Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Gốc Chay Vườn Cũ





    Thẫn thờ trước mảnh vườn xưa
     Vườn xưa ... tôi đứng thẫn thờ ...
    Trống trơn ! (*)

Tôi về tìm lại mảnh vườn xưa sau nhiều năm phiêu bạt. Mảnh vườn ấy là nơi mà suốt bao năm tôi hầu như không một lúc nào nguôi quên về những kỷ niệm của một thời thơ ấu. Phải chăng dấu ấn của quê hương chính là dấu ấn của mảnh vườn nhỏ nhoi và thân thuộc với mỗi cuộc đời ?

     Đâu rồi gốc mít, gốc cau
     Đâu rồi đụn rạ, cầu ao...
     Đâu rồi ?(*)

Mảnh vườn xưa thân thuộc của tôi giờ đã không còn. Thay vào đó là một ruộng lúa còi cọc màu vàng úa, đối lập với cánh đồng xanh mướt xa xa. Một thực tế phủ phàng như bất chợt ập xuống lòng tôi!
Quê tôi ở vùng gió Lào nắng nóng. Vùng đất ấy tuy khắc nghiệt đói nghèo nhưng cảnh sắc thật là thơ mộng. Con sông Gianh hiền dịu, nước xanh ngăn ngắt phập phồng hơi thở theo nhịp thuỷ triều lên xuống quanh năm; chỉ trừ những ngày ầm ầm nước lũ từ trên nguồn đổ xuống, dữ dằn như thiếu phụ nổi cơn ghen! Tuổi ấu thơ tôi được ngâm tẩm đến đen dòn bằng chất nước mặn mòi của con sông mà đại dương đều đều ban tặng. Con sông là nơi ngày ngày tôi câu cá vớt tôm, là bể bơi, là "câu lạc bộ" của một thuở chăn trâu đi học. Đói thì trèo cây hái trái bần ăn, nóng thì cũng từ trên ngọn bần nhảy tùm xuống nước ."Tôi giang tay ôm nước vào lòng . Sông mở nước ôm tôi vào dạ!"(**). Bên bờ sông là những ngọn đồi, có sim, có mua, có bao nhiêu loại hoa và quả dại mà bọn trẻ chúng tôi vẫn coi là nguồn thực phẩm để kiếm tìm những lúc đói meo! Những buổi chiều tà, trèo lên đỉnh đồi nhìn ra bốn phương tám hướng, ánh nắng dát lên cánh đồng, lên mặt nước, lên những cồn cát trắng xa xa và lên ánh xanh mờ của mặt biển tít tắp tận chân trời, tôi dường như quên đi tất cả những khó khăn đói khổ giữa những ngày chiến tranh tàn khốc. Phía sau lưng, bên kia bờ sông uốn lượn là rặng núi Giăng Màn (tức dãyTrường sơn) như một bức trường thành hùng vĩ đang tím dần, ngăn ráng chiều thành những mảng hình đầy gợi cảm và kỳ bí. Dưới chân đồi, dãy nhà ga đường sắt bị đạn bom nham nhở tạo nên những hốc sâu đen ngòm như từng hố mắt nhìn lên. Cách đó không xa là chiếc cầu sắt cong queo, đổ gục xuống dòng sông! Hồi ấy tôi còn là một đứa bé nhưng rất hay quan sát và suy diễn. Tôi cứ nhìn phương xa mà hy vọng tương lai, nhưng khi ngắm lại xung quanh thì như sực tĩnh về thời hiện tại!
Cái xóm nhỏ mà tôi sinh ra và lớn lên nằm kề bên ngọn đồi và nhà ga. Như bao làng quê Việt nam, cũng rặng tre bao bọc, cũng hàng cau xếp hàng thẳng tắp, cũng bụi chuối, gốc ổi, ngọn bòng, cũng chùm khế, cành na đung đưa mời mọc ... Hồi ấy làng tôi toàn nhà tranh, chỉ có một hai ngôi nhà ngói. Vì không xa rừng lắm nên tuy gọi nhà tranh nhưng cột kèo thường bằng gổ lim chắc nịch, mái thường lợp tranh, lợp vọt (ngoài Bắc gọi là guột) kín dày, bền hơn mái ngói. Bây giờ ở nhà mái bằng bê tông cốt thép, tuy chắc chắn nhưng lại không thích bằng ngôi nhà tranh đơn sơ thuở ấy. Nói thế có thể có người không tin nhưng mà đúng vậy. Nhà tranh về nùa hè mái không bị nung, mở toang các cửa, gió ào qua mát rượi. Còn mùa đông lại giữ nhiệt rất ấm. Cũng có thể cái mát mẽ và ấm áp ấy chính là của mẹ tôi, của cha tôi truyền cho trong những ngày ấu thơ mà tôi còn cảm nhận tới bây giờ ? Ngôi nhà đã bị giặc đốt đi đốt lại, lâu rồi. Gần nửa thế kỷ xa mẹ và xa quê mà tôi vẫn chưa bao giờ nguôi quên những gì tôi đã có.
Mảnh vườn là thế giới thu nhỏ của riêng tôi. Nửa thế kỷ rồi nhưng tôi vẫn còn nhớ rất rõ những nét thân quen trong mỗi góc vườn, đặc biệt là hai cây chay cổ thụ. Hai cây chay nằm hai đầu ngôi nhà, bóng trùm kín mái tranh và một khoảng sân vườn rộng. Hai cây chay như hai cột mốc chỉ rõ vị trí ngôi nhà của tôi mà từ những khoảng cách rất xa đã có thể nhìn thấy. Tôi gắn bó với hai cây chay như hai người bạn thân thiết nhất của mình. Khi vui tôi trèo lên cây ngồi hát nghêu ngao. Khi buồn tôi cũng trèo lên cây nằm khóc thút thít và dường như được cây an ủi che chở để vơi đi tất cả nỗi buồn! Hai cây chay cũng có hai cá tính khác nhau mà có lẽ chỉ riêng mình tôi thấy được. Cây chay ở phía tây nam ngôi nhà xanh tốt quanh năm, khoẻ khoắn như một trung niên vào thời sung mãn. Gốc cây to người ôm không xuể. Cây chay này ra nhiều trái lắm. Mẹ tôi thường hái trái cây để nấu canh chua. Trái chín có vị ngọt hơi chua chua dìu dịu rất hợp với các chị các cô. Tán cây xoè rộng nhưng không hề hấn gì trước gió bão bởi nhánh cành rất khoẻ, rất chắc. Còn cây chay ở phía đông bắc ngôi nhà là một cây già, tuy to nhưng có vẻ yếu ớt, thân cây đã bị ruỗng nhiều phần, các loại chim thường về chọn những hốc sâu làm tổ. Cây chay này ít trái nhưng trái rất to, rất ngọt. Tôi chỉ thích trái cây này nên thường giữ riêng không cho ai trèo hái. Có thể có nhiều người chưa biết đến trái chay, mặc dù ngay ở Hà Nội cũng nhiều khi có bán. Đó là một loại trái cây to cỡ nắm tay, hơi tròn nhưng không định hình rõ rệt. Khi trái non thì vỏ xanh ruột đỏ hạt trắng, bổ đôi trông rất đẹp nhưng chua loét, chỉ có thể dùng nấu dấm. Khi chín thì có màu vàng ươm như màu mơ, vỏ mỏng, ruột có múi đỏ tươi, vị ngọt pha chua na ná vị mơ. Không biết đã có ai làm thử chưa, nhưng tôi nghĩ trái chay mà làm rượu vang thì chắc là ngon tuyệt. Hạt chay rang ăn vừa thơm vừa béo. Tôi biết nhiều nơi cũng có chay. Hồi đi sơ tán ở Bắc Giang tôi đã gặp nhiều nhưng tôi chưa gặp một cây nào có trái ngọt như cây chay ở vườn nhà tôi. Rất nhiều người quanh vùng đến xin giống, về trồng vẫn cho quả ngọt nhưng không bằng cây mẹ. Phải chăng tại họ trồng chưa đúng cách hay tại khoảnh đất vườn tôi có gì đặc biệt mà cho trái cây ngon vậy? Trong những năm kháng chiến, bom đạn nhiều lần cắt ngang bổ dọc vào cây, ngôi nhà bị giặc đốt nhiều lần, cháy xém cành cây, nhưng cả hai cây vẫn sống, vẫn xanh tốt, vẫn cho trái đều đều. Sức sống của cây có khác gì sức sống con người quê tôi? Những năm chiến tranh, bom B52 cũng không thể làm cây đổ, như làng tôi vẫn đứng vững vàng trên tuyến đầu đất lửa!
Bẵng đi mấy năm, nay tôi mới có dịp về thăm lại mảnh vườn xưa. Một phần làng trong đó có nhà tôi đã chuyển lên đồi từ thời hưởng ứng phong trào Quỳnh Lưu, chuyển nhà lên đồi để lấy đất bằng làm ruộng. Vườn cũ chỉ còn là mảnh ruộng được máy gạt san bằng. Một con mương thẳng tắp cắt ngang góc vườn như vết dao khía vào chiếc bánh. Có lẽ vì đất nền nên lúa không tươi tốt. Những dấu tích của rặng tre, của những gốc cây to vẫn còn nằm rải rác đó đây... Tôi còn nhớ như in vị trí từng cây ổi, cây mít, cây bưởi, cây na; từng khóm chuối, gốc cau mà suốt một đời cha tôi vun trồng chăm bón. Vốn là một nhà Nho, giao du nhiều nên cha tôi cũng theo bước ông tôi, thường hay sưu tầm các giống cây quý về trồng trong vườn nhà. Một cây mận lấy giống từ ngoài Bắc, một gốc cam từ Vinh, một cây na từ Huế, cây ổi tận trong Nam... Còn hai cây chay tôi không rõ từ đâu, có thể đã có từ đời ông tôi hoặc lâu hơn nữa. Phải tới trăm năm mới có được gốc cây to đến thế. Người trồng cây là người bao giờ cũng nhìn vào lợi ích của hàng chục năm sau, có khi đời mình không được hưởng. Bác Hồ đã từng dạy: "Vì lợi ích mười năm thì trồng cây. Vì lợi ích trăm năm phải trồng người". Cùng với việc nuôi dạy con cháu nên người, khi trồng hai cây chay này có thể ông tôi hoặc cụ cố tôi cũng đã từng nghĩ vậy. Các con tôi, các cháu tôi sau này chắc khó mà hình dung được hai cây chay vừa to cao, rợp mát lại ngọt ngào như thế. Nhìn hai nấm đất như hai cái gò nổi, dấu tích của hai gốc chay bị đốn, tôi bỗng nhớ tới một cây nhãn tổ ở thị xã Hưng Yên mà giống quý đã được nhân ra hàng triệu cây đem trồng khắp nước. Nếu cây nhãn ấy cũng bị vô tình đốn gốc như cây chay? Nếu người ta biết quý trọng một cây chay cho trái ngon đặc biệt như vậy thì cây chay thân thiết của tôi đâu bị chặt oan để bây giờ tôi đứng tiếc ngẩn ngơ? Ruộng lúa đã phủ kín vườn xưa, nhưng hai mô đất nổi cao như hai nấm mộ! Có lẽ khi cưa hai gốc cây này mất khá nhiều công. Tôi lội ruộng đến bên mỗi gốc cây, đứng lặng hồi lâu. Tôi như thầm nói với cây những lời thương tiếc tận đáy lòng. Giá như có thể thắp một nén hương cắm lên nấm đất như thắp hương cho một linh hồn đã khuất! Tôi nghẹn ngào tưởng như đang nghĩ về những người thân. Những người bạn của tôi, nơi cất dấu bao kỷ niệm thơ ấu của tôi... giờ chỉ còn là hai nấm đất! Một vài chồi non mọc lên từ hai nấm đất cũng bị chặt cụt rồi. Hai cây chay đã qua bao đạn bom, giông bão vẫn tốt tươi, thế mà giờ chỉ còn là hai nấm đất, hai nấm mộ vô danh! Tôi xa quê từ lâu, đã định cư nơi khác và hẵn là khó có dịp thưởng thức hương vị trái cây vườn nhà, nhưng khi nhìn hai nấm đất tôi cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ như chính mình bị cướp đi một nguồn trái quý!
Một tiếng gọi từ xa bỗng làm tôi sực tĩnh. Những người phụ nữ đang làm đồng nhận ra tôi, cầm nón vẫy vẫy. Họ là ai, tôi không nhận ra. Khi rời làng tôi còn là một đứa bé, chỉ có độc một cái quần cộc cũn cỡn trên thân hình nhỏ thó và đen như đáy chảo. Có lẽ họ nhận ra tôi do đồn đại chứ không vì những nét thân quen. Trong làng hầu hết đều có mối ràng buộc họ hàng, không nhận biết một ai nên tôi rất khó xưng hô. Những người phụ nữ lớn tuổi cầm tay tôi hỏi dồn hỏi dập về chuyện xưa chuyện cũ, về những gì đã xẩy ra hơn bốn chục năm về trước, rồi xuýt xoa tấm tắc, ngắm nhìn như ngắm một con người từ hành tinh khác đến! Họ xưng danh, xưng vị thứ trong dòng tộc và kể vanh vách từng chuyện nhỏ nhặt về tôi của cái thời vừa mót khoai vừa đi học, ngót nửa thế kỷ xa xưa ấy. Điều làm cho tôi bất ngờ và ngạc nhiên là họ biết và khẳng định là tôi đang nuối tiếc về 2 gốc chay bị đốn! Tại sao họ không nói đến gốc na, gốc ổi hay gốc cau, gốc mít mà lại đúng là gốc chay? Thì ra không chỉ riêng tôi mà hầu như mọi người đều tiếc cho 2 gốc chay quý hiếm ấy! Một sự đồng cảm gần như khi chia sẻ một nỗi đau thương mất mát người thân, làm tôi xúc động đến nghẹn ngào!
Tôi có trách ai đâu? Tôi có oán ai đâu? Tôi chỉ tiếc nuối về một sự mất mát mà không dễ gì bù đắp. Sự mất mát này không thể chỉ quy về mặt ích lợi kinh tế mà cái chính là về mặt tinh thần. Quý như cây đa do chính Ngô Vương trồng ở trước am Mỵ Châu (Cổ Loa – Hà Nội) có tới hơn một nghìn tuổi mà cũng không thể nào giữ được, huống gì một cây chay? Chỉ có khác nhau một điều là cây đa chết do tác động xấu của thiên nhiên môi trường mà khoa học bây giờ chưa khắc phục được; còn cây chay của tôi lại chính do tự con người huỷ diệt vì chỉ nhận thấy lợi ích nhỏ nhặt trước mắt mà không nhận thấy lợi ích lâu dài.
Thời gian rồi cũng sẽ xoá nhoà đi tất cả. Niềm tiếc thương của tôi rồi cũng sẽ nguôi quên. Cũng như ông bà tôi, cha mẹ tôi, cây chay đã từng một thời sinh sống và đem lại hương sắc cho đời, nay không còn nữa, nhưng trong tâm trí tôi nó vẫn là một dấu mốc để tôi luôn nhớ về mảnh vườn xưa, về những gì sâu lắng nhất của tuổi ấu thơ mình. Giá như nó cũng có một ngày giỗ để tôi mãi mãi giữ làm một ngày tưởng niệm!

Biết là mưa nắng lẽ thường
Mà sao lòng mãi vấn vương nơi này ?!(*)

Hè 1998

*”Vườn xưa” – thơ Hoàng Gia Cương
** "Nhớ con sông quê hương" - thơ Tế Hanh

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 28.7.2014.