Việt Văn Mới
Việt Văn Mới


Du lịch sinh thái Mũi Né – Phan Thiết,

một chuyến đi khám phá Văn – Sử - Địa

của miền Cực Nam Trung Bộ Việt Nam



T ừ thành phố Hồ Chí Minh tới thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận dài gần 200 km bằng đường bộ chỉ với thời gian 4 giờ đồng hồ. Ngày nay, đường xe ô tô theo quốc lộ 1A Nam – Trung – Bắc một phần đã được cao tốc hóa nên du khách cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái và có nhiều phấn chấn, thú vị cho mọi lứa tuổi.

    Du khách và các đoàn du lịch ngày nay, cả trong lẫn nước ngoài, khi có chuyến đi tham quan Phan Thiết đều gắn liền với khu du lịch sinh thái Mũi Né đã và đang phát triền ngày một khởi sắc ngang tầm với các khu du lịch nước ngoài nổi tiếng. Người dân nói chung của miền Nam và miền Bắc, kể cả một số tỉnh Tây nguyên khi tổ chức tham quan du lịch dài ngày đều hướng tới Mũi Né – Phan Thiết. Các điểm du lịch biển nổi tiếng ở ba miền Việt Nam như Đồ Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Cốc, Hà Tiên từng nổi tiếng và thu hút nhiều khách du lịch thì ngày nay lần hồi đã nhường chỗ cho Mũi Né – Phan Thiết.
    Vị trí, địa điểm của Mũi Né – Phan Thiết tọa lạc ở một góc của bờ biển thuộc cực Nam miền Trung ngày càng được khám phá và khai thác về mặt du lịch sinh thái và kinh tế biển đã làm cho nó trở nên vượt trội một cách độc đáo và hấp dẫn. Xã hội càng văn minh, tiến bộ của Việt Nam và thế giới đều làm cho hoạt động “tắm biển” một buổi, một ngày nhanh chóng trở thành hoạt động ‘nghỉ dưỡng” vài ngày và nhiều ngày. Một “resort” – khu nghỉ dưỡng khép kín gồm có ăn uống, nghỉ dưỡng, tắm biển và vui chơi, giải trí đã trở thành một điểm sinh hoạt văn hóa thời thượng ngày càng tô đậm thêm cho ngành công nghiệp du lịch không khói phát triển vượt trội. Do đó, trong nền kinh tế - xã hội – văn hóa của một nước ngành kinh doanh du lịch trở thành ngành mũi nhọn hàng đầu cho công cuộc phát triển của một quốc gia.
    Ngành du lịch của Việt Nam đi sau nhiều nước nhiều năm nay đang trên đà chạy nước rút để giành khách du lịch cả trong nước lẫn nước ngoài. Mũi Né của Phan Thiết nhanh chóng trở thành điểm du lịch tham quan mũi nhọn của cả nước. Hàng trăm resort bề thế, hoành tráng, lộng lẫy và đầy đủ tiện nghi hạng sang (từ 3-5 sao) đua nhau mọc lên đến chóng mặt trên một vùng đất mũi biển nhỏ hẹp của thành phố Phan Thiết được mệnh danh là “Thủ đô của resort”.

Nguồn gốc và tên gọi “Phan Thiết”

    Có nhiều giả thiết về tên gọi của “Phan Thiết” và phần lớn đều chấp nhận rằng : "Phan Thiết" không phải là một cái tên thuần Việt Nam :
    - Khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là "Hamu Lithít" - "Hamu" là xóm ruộng ở đồng bằng, "Lithít" là ở gần biển. Khi bắt đầu có người Việt định cư, vẫn chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Lâu dần, âm cuối "Lithit" lại được gắn liền với âm "Phan" tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Tiết (tên gọi ngày xưa) và sau này người ta gọi chuẩn với cái tên là Phan Thiết.
    Người Việt đã phiên âm lại cách gọi tên của người Chăm trước đó về các địa danh : Mang-lang (Phan Rang), Mang-lý (Phan Rí), Mang-thít (Phan Thiết). Ba địa danh này được gọi chung là "Tam Phan".
    -Po Thit (là tên hoàng tử em của công chúa Po Sah Inư, con của vua Chăm Par Ra Chanh, tức Trà Chanh) đóng đồn trấn ngữ vùng đất này còn thuộc vương quốc Champa vào thế kỷ XIV được người Việt đọc trại ra mà thành Phan Thiết.
    Ngày nay, yếu tố "Phan" còn xuất hiện nhiều trong các địa danh ở tỉnh Bình Thuận như: Sông Phan, Phan Rí cửa, Phan Rí thành, Phan Lâm, Phan Sơn...
Lịch sử hình thành “Bình Thuận” – “Phan Thiết”
    Đất Bình Thuận nguyên thuộc vùng đất phía Nam quận Nhật Nam ngày xưa, sau là đất của Chiêm Thành. Vì chiến tranh liên miên nên Chiêm Thành mất dần đất đai.
    Từ sau Nguyễn Hoàng được vua Lê cho vào trấn vùng đất phương Nam từ Quảng Bình tới Thừa Thưa - Huế do tranh quyền với Trịnh Kiểm. Sự nghiệp nhà Nguyễn tiếp nối nhau 9 đời đã giành quyền cai quản dãy đất phương Nam hình thành nên Đàng Trong đối trọng với Đàng Ngoài. Với chiến lược “tầm ăn lá” năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần đánh chiếm đất Phan Lang (sau gọi là Phan Rang), và chỉ để lại mảnh đất phía Tây cho Chiêm Thành. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu lấy luôn mảnh đất còn lại đặt tên là Thuận Phủ và năm 1694 đặt là Thuận Thành trấn, rồi thêm trấn Biên và Gia định thành.
    Vùng đất này ngày xưa thuộc vương quốc Champa, sau này sáp nhập vào Đại Việt thời các chúa Nguyễn. Nền hành chính được xác lập cùng thời gian hình thành tỉnh Bình Thuận ngày nay, nhưng khi ấy nó chưa được xác định địa giới và cấp hành chính gì. Phan Thiết là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Thuận.
    Năm 1697, Bình Thuận lần lượt được đổi từ một trấn lên thành phủ, rồi lên thành dinh, thì Phan Thiết chính thức được công nhận là một đạo (cùng một lượt với các đạo Phan Rang, Phố Hài, Ma Ly vùng Tam Tân). Tuy nhiên, đạo Phan Thiết lập ra nhưng chẳng có văn bản nào chỉ rõ phạm vi lãnh thổ.
    Từ năm 1773 đến năm 1801, nơi đây thường diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt giữa các lực lượng quân nhà Nguyễn và quân nhà Tây Sơn. Vùng này là vùng trái độn của phía Tây Sơn chiếm giữ các tỉnh miền Trung và phía chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn đuổi đánh chạy vào phiá Nam thuộc Đồng Nai, Gia Định.
    Năm 1825, thời vua Minh Mạng, khi Bình Thuận chính thức trở thành tỉnh, đạo Phan Thiết bị cắt một phần đất nhập vào một huyện thuộc Hàm Thuận. Tới năm 1854, thời Tự Đức, huyện này được đặt tên là huyện Tuy Lý.
    Năm 1835, Tuần vũ Dương Văn Phong thỉnh cầu vua Minh Mạng chuyển tỉnh lỵ của Bình Thuận ở gần Phan Rí (huyện Hoà Đa) lập từ thời Gia Long về đóng ở vùng Phú Tài - Đại Nẫm, huyện Hàm Thuận nhưng vua chưa đồng ý.
    Năm 1836 (năm Minh Mạng thứ 17), Thị Lang Bộ Hộ là Đào Tri Phủ được cử làm việc đo đạc, lập địa bạ trong số trên 307 xã, thôn thuộc hai phủ, bốn huyện và mười lăm tổng của tỉnh Bình Thuận để chuẩn định và tiến hành thu thuế. Đo đạc xong ước định vùng Phan Thiết (thuộc tổng Đức Thắng) có chín địa danh trực thuộc. Bên hữu ngạn sông (sông Cà Ty ngày nay) là các xã Đức Thắng, Nhuận Đức, Lạc Đạo và các thôn Thành Đức, Tú Long. Bên tả ngạn là xã Trinh Tường và các thôn Long Khê, Long Bình, Minh Long.
    Gần cuối thế kỷ 19, Phan Thiết vẫn chưa được công nhận chính thức là một đơn vị hành chính (cấp dưới) trực thuộc tỉnh Bình Thuận.
    Năm 1898 (năm Thành Thái thứ muời), tỉnh lỵ Bình Thuận được dời về đặt tại làng Phú Hài ở ngoại vi Phan Thiết. Ngày 20 tháng 10 cùng năm, vua Thành Thái ra đạo dụ xác lập thị xã (centre urban) Phan Thiết, tỉnh lỵ của Bình Thuận (cùng ngày thành lập các thị xã Huế, Hội An, Quy Nhơn, Thanh Hoá, Vinh).
    Năm 1905, thị xã Phan Thiết cũng vẫn chưa xác định rõ ranh giới. Tòa sứ Bình Thuận (bộ máy thống trị của Pháp) do một công sứ (résident) đứng đầu đặt thường trực tại Phan Thiết.
    Ngày 4 tháng 11 năm 1910, viên toàn quyền Đông Dương A.Klobukowski ra quyết định về Phan Thiết. Lúc này Phan Thiết chính thức bao gồm 16 làng xã. Bên hữu ngạn sông: Đức Thắng, Thành Đức, Nhuận Đức, Nam Nghĩa, Lạc Đạo, Tú Long; bên tả ngạn sông: Long Khê, Phú Trinh, Trinh Tường, Đảng Bình, Quảng Bình, Thiện Mỹ, Thiện Chánh, Xuân Hoà, An Hải, Sơn Thuỷ (năm làng sau trước đây là thuộc khu vực Phố Hài). Có thêm địa danh mới như Nam Nghĩa, Quảng Bình (dân Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Quảng Bình di cư vào Phan Thiết).
    Ngày 6 tháng 1 năm 1918, Khâm Sứ Trung Kỳ Charles quyết định Phú Hài (tên gọi mới của Phố Hài) tách ra khỏi Phan Thiết để nhập về lại tổng Lại An của huyện Hàm Thuận. Pháp bắt đầu thiết lập bộ máy chính quyền ở Phan Thiết. Thị xã Phan Thiết liên tục làm tỉnh lỵ của tỉnh Bình Thuận từ đó.
    Sau năm 1975, khi thống nhất đất nước, thị xã Phan Thiết được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Thuận Hải, gồm 9 phường: Bình Hưng, Đức Long, Đức Nghĩa, Đức Thắng, Hưng Long, Lạc Long, Phú Thủy, Phú Trinh, Thanh Hải.
    Ngày 30 tháng 12 năm 1982, sau khi chia huyện Hàm Thuận thành 2 huyện Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam, chuyển xã Hàm Tiến và thị trấn Mũi Né (nay trở thành phường Mũi Né) thuộc huyện Hàm Thuận cũ về thị xã Phan Thiết quản lý. Sau khi chia tách tỉnh Thuận Hải đầu năm 1992, thị xã Phan Thiết trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Bình Thuận ngày nay.
    Cuối cùng, ngày 24 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 890/QĐ-TTg công nhận thành phố Phan Thiết là đô thị loại 2 trực thuộc tỉnh Bình Thuận. Tuy là một thành phố trẻ nhưng theo các nhà nghiên cứu thì "phố cổ" Phan Thiết hình thành trước Nha Trang và Phan Rang.

Mũi Né - một mũi biển có nghĩa “tránh bão”

    Đó là một voi đất hay mũi đất có nhiều đụng cát, gò cát nổi cao so với mặt biển vô tình hình thành nên một bức tường thành chắn gió rất tốt có tác dụng che chở cho thuyền bè qua lại vùng này tránh những trận bão lớn, nhất là giữa mùa gió chướng (mùa chuyển hướng gió từ Nam – gió nồm ra Bắc – gió bấc hay ngược lại), trong đó có thuyền tàu đánh bắt cá của dân địa phương. Do đó, nơi đây hình thành làng chài rất sớm. Dân chài (ngư dân) nhờ vào Mũi Né để tránh bão bằng cách tránh né bên này hay bên kia tùy theo cơn gió thổi theo hướng này hay hướng kia.
    Khí hậu vùng Phan Rang – Ninh Thuận khô hạn nhiều tháng và ít mưa là do chịu ảnh hưởng một phần của Mũi Né thiên nhiên này. Gió Tây Nam thổi ngược ra Đông Bắc đưa theo mưa to gió lớn vào mùa mưa nhưng đã bị bức tường thành cát đất, cây cối (phần lớn là rừng dừa cao ngọn) của Mũi Nè ngăn lại trong khi mùa nắng lại bị ảnh hưởng của gió Lào.
    Mũi Né ngay nay trở thành trung tâm du lịch nổi tiếng ở Phan Thiết được đưa vào danh sách các khu du lịch quốc gia Việt Nam. Ngày nay, Mũi Né là một phường – Phú Hài của thành phố Phan Thiết với tổng diện tích là 35,41 km², dân số năm 1999 là 24.275 người, mật độ dân số 686 người/km² và đang hình thành đề án nâng cấp thành thị xã của tỉnh Bình Thuận. .
    Từ một dải bờ biển hoang vu với các đồi cát đỏ như  sa mạc  nằm rất xa đường giao thông, chỉ có lác đác vài xóm chài nghèo, ngày nay Mũi Né đã mọc lên hàng trăm khu resort có “sao” ngang tầm với nhiều resort của các nước.
    Cách trung tâm thành phố Phan Thiết 22 km về hướng Đông Bắc, Mũi Né được nối liền với thành phố biển này bởi con đường Nguyễn Đình Chiểu (đường 706) - được coi là tuyến trọng yếu cho ngành du lịch của Bình Thuận và đường 706B mới xây dựng.
    Khi đến Mũi Né, du khách sẽ có thể được tham quan làng chài Mũi Né, có cơ hội chứng kiến được hoạt động của một làng chài xứ biển thuần chất Việt Nam. Hàng trăm thuyền tàu đành bắt cá neo đậu hàng dài ở bên nay và bên kia mũi đất và trên các con sông chảy ra hai bên Mũi Né. Đặc hải sản Phan Thiết nổi tiếng như Nha Trang, Phú Quốc, trong đó Nước Mắm mang hẳn tên địa danh này (Nước mắm Phan Thiết) là loại hàng độc của Việt Nam.

Lầu ông Hoàng với cố thi sĩ Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm

    Trên một ngọn đồi thấp nằm phía đông bãi biển Mũi Né gần trung tâm thành phố Phan Thiết đã làm nổi tiếng và trở thành địa danh trữ tình gắn bó với hai nhân vật “Ông Hoàng” và “Hàn Mặc Tử” bên cạnh một khu di tích đền tháp của dân tộc Chăm .

    Ca khúc "Hàn Mặc Tử" là một câu chuyện tình rất đẹp, rất bi thương của một nữ sĩ Mộng Cầm với thi nhân Hàn Mặc Tử. Lẩn khuất trong từng giai điệu, từng lời ca của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cùng quê hương Phan Thiết tới nay vẫn còn làm xao xuyến lòng người nghe.

   “ Đường lên dốc đá, nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa, Lầu ông Hoàng đó, thuở nào chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng. Tiếng chim kêu đau thương, như nức nở dưới trời sương. Lá rơi rơi đâu đây, sao cứ ngỡ bước chân người, tìm về giữa đêm buồn.”…

    “Lầu Ông Hoàng” là một khu di tích văn hóa lịch sử hay văn học nghệ thuật, một địa điểm tham quan không thể thiếu với khách du lịch đến Mụi Né – Phan Thiết ngày nay, gắn liền với cụm tháp Chăm, mối tình Hàn Mặc Tử -Mộng Cầm và tượng đài Chiến thắng của thời chống Pháp. Đây là một trong 5 ngọn đồi đẹp nhắt ở Bà Nài thuộc phường Phú Hài (Mũi Né), thành phố biển Phan Thiết, địa danh Lầu ông Hoàng bao gồm một quần thể đồi núi, sông biển, chùa tháp tạo thành khu danh lam thắng cảnh nổi bật lên với ngọn núi đất sỏi cao cao nằm sát biển.

    Ngày xưa, Lầu Ông Hoàng là một biệt thự đứng trên đồi cao, do ông hoàng người Pháp tên là Ferdinand dOrléans, là Công tước De Montpensier, cháu nội vua Louis-Philippe 1 của Pháp khởi công xây dựng vào ngày 21/2/1911 . Tổng kinh phí đầu tư khoảng 82.000 đồng tiền Đông Dương lúc bây giờ. Khi xây xong, biệt thự được xem là công trình hiện đại nhắt của Bình Thuận lúc bấy giờ. Tên gọi Lầu Ông Hoàng xuất phát từ cách gọi của người dân trước sự sang trọng của người Pháp cư ngụ ở đây.
    Chuyện kể lại, khoảng cuối năm 1910 đầu năm 1911, Công tước De Montpensier qua Việt Nam đi du lịch và săn bắn. Nhận thấy phong cảnh tại những ngọn đồi xung quanh khu vực Phan Thiết rất hữu tình, nằm trên cao lộng gió, lại nhìn ra biển xanh, đồi cát, đã khiến ông nảy ra ý định mua mảnh đất đồi Bà Nài, có khuôn viên rộng 5,74 ha, diện tích xây dựng biệt thự là 536 m2.
   Khu biệt thự này nằm cách Tháp Chàm Pôshanư (Pô sah Ina) khoảng 100m về hướng Nam, sử dụng làm nơi nghỉ ngơi, vui thú săn bắn, tắm biển của Công tước De Montpensier trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này.

    Ngày nay, từ đường cái quan mang tên Nguyễn Đình Chiểu ra khu resort Mũi Né đội vài km (đường ra voi Đá Ông  Địa, rừng dừa Rạng và Mũi Né ngay nay), rẽ phải dẫn vào phế tích biệt thự ông Hoàng là một con đường được rãi đá uốn quanh theo sườn đồi, ngang qua cụm di tích Tháp Chàm Pôshanư.. . 

    Lầu Ông Hoàng có một vị trí đẹp, cao 105m so với mặt nước biển, nằm ở trung tâm Phan Thiết, rất thuận tiện cho việc đi lại, nghỉ ngơi. Vài chục năm sau, khoảng 1936, thi sĩ Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn ra Phan Thiết, với khoảng 2 năm hẹn hò với người tình Mộng Cầm nên từ đó, địa danh này đã để lại nhiều kỷ niệm khiến cho Lầu Ông Hoàng càng có ý nghĩa, thi vị hơn qua câu chuyện tình với giai nhân Mộng Cầm.

    Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, biệt thự này đã bị tiêu hủy, ngày nay chỉ còn lại nền móng hầm ngầm chứa nước và những ký ức trong người dân Phan Thiết. Tháng 10/1946, Pháp trở lại tái chiếm đất nước ta lần thứ hai, Lầu Ông Hoàng được quân đôi Pháp xây dựng thành một hệ thống đồn bót với nhiều lô cốt, bê tông cốt thép chắc chắn để khống chế khu vực thị xã Phan Thiết.
   Rạng sáng ngày 14/6/1947, nơi đây đã diễn ra trận đánh ác liệt của một tiểu đội thuộc đơn vị Hoàng Hoa Thám do Nguyễn Minh Châu (Tướng Năm Ngà) chỉ huy. Quân ta đã tiêu diệt nhiều tên địch và nay có tượng đài chiến thắng mang địa danh Lầu Ông Hoàng.

    Ngày nay, Lầu Ông Hoàng đã trở thành phế tích, phần lớn công trình đã bị mất dấu vết, chỉ còn nền móng và một tháp canh của giặc Pháp (xây dựng trên nền lầu cũ và bên cạnh còn nhiều hầm bê tông chứa nước đã hoang phế) mà chúng ta nhìn thấy trên đồi Bà Nài cao cao như một hộp dựng đứng, với nhiều lỗ châu mai còn in dấu chi chít vết đạn bom, hoàn toàn không phải “Lầu Ông Hoàng”, chỉ là tháp canh của đồn Tây kiểu mô hình tháp Tua (De la Tour).

Nhóm đền tháp Chăm Pô Sah Inư

    Nhóm đền tháp này gồm có ba cái được người Chăm xây dựng vào cuối thế kỷ VII đầu thế kỷ IX ở thôn Phố Hài (nay là phường Phú Hải) có tên Pô Sah I Nư (hay Ina) trên ngọn đồi cao gần 50 mét, cũng là vùng cực Nam của vương quốc Champa xưa.
    Theo truyền thuyết của dân tộc Chăm, công chúa Pô Sah Ina và em ruột là Pô Đam (Pô Tầm), người Việt gọi là Trà Duyệt là con vua Chăm Parachanh, sử Việt gọi là La Khải, vị tướng kế thừa của Chế Bồng Nga. Khi bà mất, người Chăm thờ bà ở đây. Do đó tháp chính có tên Pô Sah Ina. Nhưng hiện nay bên trong chỉ thờ bộ Linga – Yoni cao 25 cm. Linga hình trụ tròn đường kính 23 cm liền vớ Yoni cạnh dài 74 cm x 72, 5 cm
    Các nhà nghiên cứu kiến trúc đã định niên đại cuối thế kỷ thứ IIIV cho khu tháp Phú Hài. Hiện nay còn lại ba ngôi tháp đều có cửa nhìn ra hướng biển (Đông) chia làm hai khu : Khu thứ nhất trên đỉnh đồi gồm tháp chính có kích thước lớn nhất cao 12 mét và một tháp nhỏ hơn cao 6 mét ở bên cạnh phía tay phải đã đổ nát phần trên. Khu thứ hai chỉ có một tháp ở vị trí thấp hơn nằm lưng chừng đồi được trông thấy trước khi tới đây. Cả ba tháp đều có nét thống nhất : tháp vuông nhiều tầng và bên trong hình vòm vuông cao tới đỉnh được thu nhỏ lại hình chóp nhọn, không có trang trí ốp chân cột, không có phù điêu, điêu khắc. Hình dạng tháp này hình như có gắn liền với đền tháp Angkor của Khmer. Tuy có niên đại tương đương với Angkor nhưng lại khác hẳn ở chỗ đền tháp Champa làm bằng loại gạch là đất nung, còn đền Angkor làm toàn bằng đá và vĩ đại hơn.

    Nhóm tháp trên đồi Lầu Ông Hoàng đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia nhưng toàn bộ tường chân tháp, bậc thềm đi vào tháp, sân bãi đều bị xâm thực mạnh không được bảo dưỡng mà chỉ làm lại hệ thống tường bao ngạn khu vực quanh ba tháp. Dưới chân đồi, nơi cổng vào khu vực tháp có nhà trưng bày, quản lý bán vé thu tiền tham quan nhưng lượng người tham quan rất ít và không có người hướng dẫn, giới thiệu.

    Hầu như ở ba tháp này chỉ có một cụ già 70 tuổi là người dân tộc Chăm được Sở Văn Hóa Thể thao – Du lịch cử ra trông coi việc thờ cúng bên trong. Cụ Khê Văn Ngọc chỉ mới ngần ấy tuổi nhưng trông hom hen gầy ốm như cụ già trên 90 tuổi có tới 9 người con 4 trai 5 gái, được hưởng phụ cấp hàng tháng 2 triệu đồng. Cụ cho biết tháp chính (A) thờ thần Si va. Chúng tôi gặp cụ ở đây sau khi thắp nhang và quỳ lạy trước bàn thờ thần chỉ là một hộp kính trong có tượng thần Siva là một khối đá hình ngẫu tượng Linga đặt trên bệ Yoni với vài xấp vải dệt thổ cẩm (Ở nhà trưng bày nơi cổng có một phụ nữ người Chăm ngồi dệt thổ cẩm). Trước hộp kính có bình hoa nhỏ, dĩa chuối xiêm và bát nhang. Việc thờ cúng rất đơn sơ, chỉ lấy lệ. Tháp B (bên cạnh) cụ Ngọc cho biết là để thờ thần Lửa và tháp C (nhỏ nhất ở phía dưới đường lên) chỉ là nơi để chuẩn bị lễ vật cúng thần khi xưa, nay bỏ hoang.

    Theo truyền thuyết, thần Lửa có tên Agni là vị thần được tôn sùng khá quan trọng của Ấn Độ giáo. Theo đó, thần Lửa có nhiệm vụ ăn hết các loại vật phẩm được dâng cúng rồi biến chúng thành khói để dâng lên cho các thần thưởng thức, trong đó có thần Siva, Vishnu, Brahman. Hình thức cúng lễ này hiện còn áp dụng ở các đền thờ thuộc quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có đền Bà Mariamman ở số 45 Trương Định phường Bến Thành.

    Theo các nhà nghiên cứu về hệ thống đền tháp của dân tộc Chăm, nhóm tháp Pô Sah Ina thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lai, là phong cách kiến trúc sớm trong lịch sử nghệ thuật của vương quốc Champa. Đây là di tích tương đối nguyên vẹn còn lại trong hơn 100 năm sau của hệ thống đền tháp của dân tộc Chăm.

Đôi điều về tháp Chăm

   Tháp Chăm, hay còn gọi là tháp Chàm, là một dạng công trình thuộc thể loại kiến trúc đền tháp Champa, thuộc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc Chàm (còn gọi là dân tộc Chăm, sinh sống ở miền Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Có thể thấy vị trí phân bố các đền tháp là những nơi từng là nơi ở của người Champa, xa hơn nữa còn có những ngôi tháp có thể coi là tháp Champa trên đất nước Camphuchia như tháp Damray Krap. Ngược lại, những yếu tố Java hay Khmer cũng được thấy trên các tháp Champa như ở Khương Mỹ, Hưng Thanh, Dương Long, hay có cả những ngôi tháp còn được người Champa gọi là "tháp Khmer" như tháp Champa Hoà Lai.
   Các tháp Chăm là một khối kiến trúc xây dựng bằng gạch nung màu đỏ sẫm lấy từ đất địa phương, phía trên mở rộng và thon vút hình bông hoa. Mặt bằng tháp đa số là hình vuông có không gian bên trong chật hẹp thường có cửa duy nhất mở về hướng Đông (hướng Mặt Trời mọc). Trần được cấu tạo vòm cuốn, trong lòng tháp đặt một bệ thờ thần bằng đá. Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọt công phu hình hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh thể hiện trên mặt tường ngoài của tháp. Các viên gạch liên kết với nhau rất rắn chắc, bền vững tới hàng chục thế kỷ.
   Ngày 1 tháng 10 năm 2006, Trung tâm Quản lý di tích-di sản tỉnh Quảng Nam chính thức công bố thông tin: các nhà khoa học của Đại học Milan, Ý khi đang làm việc trùng tu nhóm tháp G-thuộc Thánh địa Mỹ Sơn đã nhận biết được loại vật liệu kết dính để xây tháp Champa cách đây vài trăm năm. Đó là loại keo được tinh chế từ một loài thực vật vốn có rất nhiều trong khu vực quanh di sản Mỹ Sơn, mà người dân địa phương thường gọi là cây dầu rái. Ngoài ra, họ cũng đã phát hiện ra một loại hợp chất có nguồn gốc từ thực vật bản địa nói trên có trong gạch sử dụng để xây tháp. Như vậy, những điều bí ẩn xung quanh vật liệu được người Chăm sử dụng để xây dựng các công trình tôn giáo ở Việt Nam sau hơn 100 năm đã được giải mã. Trước đó, một người thợ thủ công tên là Lê Văn Chỉnh (thuộc tỉnh Quảng Nam) cũng đã bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu phương pháp xây dựng tháp Chăm đã phát hiện được hợp chất dầu rái trong gạch để xây tháp và chất kết dính, nhưng chưa được ai quan tâm thừa nhận.

Tháp Chàm Pôshanư tọa lạc tại phường Phú Hải, Thành phố Phan Thiết
Lịch sử xây dựng các đền tháp Champa kéo dài từ cuối thế kỷ thứ 7 đến đầu thế kỷ 17. Trong khoảng thời gian này, những người Champa xưa đã để lại một số lượng lớn các công trình kiến trúc đền tháp, thành luỹ, các tác phẩm điêu khắc. Hiện tại có trên hai mươi cụm  di tích kiến trúc đền tháp và rất nhiều phế tích kiến trúc. Các di tích này có giá trị đặc sắc, mang tính toàn cầu, xứng đáng nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Một trong những sự quan tâm ấy là việc tổ chức  UNESCO đã công nhận Mỹ Sơn là di sản văn hoá thế giới cũng chính là việc đánh giá cao thành quả nghiên cứu về kiến trúc Champa nói chung.
   Theo  tiếng Chăm, các đến tháp Champa này được gọi là kalan , nghĩa là "lăng". Các lăng này được các đời vua Chăm xây dựng để thờ cúng các vị thần. Các vị thần được thờ phượng có thể là các vị thần Ấn Độ giáo tiêu biểu như Siva (thần hủy diệt), Ganesha (phúc thần đầu người mình voi)... hoặc đấy còn có thể là các vị Phật. Điều này tùy thuộc vào lòng tin và kính mộ của mỗi vì vua ở các triều đại khác nhau. Ở thánh địa Mỹ Sơn hiện nay phần lớn là công trình kiến trúc tôn giáo thờ các vị thần thuộc Ấn Độ giáo và Bà la môn giáo. Nhưng ở thánh địa Đồng Dương (thuộc địa phận huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) đây là kinh đô Phật giáo lớn nhất của Champa.

Vài nét về Trường Dục Thanh

    Đây là ngôi trường cổ tọa lạc ở đường Trần Phú thuộc trung tâm thành phố Phan Thiết được xếp hạng Dich tích cấp quốc gia ghi dấu nơi dạy học của thanh niên Nguyễn Tất Thành tức Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1910-1911 sau khi Người từ Bình Định vào Phan Thiết và lưu lại đây ít tháng để dạy học.
    Cơ sở này trước là nơi cư ngụ của cụ Nguyễn Thông trong thời gian trấn nhậm Bình Thuận được các con cải tạo thành trường học theo mô hình trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội của phong trào Đông Du do cụ Phan Chu Trinh gợi ý. Vào thời kỳ đó, thanh niên Nguyễn Tất Thành trên đường từ Bình Định (đã từ Huế theo cha vào làm quan ở Bình Định) tìm đường vào Sài Gòn đã dừng lại đây và được mời dậy học mấy tháng, chủ yếu dạy môn Thể dục, Hán văn, Pháp văn và Lịch sử (vì ông đã tốt nghiệp bậc Tiểu học trường Pháp – Việt) được đánh giá là một nhà giáo trẻ tiến bộ có tâm huyết đã gây được lòng yêu nước và phong cách đạo đức cho học sinh.
    Nhiều năm qua, trường Dục Thanh được tu bổ bảo dưỡng thành một di tích rất khang trang làm nơi giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên và nơi về nguồn của khách tham quan trong, ngoài nước các nơi đổ về khá đông đảo.

Vài lời kết luận

    Như vậy, so với nhiều điểm tham quan du lịch nổi tiếng trong cả nước và nước ngoài, Mũi Né – Phan Thiết có một vị trí, vai trò nổi trội do có nhiều điểm di tích lịch sử, văn hóa, giáo dục, kinh tế ngoài vai trò du lịch sinh thái biển rất hấp dẫn và thú vị.
    Thực ra, Mũi Né – Phan Thiết chỉ được mọi người quan tâm tham quan và khai thác từ sự kiện quốc tế là “Hiện tượng Nhật thực” nhiều năm trươc đây. Khi ấy, khách quốc tế kể cả đông đảo nhà báo, nhà nghiên cứu thiên văn học của ca thế giới đều đổ xô tới đây để chiêm ngưỡng hiện tượng hiếm hoi này.
    Và từ đó, nó được các nhà đầu tư ngành du lịch trong nước và thế giới quan tâm và tới khai thác kinh doanh ngành công nghiệp không khói ngày càng nhiều ngày càng tạo được sự hấp dẫn của những người ưa chuộng tham quan du lịch trong và nước ngoài mặc dù bãi biển dài nhưng không đẹp lắm so với Nha Trang, Vũng Tàu, Long Hải, Bình Châu ..Do Mũi Né có chiều dài, rộng thích hợp cho xây dựng resort nên đã trở thành nổi bật trong làng du lịch.
    Nhưng nếu chỉ đến đây để nghĩ dưỡng mà thiếu sự thăm viếng các di tích nói trên trong đó có nhóm tháp Chăm là điều thiếu sót. Do đó, chính quyền địa phương cần có chính sách đầu tư tương xứng cho nhóm tháp Pô Sah Ina để bảo tồn thêm nhiều năm và tạo được sự hấp dẫn cho khách tham quan du lịch.


. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 28.7.2014.