký Vô đề của Đức Giám mục Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê, sau này là Hồng y tiên khởi của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Trên đường đi, mẹ tôi ghé vào chợ Cống, hỏi tôi cần mua gì thì mẹ mua. Ngày đó tôi chẳng thấy có nhu cầu nào, ngoài những vật dụng cá nhân, như chậu rửa mặt, khăn mặt, bàn chải răng và kem đánh răng. Chậu rửa mặt thì mẹ tôi mua thứ tráng men mầu trắng. Còn bút viết thì anh tôi mua trên Hà Nội cho, cây bút máy này, nhìn rõ ruột đựng mực ở bên trong. Tất cả đều mới. Mọi người trong nhà ai cũng vui vì tôi được cha xứ gửi đi Hoàng Nguyên, nơi đào tạo linh mục cho Giáo hội. Vì thế, đây là một “biến cố” lớn đối với gia đình tôi.
 
Ở chợ ra, mẹ con tôi lên xe đò đi xuôi xuống mạn cầu Guột, xuống xe đi vào Hoàng Nguyên phía tay trái. Trên đường đến trường, mẹ con tôi đi qua một cây đa cổ thụ, bên bờ một con sông, dưới gốc có một cái miếu. Mẹ tôi nói, đây là cây đa “giời ơi!”. Người ta nói, ở bên kia sông thỉnh thoảng có kẻ cướp sang bên này, thấy khách đi đường có tiền, nó bóp cổ chết, vứt xác xuống sông. Nạn nhân kêu lên mấy tiếng “giời ơi!” Từ đó người ta mới gọi chỗ này là thế. Bây giờ như con thấy kìa, có một cái miếu thờ những vong hồn chết oan. Nghe mẹ nói, tôi cầm lấy tay người, đi sát vào người để có chút hơi ấm.
 
Đến quá trưa, mẹ con tôi mới vào tới trường, sau khi đi ngang qua những con đường của đồng quê, hai bên là những ruộng mía tươi tốt. Bước chân vào tới cổng trường, tôi đã thấy một cảnh nô nức ở trong. Trước tiên là hồ nước bên phải cổng ra vào, những chú học trò nhỏ như tôi đang vùng vẫy dưới nước. Đi thẳng vào trong là tượng Chúa Giêsu Kitô Vua, dang tay rộng, đặt trước cửa nhà cha Bề trên. Mẹ tôi cầm tay tôi dẫn vào, trao cho ngài thư của cha xứ ở nhà. Xem thư xong, ngài mỉm cười nhận tôi, hỏi mẹ tôi đi đường có mệt không. Cha Bề trên nói, ngài và cha xứ chúng tôi là chỗ quen biết, tính người nóng lắm, phải không? Cha Bề trên lại cười, nét cười hiền hậu. Rồi ngài cho người dẫn mẹ tôi xuống nhà nghỉ dành cho khách ở xa không về được trong ngày. Còn tôi thì nhập vào “gia đình” Lê Bảo Tịnh. Nhà trường lấy tên một vị thánh để đặt cho mỗi lớp học. “Gia đình” Lê Bảo Tịnh gồm những học sinh tiểu học, phải đóng học phí.Tuy nhiên, nhà trường coi chúng tôi là người đi tu, vì có cha xứ bảo trợ gửi.
 
Tôi đi tìm tôi, cái tôi đích thực, đã bao năm ngủ im trong cõi lòng. Sinh ra vào cuối năm 1936, chưa đầy mười tuổi, tôi nghe người thân trong nhà kể chuyện tản cư. Người ở Hà Nội về, người ở làng thì đi. Còn bọn nhi đồng chúng tôi thì được tập hợp lại. Tối đến vào sân nhà thờ tập đi tập đứng. Ai có súng dài đẽo bằng cây thì mang theo, không có súng thì mang một cái gậy. Người anh rể họ Trần của tôi, ở Hà Nội về, đã đẽo cho tôi một cây súng bằng gỗ, trông như thật. Ở nhà được một thời gian, anh ra đi. Năm 1947, anh qua đời trong khu kháng chiến. Quân đội xếp anh vào loại “tử sĩ” nên vợ con anh không được hưởng một tí gì. Sau cải cách có chia cho chị mấy sào, nhưng vụ sau họ lấy lại ngay. Đứa con trai duy nhất của anh còn bị bắt đi bộ đội. Tức giận vì bị xử ép, cậu bỏ trốn, lên tuốt biên giới. Về sau, cậu ta nhớ mẹ ở nhà, bò về, nhưng vẫn ẩn mặt ở đâu đó. Mẹ cậu kể với tôi, nó nghĩ mình là trai tráng sống mãi thế này nhục lắm. Nó bèn ra trình diện, nhưng dứt khoát không đi lính, vì là con một, phải có bổn phận với mẹ. Chính quyền xã đành thôi. Lúc chồng mất, chị tôi mới có 25 tuổi, nhưng dứt khoát không đi bước nữa, dù ở làng có người này người kia hỏi. Chị ở vậy nuôi con. Người con này  về sau có vợ và sinh hạ được mấy con, có trai có gái. Người con trai lớn đi tu, thụ phong linh mục cuối năm 2005, đã nói trên đây, đầu năm 2007, sang Italia học, ngành Giáo phụ
 
Có một lần, thầy giáo xứ tôi, xuất thân từ trường Hoàng Nguyên, bậc Kẻ giảng, tuyển tôi vào ca đoàn của giáo xứ, sau đó ông lại ra nhà, thưa chuyện với thầy mẹ tôi, xin cho tôi đi tu. Thầy mẹ tôi bàn với các anh chị tôi, lúc đó chỉ còn một người anh ở nhà, người anh thứ hai thì ở Sở Kiện, giúp cha Trần Đình Cung. Cuối cùng mọi người trong nhà chấp thuận cho tôi đi tu, vào nhà chung ở với cha Phaolô Đỗ Đức Hanh. Năm đó tôi 12 tuổi, cái tuổi hình như được ấn định theo truyền thống, cho những ai muốn đi tu.
 
Tôi vào ở trong Nhà chung An Mỹ được mấy năm thì thầy giáo xứ tôi bỏ nhà xứ, bỏ trường học. Ông dấn thân vào đường chính trị, chống lại Việt Minh. Bây giờ đọc lịch sử của ngày ấy, tôi mới hiểu ra lẽ. Thời thế đẩy ông đến việc phải chọn lựa, giữa hai con đường. Một là con đường theo bậc “Kẻ giảng”, phục vụ giáo hội. Còn con đường kia đang đặt ra trước lương tâm của mỗi Kitô hữu, là họ đang phải đối diện với một thế lực biết rằng rất mạnh, và một khi thế lực này nắm trong tay quyền bính, sẽ có những hành động gây nguy hại cho giáo hội, mà họ là những đối tượng cần phải trừ khử trước tiên. Cuối cùng họ phải chọn con đường bảo vệ giáo hội, bảo vệ cả chính bản thân của họ nữa. Ngoài thầy giáo xứ này, làng tôi còn có một thầy Đại chủng sinh, lúc đó đã học năm thứ 4 trong tổng số 6 năm tại Đại chủng viện.Thân mẫu của ông thuộc họ Nguyễn chúng tôi, chi thứ nhất. Sau ngày vào Sài-Gòn, ông tham chính với chức Chánh văn phòng Sở Nghiên cứu Chính trị và Xã hội, trực thuộc Phủ Tổng thống thời Đệ I Cộng Hòa.
 
Trở lại việc tôi đi học ở Hoàng Nguyên từ niên khóa 1950-1951. Mặc dù chưa phải là một chủng sinh thực sự, song mọi sinh hoạt của “gia đình” Lê Bảo Tịnh chúng tôi, cũng áp dụng như các anh lớp 7, tức là chủng sinh. Kỷ luật được coi trọng nhất. Mỗi tháng chúng tôi phải làm một tờ bích báo, làm xong thì treo lên tường ở đầu nhà. Có chấm điểm. Tôi được chọn vào ban biên tập. Ngoài ra, hàng tháng chúng tôi còn có một bảng xếp hạng về hạnh kiểm, treo bên cạnh tờ bích báo. Kỷ luật trong trường tu là một vấn đề quan trọng bậc nhất, đặt trên cả tài năng về học vấn. Trong suốt năm học đầu này, chỉ có một lần tôi ở hạng hai, một lần hạng ba. Còn lại tôi đều ở hạng nhất. Cuối năm học, trước khi đi nghỉ hè, một vài anh lớp trên chúc mừng tôi: “chú Tùy sung sướng quá, được các cha để ý đấy. Chú đứng đầu về kỷ luật”. Trong số các anh lớp trên, có Chiểu “kính trắng” là mến tôi nhất. Anh rủ tôi, mỗi tháng làm một “bó hoa thiêng liêng” dâng cho Đức Mẹ. Bó hoa này gồm nhiều hoa, nhiều mầu sắc. Đó là, lần chuỗi Mân côi, chầu Thánh Thể, viếng Đức Mẹ ở các tượng đài ngoài nhà thờ, tham dự thánh lễ, rước lễ, rước lễ thiêng liêng, hãm mình, hy sinh, nhịn nhục. Năm học sau, tất cả lớp anh chuyển lên Piô XII Hà Nội thì tôi không gặp lại anh nữa. Cho mãi đến thời gian sau ngày vào Sài-Gòn, chúng tôi mới lại gặp nhau. Có lần anh rủ tôi vào Tu viện Cát Minh (Dòng kín) giúp lễ. Thế rồi, lại xa nhau hàng chục năm, mãi đến sau ngày 30-4-1975, tình cờ lại gặp nhau, kể cho nhau nghe chuyện đời mình. Tôi nói, người có lòng đạo như anh, chắc hẳn là có an bình, có hạnh phúc gia đình chứ? Anh bảo, không đâu Tùy ơi! Bây giờ tôi trắng tay rồi, Có lúc mình lao đầu vào làm ăn và làm giàu, quên cả Chúa nữa. Tôi phải bỏ lại ở Đà Nẵng tất cả những gì tôi có để chạy về đây. Anh lại hẹn tôi đi tĩnh tâm ở Dòng Biển Đức nữ dưới Thủ Đức, đi Dòng Nagia  một ngày, chiều đến ghé vào Dòng Thánh Thể, dự giờ nguyện kinh Phụng vụ với các Tu sĩ trong Dòng, sau đó là giờ chầu Thánh Thể. Rồi, anh đưa gia đình vượt biên.
 
Tôi xách valy quần áo về quê nghỉ hè, mang theo sổ học bạ. Về đến nhà xứ, tôi cầm lên trình cha xứ. Ngài xem xong, nói một câu mà cho mãi đến bây giờ tôi vẫn không quên được, vì đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi được nghe ngài gọi tôi là “anh”. Vì trong cuốn sổ đó, ngoài những điểm về học tập, còn ghi về hạnh kiểm hay kỷ luật. Tổng kết lại năm học đó, tôi đứng đầu danh sách xếp hạng. Bên cạnh tên tôi, danh sách có một cột ghi tên linh mục bảo trợ. Có lẽ điều này làm ngài vui. Vì thế, người bảo tôi:”Cho anh về nhà chơi, chiều vào. Mời bà cụ vào đây.”
 
Tôi về nhà, thưa với mẹ là cha xứ mời mẹ vào. Mẹ tôi vào nhà xứ ngay, một lát sau trở về. Vừa thấy người bước vào đến cổng nhà, tôi thoáng thấy người có nét vui trên khuôn mặt nhăn nheo và khắc khổ vì tuổi tác. Mẹ tôi kể lại cho cả nhà nghe về việc học hành và hạnh kiểm của tôi trong năm học vừa qua. Người bảo, cha xứ mừng lắm vì tôi đã giữ kỷ luật tốt.
Phải chăng ngài hy vọng ở tôi…
Đây là lần duy nhất trong đời, tôi đã là niềm vui của cha xứ và của gia đình tôi.
 
Đến năm học sau, 1951-1952, hai lớp 7A, 7B chuyển lên Piô XII Hà Nội. Như thế, ở Hoàng Nguyên chỉ còn “gia đình” Lê Bảo Tịnh chúng tôi là có liên quan đến đời sống “tu trì”. Hai chữ tu trì ở đây tôi dùng tạm vậy. Vì năm đó, chúng tôi vẫn thuộc diện nội trú như mọi học sinh khác của trường. Cho nên chúng tôi chưa được chính thức là “chủng sinh”, hay gọi theo các anh lớn vẫn gọi các thành phần trong chủng viện như mình là séminarist, tuy rằng chúng tôi đã và đang được đào tạo và giáo dục ngay từ khi vào nhà chung tại xứ đạo mình, tức là trước khi vào Hoàng Nguyên. Vì thế, khi nhà trường không có chủng sinh để phục vụ bàn thờ và các việc khác, các cha đã giao các việc trên nhà thờ cho một số trong chúng tôi, bởi khi còn ở nhà với cha xứ, thường thường là chúng tôi đã làm những việc này rồi. Riêng tôi, ngày khai giảng năm học 1951-1952, tôi được chọn thay cho toàn thể học sinh của trường đứng trước mặt cha Bề trên, các cha và các thầy, đọc lời chào mừng cha Bề trên, các cha và các thầy cùng toàn thể các bạn học sinh. Tôi còn nhớ, lời chào mừng nhân ngày khai giảng niên khóa mới này, được viết trên một trang giấy, do thầy Thịnh đưa tận tay cho tôi.
 
Sau ngày di cư vào Sài-Gòn, tôi đã gặp lại thầy Thịnh và thầy Quý. Thầy Quý năm đó dạy lớp Nhất chúng tôi. Cả hai đã lập gia đình.
 
Nhưng đến một ngày, Trường Hoàng Nguyên đã thật sự chấm dứt vai trò lịch sử trăm năm của nó trong việc đào tạo nhân sự cho Giáo hội. Đó là vào một buổi sáng của Đệ nhất bán niên, nay gọi là Học kỳ I của niên khóa 1951-1952, trường có một trận thi đấu bóng chuyền giao hữu với một đội của Việt Minh. Trong thời gian thi đấu, không có chuyện gì xảy ra.. Bên cán bộ Việt Minh ra về và trường trở lại nếp sinh hoạt cũ, như ăn cơm trưa, nghỉ trưa trong không khí bình lặng cố hữu. Sau giờ nghỉ trưa là đến giờ học, lớp nào vào lớp đó. Riêng có “gia đình” Lê Bảo Tịnh là lên Nhà Khảo học bài như mọi ngày. Nhà Khảo gần với nhà cha Bề trên.Vào khoảng 3,4 giờ chiều, cả khu vực nhà trường rộng lớn vẫn đang trong không gian yên lành, bỗng dưng ré lên những tiếng đạn bay trùm xuống trên đầu chúng tôi, liên tục trong vòng vài phút đồng hồ. Tất cả chúng tôi đều hoảng sợ, chui xuống các gầm bàn ghế, nằm rạp xuống đất.Mấy quả đạn ấy không giết được ông cán bộ Việt Minh nào, mà chỉ làm thương tích vài học trò nhỏ chúng tôi và làm thiệt hại vật chất của nhà trường một tí. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng người Pháp không có chủ trương triệt hạ ngôi trường Hoàng Nguyên, khi họ chỉ bắn vài quả đạn. Việc này thật bẩn thỉu.
 
Sau này tôi được biết, cuộc bắn phá đó do lính Pháp từ đồn Đỗ Xá thực hiện, nhằm giết mấy ông cán bộ Việt Minh đến trường đấu bóng chuyền giao hữu từ hồi sáng. Họ đã đi khỏi lâu rồi. Và biết đâu chừng, chính họ đã báo tin cho Pháp biết, trường Hoàng Nguyên có Việt Minh về!
 
Sau khi nhà trường trải qua những giờ phút bấn loạn của biến cố lúc chiều, buổi tối tất cả chúng tôi lên nhà thờ. Cha Bề trên Giuse Kiều Năng Lợi, một người cha rất đáng kính và thánh thiện, từ từ bước lên bục giảng. Với dáng người nhỏ bé, hiền từ, tối nay trông người trầm hẳn xuống, lời nói luôn đứt quãng, vì người khóc. Người nhắn nhủ chúng tôi vài lời:
 
Sáng mai các con hãy thu xếp quần áo, chăn  màn, sách vở cho gọn vào va ly, khóa lại cẩn thận, bên ngoài các con nhớ đề tên, làng quê của các con, rồi mang lên nhà cha. Sau này yên hàn các con trở lại lấy. Trong các con, ai ở Hà Đông, Hà Nội thì theo các cha và thầy Thư hướng dẫn, xuống tàu về Hà Nội. Còn các con ở Hà Nam thì ra xe về. Cha sẽ cầu nguyện cho tất cả chúng con trở về quê bình yên.
 
Cha Bề trên dứt lời và không nói thêm được gì nữa. Người lại khóc. Chúng tôi cũng khóc. Người bước xuống bục giảng, lặng lẽ lui vào trong.
 
Ngày hôm sau, chúng tôi ăn bữa cơm cuối cùng ở trường rồi anh em đi tìm nhau để chia tay. Đoàn chúng tôi thuộc tỉnh Hà Đông, khoảng 20 người, theo thầy Thư đi ra đồn Mai Xá ngoài bờ sông Hồng để xuống tàu ngược lên Hà Nội. Các chú con cha Đỗ Đức Hanh, ngoài tôi ra, còn có Nguyễn Tùy, Vũ Văn Giảng và Phạm Văn Thường. Khi ra tới đồn Mai Xá, thầy Thư vào trong nói chuyện với lính Tây. Lát sau, một người lính đi ra tay cầm súng bắn mấy phát chỉ thiên để gọi tàu ghé bờ. Chúng tôi lên tàu. Hôm đó trời có trăng, tôi lên boong tàu, ra lan can đứng nhìn trăng nhìn dòng nước. Ngày mai tôi sẽ trở về quê, việc học lại dang dở.
 
Khoảng 10 giờ đêm, tàu cập bến. Thầy Thư dẫn chúng tôi về Nhà chung Hà Nội. Một lúc sau, tôi nghe có tiếng người đứng ở bên ngoài phòng chúng tôi, hỏi vào: “Các chú nào là con cha già Hanh thì sang bên này”. Đó là Linh mục Vũ Hải Thiện, người trong họ tôi. Thân mẫu ngài thuộc chi tộc thứ nhất họ Nguyễn. Ngài dẫn chúng tôi tới một phòng bên trường Dũng Lạc, nơi ngài dạy học. Sáng hôm sau ngài cho người dẫn chúng tôi ra bến xe Cửa Nam, lên xe về quê.
 
Tôi ở nhà được ít ngày thì anh tôi ở Sở Kiện về, xin cha xứ cho tôi đi với anh xuống Sở Kiện để học..Cha xứ chấp thuận, nhưng chẳng bao lâu, ngài bảo tôi phải lên Phủ Lý, ở trong nhà xứ với cha Phạm Ngọc Biểu, là con thiêng liêng duy nhất của ngài chịu chức Linh mục. Anh Thiện cũng đã xuống Phủ Lý học rồi.  Sau ngày vào Nam, cha Biểu đã về Phú Bình, Sài-Gòn, lập một trại định cư ở đó. Học ở Phủ Lý được một thời gian thì anh tôi không ở Sở Kiện nữa, anh lên Hà Đông, nhập vào cộng đoàn của cha cử Matthêô Trần Trinh Khiết. Anh lại kéo tôi lên và muốn tôi cùng vào cộng đoàn này với anh. Nhưng tôi chưa định tính được, đang trong giai đoạn trái tính trái nết, kỳ cục lắm. Vì đời sống ở cộng đoàn này khác nhiều với không khí học tập ở trường Hoàng Nguyên. Có lẽ vì vậy mà tôi trở nên khó hiểu trước con mắt của một vài người trong cộng đoàn, vì họ nhiều tuổi hơn tôi, bằng lứa tuổi với anh tôi, có người nhiều hơn .
 
Như thế là, những trang sách trên đây, tôi đã ghi lại ký ức tôi có về giai đoạn cuối cùng của trường Hoàng Nguyên, thường được nhắc đến là ngôi trường La tinh, nơi đào tạo các chủng sinh trở thành Linh mục. Thật là ngắn ngủi, tôi chỉ mới ở đây được hơn một niên khóa. Thế nhưng, đối với tôi, đó lại là một thời kỳ đẹp nhất, quý nhất. Đẹp và quý, chính vì nơi đấy cùng với những năm sống trong Nhà chung ở quê, tôi đã có được một tinh thần, tôi gọi đây là tinh thần tu sĩ Kitô giáo. Phải, chính cái tinh thần này, tôi có được ở thời kỳ đẹp nhất của một con người bình thường, trong một gia đình trung lưu thuộc Đồng Bằng Sông Hồng, đã nâng đỡ tôi, giúp tôi chống chọi được với bao nhiêu gian tà trên đường đời. Đó cũng là lý do, tại sao tôi yêu quê hương tôi và yêu ngôi trường Hoàng Nguyên. Tôi nhớ hai nơi này một cách khó tả, Nhớ như nhớ một người tình diễm kiều và chung thủy, cho dù thời gian cách biệt có làm cho nhan sắc người tình nhạt phai. Mà có khi chính những nét phong trần của thời gian, lại là một ấn tượng sâu đậm nhất trong cõi lòng u hoài của những người đã sống gần nhau rồi xa nhau.
 
Quê hương tôi, An Mỹ, và Trường Hoàng Nguyên, là “nửa thân mình tôi”.
 
Đó là tâm trạng của tôi lúc đứng trước cổng trường Hoàng Nguyên vào buổi sáng ngày 12 tháng 11 năm 1997, bên cạnh tôi là anh Nguyễn Tùy và một người ở ngoài nhà xứ Hoàng Nguyên, do Linh mục chính xứ Bùi Tám nhờ hướng dẫn chúng tôi đi thăm trường cũ và đền thánh Giuse, ở bên ngoài nhà trường.
 
Hồ nước là nơi ngày trước chúng tôi xuống tắm, ở gần cổng trường, nên nó đập vào mắt tôi trước hết. Nước trong hồ không còn trong xanh như xưa. Các bậc gạch xuống hồ đã bị lở đi nhiều, cũng không còn nét son của ngày cũ nữa. Đi sâu vào trong, tượng Chúa Kitô Vua dang rộng tay đã không còn ở chỗ cũ. Về sau nghe nói tượng đã chuyển về trước cửa nhà thờ làng Hoàng Nguyên, từ năm nào thì không biết. Theo lời Linh mục Giuse Trần Văn Nghị (+), năm 1987, ngay sau khi ở trại cải tạo ra, cha đã về thăm Hoàng Nguyên ngay, đã thấy như thế rồi. Phía sau tượng là nhà cha Bề trên, lùi vào trong bên phải là dẫy nhà “gia đình” Lê Bảo Tịnh chúng tôi và bên trái là nhà của các anh hai lớp 7, vẫn còn đó. Vào sâu bên trong nữa, những dẫy nhà khác cũng thế. Nhưng lạnh lẽo, tiêu sơ và đổ vỡ nhiều. Tôi không thấy có một hình bóng người nào, mặc dù có vài chiếc quần áo phơi trước cửa nhà cha Bề trên. Nghe nói, đó là quần áo của các giáo viên đang dậy học ở đó. Chúng tôi vào nhà thờ của trường. Đột nhiên trong tôi hiện ra hình ảnh cha Bề trên Kiều Năng Lợi trong dáng dấp trầm xuống, mệt mỏi, lo âu bởi biến cố xảy ra buổi trưa hôm đó. Tôi cũng không quên khung cảnh trong nhà thờ buổi tối hôm ấy, toàn thể học sinh chúng tôi lặng lẽ nghe cha Bề trên nhắn nhủ vài lời trước khi cha con chia tay nhau vào ngày hôm sau. Tôi quỳ xuống ghế, cúi đầu khóc… Rời trường Hoàng Nguyên, chúng tôi ra ngoài thăm đền thánh Giuse. Cả ở đây, tôi thấy như thiếu bàn chân và bàn tay của con người. Từ cánh cửa sắt cho đến các bức tường, có lẽ đã lâu lắm không được ai sơn phết lại. Nét rêu phong của thời gian buồn phiền đã phủ kín ngôi đền.
 
Người hỡi! Bây giờ thôi đã hết
Dấu xưa hồn cũ thấy mà đau!
Nao nao chiếc lá rơi về cội
Cảnh đó mà sao thấy vắng người?!
 
TIẾNG GỌI CỦA MẸ
 
Tôi về thăm nhà lần này vào dịp làng vào hội liên hoan, Tạ ơn, sau khi hoàn thành công trình đại tu nhà thờ. Anh tôi thì ở trong Ban hành giáo, cậu con trai của  người chị mà chồng đã chết trong kháng chiến cũng ở trong ban này, tổ trưởng Tổ nhân lực, còn các cháu khác cũng đều có công việc được phân công rạch ròi liên quan đến ngày hội thế kỷ của làng. Cho nên cả một tuần lễ tôi có mặt ở nhà mà vẫn chưa xuống nghĩa trang viếng mộ các cụ và cha mẹ tôi được, là vì không có mặt đầy đủ con cháu nội ngoại của các ngài, có người này lại thiếu người kia. Do đó, tôi dự trù để sau khi xong việc làng rồi mới đi. Nhưng sau ngày lễ, tức ngày 11-11, chúng tôi tiễn cha Hiền lên Hà Nội để ngài trở vào Sài-Gòn, rồi tôi lại cùng một người anh em linh tông đi Hà Đông, vào Thạch Bích. Về tới làng thì đã chiều tối rồi, cũng không đi viếng phần mộ các cụ được nữa. Đến nửa đêm về sáng ngày hôm sau, 12-11, tôi còn đang ngủ trên giường, bên cạnh anh tôi, thì có tiếng gọi phát ra từ phía buồng gần giường tôi đang nằm: “Tùy ơi!” Tôi bật ngồi dậy, hỏi! “Ai gọi tôi?”Anh tôi nói: “Không có ai gọi đâu, chú cứ ngủ đi.” Nhưng tôi không thể nào nhắm mắt được nữa. Rõ ràng đó là tiếng gọi tôi, phát ra từ cái buồng. Cái buồng này ngày trước, lúc tôi chưa vào Nhà chung An Mỹ, là nơi tôi ở suốt mấy tuần lễ, nghe nói vì đau mắt hột. Để tránh ánh sáng, mẹ tôi bắt tôi phải ở trong buồng kín để hàng ngày vào buổi chiều, bà nhai lá trầu không, rồi lấy đầu lưỡi chà đi chà lại vào tròng con mắt. Mắt tôi xót như vết thương xát muối vậy, tôi cắn răng chịu đau mà không dám khóc.
 
Ôi tình Mẹ! Từ ngày bước chân ly hương còn yếu ớt rời xa quê nhà, con vẫn nhớ đến Mẹ, nhớ đến những năm tháng Mẹ ngược xuôi về việc học hành của con. Có bao giờ con quên hình bóng Mẹ đâu! Cả một tuần lễ nay về thăm nhà mà con chưa đi thăm viếng phần mộ Mẹ, Cha được, vì như Mẹ biết đó, anh con này, các cháu này đều rất bận công việc trong nhà thờ, nhà xứ. Chiều hôm nay, chúng con sẽ đi thăm Cha Mẹ, Mẹ ạ!
 
Năm 1964, mười năm sau ngày tôi rời xa quê hương, mẹ tôi qua đời. Tôi nhận được tấm thiệp mầu trắng (*)của một người cháu, có bố là tử sĩ, từ quê gửi vào. Trên tấm thiệp, cháu tôi viết: “Ngày đưa Bà, cháu vịn vào áo quan của Bà, nhìn quanh nhìn quẩn cũng chẳng thấy hai cậu đâu. Mẹ con và dì Nhường vừa khóc Bà vừa gọi tên hai cậu…”
 
Được tin trên, tôi nằm nhà suốt mấy ngày. Rồi một đêm tôi nằm mơ thấy mình đi vào một nhà thờ. Ở trên Cung thánh có đặt một cây thánh giá lớn, có hình Chúa Giêsu chịu đóng đinh, quen dùng trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hàng năm, trước lễ Phục Sinh (PAX).Tôi quỳ gối, hôn nơi vết thương của Chúa. Bỗng chốc Chúa ngồi dậy, ôm lấy tôi. Chúa hỏi: “Con xin điều gì?” Tôi thưa ngay: “Xin cho Mẹ con được về với Chúa”.

----------

(*) Theo quy định của Hiệp định Genève (Thụy sĩ) năm 1954, giải quyết chiến tranh Việt-Pháp (1945-1954), người dân hai miền Nam-Bắc được trao đổi với nhau qua thư từ, bằng một tấm thiếp bỏ ngỏ, không có phong bì.Miền Bắc dùng mầu trắng, miền Nam mầu vàng.


@.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 03.8.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn