Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




"CỎ MẦN TRẦU"





Rời xa thành phố đi về đường thôn xưa, ta ngỡ ngàng bởi lối cũ đã bê tông hóa, mặt đường đã trắng màu xi măng, trải dài đến lóa mắt. Không còn nữa con đường gạch đỏ, có những đám cỏ mần trầu mọc hai bên. Con đường làng ngày xưa thường lát bởi những viên gạch nộp cheo của các cô gái quê. Tục lệ làng ngày trước quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi công dân đối với cộng đồng rất khắt khe. Nam giới có nghĩa vụ của nam giới, nữ giới có nghĩa vụ của nữ : khi người con gái lập gia đình, công việc đầu tiên mà nhà gái phải làm là nộp cheo làng mấy trăm viên gạch xây dựng những công trình cộng đồng. Con đường làng cứ mỗi năm mỗi dài. Sau mùa cưới quãng đường dài thêm, bác thợ nề ý tứ đánh dấu từng khoảng để làng biết đó là của ai đóng góp. Đã có những bà mẹ dẫn con đi trên con đường kể chuyện ngày ấy mẹ nộp cheo làng đủ gạch để xây nên con đường này.

    Bây giờ làm đường bê tông cùng lúc thi công đường phẳng từ đầu làng đến cuối xóm, hai bên là rãnh thoát nước, còn đâu kỷ niệm xưa, lại tiếc những bụi cỏ mần trầu.
    Cỏ mần trầu mọc thành từng búi nhỏ, khi phát triển làn thành từng đám, màu xanh lục khác các loại cỏ khác. Lá cỏ mềm, dài nhọn, ngả ra các phía, hoa cỏ mọc trên một cọng dài cao vút trên đầu ngọn cỏ, chĩa ra bốn nhánh nhỏ, lấm tấm những hạt trắng, đơn sơ, mộc mạc. Cỏ mần trầu gắn bó với người ta từ thuở còn thơ. Tuổi trong nôi khi còn bú mẹ, mỗi khi trái nắng trở giời bé sốt cao, người nóng hầm hập, li bì nằm bỏ bú, người mẹ có kinh nghiệm thường nhổ một nắm cỏ mần trầu giã lẫn vài ngọn lá nhọ nồi, vắt lấy thìa nước cốt. Bã cỏ buộc vào cổ tay, đắp trên thóp, nước cốt đổ cho uống, môn thảo dược bình dân ấy thế mà hay, cơn sốt hạ nhiệt dần, bé tìm ti mẹ đòi bú. Nước cỏ xanh lè pha với sữa trắng thành dung dịch quý, nuôi bé lớn khôn.
    Đến tuổi nhi đồng, cỏ mần trầu theo trẻ chơi trong những cuộc vui, ngày tết trung thu, trẻ em tuốt những ngọn hoa cỏ, dùng cọng xâu chuỗi những bông hoa rau muống, hoa đại thành chuỗi hoa mang màu tím biếc nhị vàng hoặc phơn phớt trắng thơm hương. đi rước đèn dung dăng dung dẻ trong ánh nến hạt bưởi. Hoặc tranh thủ lúc trâu đã no bụng, mấy đứa rủ nhau tát một quãng mương, ì oạp lội bùn nhặt từng con cá tép nhỏ. Con đòng đong thân hình thoi, bụng chứa đầy trứng nhưng nhỏ bé, khờ dại (khôn như con mài mại, dại như con đòng đong) chịu phận nằm yên, con cá rô bướng bỉnh phùng mang giương vây quẫy đành đạch tìm đường chạy thoát. Mang cá rô cứng, sắc như mảnh thủy tinh, vây cá rô nhọn, đâm buốt như kim châm, nhưng khéo nắn đầu luồn cọng cỏ mần trầu qua mang, cu cậu cũng đành chịu phép. Chiều về, tung tăng xâu cá dài thượt, bùn lấm be bét nhưng vui. Bọn con gái thì ý tứ hơn, sớm biết chọn búi cỏ tươi, đem về nấu nước gội đầu để nuôi tóc dài thêm, mượt thêm và đen biêng biếc như cánh con chim Trả. Rồi tuổi dậy thì đến, cỏ mần trầu nấu lẫn với các hương liệu, mỗi khi gội đầu xong xõa tóc bờ vai đi trên đường, gió đưa hương cỏ, hương sả thơm ngát, quãng đường rợp những bóng tre, làm ngây ngất lòng trai.
    Trong sách thuốc của cụ Tuệ Tĩnh đời Trần cỏ mần trầu được đặt tên là Tất Suất Thảo có tính, có vị hẳn hoi. Đến thời Hậu Lê, cụ Lê Hữu Trác lại giành cho cỏ mần trầu một vị trí đầu bảng, dân gian Việt Nam từ Nam tới Bắc ai mà không biết “toa thuốc nam căn bản” gồm đủ quân thần tá sứ tám vị chủ lực trong đó cỏ mần trầu không bao giờ vắng bởi tính bình, có khả năng điều hòa cơ thể, giải nhiệt, giải độc.
    Cỏ mần trầu, những búi cỏ mọc khiêm nhường bên vệ đường, âm thầm gắn cuộc sống với con người nhưng đã mấy ai là bạn tri kỷ.
    Ngọn cỏ, lá rau bình thường nhưng đối với cuộc sống chúng ta có nghĩa biết bao. Bởi là hồn quê, là nơi ta nương náu đi về để tìm một khoảng thư thái trong tâm hồn những ngày đi kiếm sống xa quê.

Đã đăng trong Hà Nội Mới cuối tuần số 392.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 28.7.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn