Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (3)






     Mất Nỏ Thần- Tan Nhà - Mất Nước



Nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương mất năm nào? Các tài liệu ghi khác nhau.

Sách giáo khoa của Việt Nam căn cứ Sử Ký Tư Mã Thiên ghi nước Âu Lạc mất năm 179 TCN. Sử Ký chép Triệu Đà diệt nước Âu Lạc "Sau khi Lã Hậu chết". Lã Hậu chết năm 180 TCN, do đó nước Âu Lạc mất khoảng năm 179 TCN.

Cao Lỗ & Nỏ Thần hùng khí Bách Việt
   Cao Lỗ là bậc hiền tài lừng lẫy của nước Âu Lạc. Cao Lỗ- Anh hùng sáng tạo văn hóa- Biểu tượng của trí tuệ, sức mạnh Việt Nam thời dựng nước Âu Lạc, với Nỏ Thần và Thành Cổ Loa.
   Cao Lỗ (? - 179 TCN) còn gọi là Cao Nỗ, Cao Thông, Đô Lỗ, Thạch Thần, là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê xã Cao Đức, huyện Gia Bình- Bắc Ninh ngày nay.
   Cao Lỗ sáng chế nỏ Liên Châu (bắn được nhiều mũi tên một phát) gọi là Nỏ Thần. Ông là người khuyên Thục An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng. Cao Lỗ được An Dương Vương giao thiết kế và chỉ huy công trình xây thành Cổ Loa.
   Trước nguy cơ giặc Bắc phương xâm lược, Cao Lỗ sáng chế Nỏ Thần tiếp nối những tri thức chế tạo vũ khí của Tổ Tiên Bách Việt, được biết đến qua Bát Bộ Kim Cương- Tám vị em trai Hương Vân Cái Bồ Tát là Tổ nghề sắt, đúc đồng, rèn vũ khí đánh giặc và chế tác những Trống Đồng nổi tiếng của người Việt.
   “ Họ Đỗ vốn từ họ Nguyễn tách ra rất sớm, gọi là Nguyễn Đỗ, từ Bình An Tổng, Vân Lôi Trang xuống vùng đất hồ mây mù (Hà Nội ngày nay) lập nghiệp, trồng lúa, đánh cá. Ông bà sinh được chín người con, một gái tám trai, người đời gọi ông là Long Đỗ.
   Chị cả tu thành Hương Vân Cái Bồ Tát. Tám em trai có công cùng chị nuôi dạy Nguyễn Lộc Tục và rèn các loại vũ khí, giúp cháu đánh giặc, được dân tôn Pháp hiệu Bát Bộ Kim Cương. Trong các chùa Việt đều có tượng Bát Bộ Kim Cương và bài kinh Hành Lễ Bát Bộ Kim Cương “…Kim Cương bất hoại thân/ Lại mây nhân duyên ấy/ Được sức bền vững lớn/ …”
   Tám vị Bát Bộ Kim Cương là tám con người thật được phong Phật hiệu. Đỗ Xương- Thanh Trừ Tai Kim Cương. Đỗ Tiêu- Tịch Độc Thần Kim Cương. Đỗ Hiệu- Hoàng Tùy Tai Kim Cương. Đỗ Cường- Bạch Tịnh Thủy Kim Cương. Đỗ Chương- Xích Thanh Hỏa Kim Cương. Đỗ Dũng- Tịnh Trừ Tai Kim Cương. Đỗ Bích- Từ Hiền Thần Kim Cương. Đỗ Trọng- Đại Lực Thần Kim Cương”.
                                                                 (Đi Tìm Tổ Tiên Việt- Mai Thục - NXB Văn Hóa Thông Tin- 2014- trang 90)
   Cao Lỗ phát minh Nỏ Thần, vũ khí thần dũng vô địch của nước Âu Lạc, lại có tài bắn nỏ, dân gian gọi ông là Ông Nỏ.
   Nỏ Thần của Cao Lỗ các mũi tên đều bịt đồng sắc nhọn, bắn một lần được nhiều phát. Sử sách cũ gọi là: "Linh Quang Thần Cơ".
   Sách Lĩnh Nam chích quái chép:
   “Cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám đến gần”.
   Khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc, bị các tay nỏ Liên Châu bắn tên ra như mưa, thây chết đầy đồng, phải lui binh.
   Truyền thuyết kể Triệu Đà chiếm Âu Lạc bằng bạo lực không được, bèn lập xảo kế thông gia. Cho con trai Trọng Thủy lấy Mỵ Châu, con gái An Dương Vương.
   Cao Lỗ phản đối, khuyên vua không nên thông gia với Triệu Đà. An Dương Vương không nghe Cao Lỗ, lại theo lời gièm pha, ghen ghét hiền tài của Lạc hầu. Cao Lỗ bị vua xa lánh. Ông bỏ vua, đi ở ẩn.
   Đúng dự đoán của Cao Lỗ về mưu gián điệp của Triệu Đà. Trọng Thủy lấy Mỵ Châu, ở rể, biết bí mật quốc gia của An Dương Vương và lấy cắp Nỏ Thần, về dâng Triệu Đà. Nắm được Nỏ Thần, Triệu Đà đánh Âu Lạc.
   An Dương Vương mất Nỏ Thần hồn bay, phách lạc. Quân Triệu Đà đánh chiếm Cổ Loa. An Dương Vương thua chạy. Quân Triệu đuổi theo. Cao Lỗ biết tin, đón đường chặn đánh quân Triệu, cứu vua. Nhưng do Mỵ Châu rải lông ngỗng để Trọng Thủy lần theo, Cao Lỗ đã tử trận.
An Dương Vương phụ Cao Lỗ
   Chuyện kể rằng:
   Một lần Thục An Dương Vương hỏi tướng quân Cao Lỗ:
   - Mấy năm nay họ Triệu với Âu Lạc giao hảo thuận hòa. Nay con trai họ là Trọng Thủy muốn cầu hôn với Mỵ Châu, ông nghĩ thế nào. Riêng ta muốn chấp thuận lời cầu hôn, cốt để hòa hiếu, tránh nạn binh đao.
   Cao Lỗ suy nghĩ hồi lâu rồi tâu:
   - Việc này hệ trọng lắm, xin Vương thượng cho nghĩ ba ngày.
   Cao Lỗ thâu đêm nung nấu nghĩ suy: “Ý vua An Dương Vương đã rõ, nếu ta không chấp thuận có thể bị bãi chức. Nếu đồng tình thì vận nước có cơ nguy”.
   Mấy hôm sau, vào chầu vua, Cao Lỗ tâu:
   - Xưa nay chưa thấy kẻ bại trận lại xin cho con trai ở rể. Chẳng qua họ muốn tiến sâu vào đầu não của Loa Thành mà thôi. Việc ngàn lần không nên.
   An Dương Vương đùng đùng nổi giận:
   - Họ Triệu đánh mãi Âu Lạc không thắng, muốn mượn chuyện cầu hôn để xí xóa hiềm khích. Ta lẽ nào không thuận? Ông già rồi. Ta cho ông về nghỉ.
   Cao Lỗ không ngạc nhiên, điềm tĩnh nói:
   - Việc đúng/ sai còn có vầng nhật nguyệt soi sáng. Thần không ân hận khi nói điều phải vì an nguy của sơn hà xã tắc.
   Nói xong, Cao Lỗ dứt bỏ mũ áo cung đình ra đi. Ông nuốt nước mắt, bỏ lại An Dương Vương, và thảm họa mất nước đang rình rập Loa Thành.
   Do lo âu trước nguy cơ mất nước, nên khi từ quan về quê, Cao Lỗ tướng quân vẫn bí mật triệu tập quân sĩ, ngày đêm luyện tập, phòng khi bất trắc, ra tay diệt giặc.
Cao Lỗ - Danh tướng thời dựng nước
   Tháng 5- 2013. Tại quê hương Cao Lỗ. Hội thảo khoa học Cao Lỗ - Danh tướng thời dựng nước khẳng định Cao Lỗ là danh tướng có thật. Những câu chuyện về chiếc nỏ của Cao Lỗ là chuyện thật.
   Nỏ Thần- Vũ khí bí mật quốc gia Âu Lạc có sức mạnh chiến thắng là có thật.
Mất Nỏ Thần- Tan Nhà- Mất Nước là sự thật.
   Năm 1959. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện hàng vạn mũi tên đồng Cổ Loa. Chủ nhân của mũi tên ba cạnh được xác định là của người Việt sống vào thời An Dương Vương. Cuộc khai quật của các nhà khoa học trong thành nội của Cổ Loa tìm được lò đúc, khuôn đúc mũi tên đồng.
   Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Sinh, Viện Khảo cổ học Việt Nam nhận định: “Đây là bằng chứng thuyết phục nhất. Đó là khuôn đúc mũi tên ba cạnh, được đúc bằng khuôn ba mang và đã cải tiến. Trình độ đúc của người Việt lúc đó khá cao. Đây là những khuôn bằng đá, có thể đúc liên tục, khác hẳn với khuôn đúc bằng gốm”.
   Nỏ Liên Châu chính là kỹ thuật chế ra những chiếc lẫy nỏ có “chốt giữ liên hoàn” để có thể một lần bóp cò bắn ra nhiều mũi tên. Tác dụng của kỳ vĩ này, không những giết được nhiều giặc, mà còn làm cho chúng khiếp sợ, hoang mang tinh thần.
   Gần đây, nhóm nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử quân sự và Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á cùng các nghệ nhân ở Hòa Bình đã phục dựng thành công bước đầu chiếc nỏ của tướng Cao Lỗ sáng chế.

Nỏ Thần- Văn minh Người Việt cổ
   Những phát hiện về khảo cổ những mũi tên đồng Cổ Loa cho thấy nhiều điều thú vị về người Việt cổ.
   GS-TS Phạm Văn Hường nhìn từ góc độ khoa học: Khi phân tích, bằng những phương pháp vật lý hiện đại, những mũi tên cùng những hiện vật lưu trữ ở Viện Khảo cổ Hà Nội - tương tự như những cổ vật trên các hình ảnh chụp từ Bảo tàng Viện Lịch sử và Triển lãm tư nhân Vân Hồ - nhờ sự ân cần của GS Hà Văn Tấn, thấy những mũi tên có chứa những thành phần kim loại tương tự như thành phần các trống đồng thời Đông Sơn, kể cả trống đồng Ngọc Lũ.
   Những nguyên tố chính tìm được là đồng, chì, thiếc, titan. Nhất là không có kẽm.
   Riêng trong các mũi tên đồng, còn tìm thấy nguyên tố sắt. Sự có mặt của sắt trong các mũi tên chứng tỏ người Việt cổ đã biết luyện kim chứa một nguyên tố có nhiệt độ nóng chảy trên 1.500oC. Mục đích của họ chú ý làm những mũi tên cứng mạnh, dễ xuyên sâu vào mục tiêu.
   Số lượng lớn các mũi tên đồng, những lẫy nỏ Cổ Loa tìm được, cho phép chúng ta khẳng định thời Việt cổ vùng Cổ Loa đã có một lực lượng quân sự được phân thành đoàn tiểu xạ gồm nhiều tay nỏ.
   Trước sự kiện kỹ thuật ấy, chúng ta kính phục và ngưỡng mộ tư duy và trình độ kỹ thuật của các nghệ nhân luyện kim thời Việt cổ.
Binh công xưởng tại Loa Thành
   TS Lại Văn Tới (Trung tâm nghiên cứu kinh thành) cho biết: Từ năm 1959 ở Cổ Loa đã phát hiện được kho tên đồng hàng vạn mũi tại khu vực Cầu Vực. Nhưng phải tính từ cuộc khai quật Đền Thượng năm 2005 phát hiện di tích lò đúc mũi tên đồng cùng các khuôn đúc mũi tên ba cạnh thì truyền thống “nỏ thần” mới dần dần được chứng minh bằng những hiện vật, bằng những luận cứ khoa học xác đáng …
   Những gì đã phát hiện cho phép xác định rằng khu vực tây nam thành Trong xưa là một “binh công xưởng” - có thể không phải duy nhất - làm nhiệm vụ đúc mũi tên trang bị cho quân đội của An Dương Vương.
   Dạo Thành Cổ Loa hôm nay, chúng ta gặp nhiều địa danh gắn liền với truyền thống thiện chiến sử dụng cung nỏ thời An Dương Vương: gò Đống Bắn, Ngự xạ đài, Cường Nỗ, Uy Nỗ, Kính Nỗ... Cổng Gỗ - tương truyền là nơi đặt lò đúc mũi tên, Cầu Dâu - nơi vua thường cho chở đồng đến.
   Chưa (và khó có thể) có số liệu chính xác về quân số quân đội thời Cổ Loa nhưng với số lượng lớn mũi tên cùng với quy mô “khu binh công xưởng” được phát hiện có thể đoán định rằng quân đội của An Dương Vương tập trung với số lượng lớn, được trang bị và huấn luyện tốt.
   Khu vực Đền Thượng đã được khai quật ba lần liên tiếp trong ba năm (2005, 2006, 2007) để nghiên cứu và bảo tồn tại chỗ di tích đặc sắc này. Cây nỏ linh thiêng có sức mạnh vô địch “chỉ sông sông cạn, chỉ ngàn ngàn tan” đã đậm nét trong truyền thuyết đang được các nhà khoa học khẳng định người Việt đã đúc được mũi tên bằng “công nghệ cao”. Người đứng đầu “dây truyền công nghệ cao” đó là tướng quân Cao Lỗ. Cao Lỗ là vị Tổ sư của ngành quân khí Việt Nam.
Bài học Vua phụ hiền tài- Mất nước
   Nghiên cứu Nỏ Thần và Cao Lỗ, người Nấu Sử Sôi Kinh bên Hồ Gươm bỗng vỡ ra một bài học lớn vô cùng hệ trọng Vua phụ hiền tài- Mất nước.
   Bài học xương máu thật, lại tưởng đùa. Bài học An Dương Vương không nghe lời can ngăn của Cao Lỗ, đuổi ông về quê, dẫn đến thảm họa vua/ con cùng chết thảm thê, nhà tan, nước mất là có thật.
   Đời sau không nhận ra bài học máu xương Vua phụ hiền tài- Mất nước nên thảm họa cứ trở đi, trở lại đất nước này, như một nghiệp chướng. Máu xương vẫn chảy dập dồn mấy nghìn năm, thấm đẫm nước Việt của Mẹ Âu Cơ, chính bởi Vua phụ hiền tài.
   Bạn hãy tính đếm, trong lịch sử vua cai trị đất nước Việt mấy nghìn năm qua, có bao nhiêu vị hiền tài lững lững chiến công, hiến dâng tài năng, trí tuệ, đức hy sinh, dũng cảm can ngăn, dâng kế sách để bảo vệ sự trường tồn, vững mạnh, hòa bình của đất nước như Cao Lỗ… đã bị diệt, bị bạc đãi với những bi kịch oan khuất thảm thê, sử sách còn ghi.
   Về Triệu Đà, hiện nay đang được tiếp tục nghiên cứu . Song dù Triệu Đà là người Trung Quốc sang cướp nước Âu Lạc, hay Triệu Đà là người Bách Việt đánh Âu Lạc xưng vua, lập nước Nam Việt, thì bài học An Dương Vương phụ Cao Lỗ, để mất nước Âu Lạc vẫn vẹn nguyên như thế!
   Dân gian Việt đã rất khôn ngoan truyền dạy nhau: “Cha nó lú, chú nó khôn”, “Con hơn cha, nhà có phúc”,“Lật thuyền là Dân”…
   Nhưng trong thực tế, những người cai trị đất nước không nghe lời nói phải vì quyền Dân, lợi Nước. Bởi họ tính quyền lợi của vua và cung đình trên quyền lợi Quốc gia, đồng bào.
   Họ quên rằng lịch sử đã chứng minh: Mất Nỏ Thần, Tan Nhà, Mất Nước
Hào quang hiền tài Cao Lỗ
   Dù bị vua phụ. Cao Lỗ vẫn xả thân cứu dân, cứu nước, cứu vua khi sơn hà nguy biến. Hiền tài Bách Việt có những phẩm giá cao quý sánh Thần Thánh. Hiền tài bất diệt. Lúc sống xả thân vì dân nước, khi chết, hiền tài lập tức được dân phong Thánh Thần và thờ cúng, noi gương bất tử.
   Đền thờ Cao Lỗ Vương cổ kính, linh thiêng ngự trên bãi bồi ven sông Đuống thuộc thôn Đại Trung (tên nôm là làng Lớ, xã Cao Đức, huyện Gia Bình- Bắc Ninh). Đền Cao Lỗ tỏa sáng muôn đời linh khí Cao Lỗ. Đền Cao Lỗ là lòng dân Việt tưởng niệm, tôn vinh bậc thiên tài quân sự, và ghi nhớ bài học Vua phụ hiền tài- Mất nước.
   Sử liệu và văn vật địa phương truyền, Cao Lỗ còn có tên là Thông, sinh tại thôn Sỹ Lộ, trang Đại Than, tổng Vạn Tỵ, huyện Gia Bình, phủ Thuận Thành, bộ Vũ Ninh (Bắc Ninh xưa). Thuở nhỏ, Cao Lỗ thông minh, hiếu học, khi trưởng thành văn võ hơn người, được dân làng tôn làm Đô Lỗ. Sau theo phò vua An Dương Vương đánh giặc, lập được nhiều công trạng, ông được phong tước Hầu…
   Tương truyền Loa Thành bị Triệu Đà đánh chiếm. Cao Lỗ lâm trận chết. Thiên đình đã sai mãnh hổ càm đầu Cao Lỗ về làng quê ông. Vào đêm mồng 10/3 (Âm lịch) một nhóm người làng đang chơi vui, thì có một con hổ càm một chiếc đầu xuất hịên. Mọi người vội chạy về gọi thêm người ra đánh hổ. Khi đông người trong làng chạy ra, thì không thấy hổ, mà thấy một ngôi mộ tại đó với những dòng chữ mang tên Cao Lỗ. Dân làng lập miếu thờ lăng mộ Cao Lỗ, hằng năm tổ chức nhiều lễ hội, tri ân, tưởng nhớ vị tướng anh hùng dân tộc.
   Lăng mộ Cao Lỗ nay được xếp hạng di tích lịch sử. Ngày mồng 10/3 (Âm lịch) hằng năm, nhân dân tám làng vùng Đại Than: Đại Trung, Đông Trung, Bình Than, Tiểu Than, Văn Than, Phù Than, Kênh Phố và Mỹ Lộc cùng thờ Cao Lỗ Vương lại nô nức tổ chức lễ hội. Đám rước kiệu Thánh của tám làng rợp trời, cờ quạt, võng lọng, kiệu, siêu đao, bát bửu... tưng bừng, náo nhiệt. Người dân tham dự nồng nhiệt với nhiều tục trò diễn lại tích Thánh như: Thôn Đại Trung có trò "Múa mo múa mộc" tượng trưng cho Cao Lỗ Vương đánh giặc. Thôn Tiểu Than có trò "Múa bông đánh bệt" diễn lại tích Cao Lỗ Vương mất khi đánh giặc, được mãnh hổ mang xác về quê nhà, để dân biết mà chôn cất, thờ phụng. Riêng tục "võ vật" thì thôn nào cũng có, bởi xưa kia vùng Đại Than nổi tiếng là vùng đất có tinh thần thượng võ.
                                                                 Hiền tài là Nguyên khí Quốc Gia
   “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...
                                                                                                                                                (Thân Nhân Trung)
   Chuyện Vua phụ hiền tài- Mất Nước tiếp diễn dai dẳng, liên tiếp trong các triều đại Việt Nam. Thảm án Lệ Chi Viên gần nghìn năm chưa hóa giải.
   Sau thảm án oan động Đất Trời- chu di tam tộc anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, vua Lê Thánh Tông ( 1442 - 1497 ) tỉnh ngộ. Hai mươi năm sau, vua minh oan cho Nguyễn Trãi. Vua được dân tôn vinh là một nhà Văn hoá, biết trọng Hiền tài.
   Nhờ tinh thần trọng hiền tài của Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 15 (1484), Thân Nhân Trung cùng các quan bộ lễ khác viết các bài văn bia, khắc vào các bia tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
   Thân Nhân Trung được giao soạn bài văn bia cho bia tiến sĩ đầu tiên khoa Nhâm Tuất (1442). Trong bài văn bia này, Thân Nhân Trung đã nêu bật tầm quan trọng của giáo dục và trọng dụng nhân tài với sự hưng thịnh, tồn vong của đất nước Hiền tài là nguyên khí Quốc gia…
   Thân Nhân Trung (Thân Trọng Đức- khoảng 1418- 1499) dân tộc Tày, quê làng Yên Ninh, gọi là làng Nếnh, phủ Bắc Giang (nay thuộc thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên- Bắc Giang). Thi đỗ tiến sĩ, ông được cử làm Hàn lâm viện thị độc, sau đó thăng Hàn lâm viện thừa chỉ, kiêm Đông các Đại học sĩ, kiêm Quốc tử giám tế tửu. Vua Lê Thánh Tông đánh giá cao tài năng của Thân Nhân Trung và trọng dụng ông.
   Bài văn bia của Thân Nhân Trung hào hùng Thần khí- là mệnh lệnh hồn thiêng sông núi, gọi dân Việt mọi thời đại yêu cầu các thể chế chính trị thực thi “việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia.
   Thời hiện đại, việc chọn nhân tài không khó. Những đất nước Văn minh- Dân chủ- Nhân quyền trên thế giới đã hành động chọn nhân tài theo quá trình Minh bạch- Dân chủ.
   Họ đã viết:
   “Quá trình tuyển chọn lãnh đạo dựa trên tài năng chứ không phải dựa trên mối quen biết hay sức mạnh tài chính. Quá trình tuyển chọn rất minh bạch và dân chủ. Cộng với văn hóa tranh luận và đặt câu hỏi “Tại sao ông là sếp của tôi; tại sao tôi không phải là sếp của ông?” đầy thách thức, làm cho người sếp không đủ tài năng sẽ phải nhường chỗ cho người khác.
   Mục tiêu của nhà lãnh đạo là tối đa hóa sự chịu đựng- trong khi khuyến khích sự bất đồng chính kiến. Tinh thần này có nghĩa là- lãnh đạo phải chịu được những điều “chướng tai gai mắt”, những khác biệt, thậm chí bất đồng, thì nhân viên mới thỏa sức sáng tạo. Còn nhân viên, phải phát huy tính tự chủ độc lập của mình, không sợ khác biệt về nhận định hay giải pháp, vì đó chính là khởi nguồn của sáng tạo.”

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 28.7.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn