Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (1)






An Dương Vương- Những Bài Học Làm Vua
   Năm 218 TCN. Tần Thủy Hoàng huy động 50 vạn quân chia làm 5 đạo đi chinh phục Bách Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi sâu vào đất Việt, đạo quân thứ nhất phải đào con kênh nối sông Lương (vùng An Hưng, Trung Quốc ngày nay) để chở lương thực. Nhờ vậy, Đồ Thư thống lĩnh đã vào được đất Tây Âu, giết tù trưởng, chiếm đất rồi tiến vào Lạc Việt.
   Thục Phán được các Lạc tướng suy tôn làm lãnh tụ chung chỉ huy cuộc kháng chiến này. Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Lạc Việt, Thục Phán lãnh đạo nhân dân chống giặc. Quân Tần đi đến đâu, dân Việt làm vườn không nhà trống đến đó. Quân Tần dần lâm vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng.
   Khi quân Tần kiệt sức, vì thiếu lương. Quân dân Việt, do Thục Phán chỉ huy, mới bắt đầu xuất trận. Đồ Thư phải bỏ mạng trong trận này. Mất chủ tướng, quân Tần hoang mang mở đường tháo chạy về nước. Sau gần 10 năm kháng chiến, nhân dân Âu Việt – Lạc Việt giành độc lập.
   Sau khi kháng chiến thắng quân Tần, Thục Phán buộc Hùng Vương nhường ngôi, lập Nhà nước Âu Lạc. Thục Phán tự xưng là An Dương Vương, đóng đô tại Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh-Hà Nội) và xây dựng Thành Cổ Loa.
(Lịch sử Việt Nam -Viện sử học - 1991)
   Tài liệu gần thời Âu Lạc nhất, Sử ký Tư Mã Thiên cho rằng An Dương Vương và nước Âu Lạc tồn tại gần 30 năm khoảng (208- 179 TCN).
   Âu Lạc là nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang đầu tiên của các vua Hùng.
   Ngày nay, Nhà nước Âu Lạc còn hiện hữu uy linh, sừng sững tòa Thành Cổ Loa với những giá trị Văn hóa Vật thể và Phi vật thể (Văn hóa Tâm linh, Văn minh sông Hồng, Văn minh lúa nước…) độc nhất vô nhị trên hành tinh.
   Thành Cổ Loa hiển hiện thành tựu rực rỡ của nền Văn minh sông Hồng, Minh triết Việt, tiếp nối tri thức Tổ Tiên Bách Việt, sau Kinh Dịch, Thuyết Âm Dương Ngũ Hành, Trống Đồng, kỹ nghệ chế tạo đồ đồng, sáng chế vũ khí…
   Tại Thành Cổ Loa, các nhà khảo cổ đã khai quật được nhiều mộ cổ, hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh, rìu lưỡi xéo bằng đồng, và trống đồng.
   Thành Cổ Loa với các di chỉ, dấu tích, hiện vật khảo cổ, những huyền thoại… ghi nhớ những bài học máu xương, dạy muôn đời con cháu Việt biết xây thành, đắp lũy, bảo vệ bờ cõi, chiến đấu chống giặc Bắc phương, tổ chức chính thể độc lập, dân chủ… Những bài học làm vua, làm con, mối quan hệ giữa gia đình với xã tắc, sơn hà, tội ác gián điệp, lòng tham quyền/ tiền, sự ngây ngô, tăm tối dẫn đến tan nhà, mất nước, vua/ con mất mạng… còn chảy máu mãi đến nay.
   Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "Tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ".
   Bộ máy nhà nước của nước Âu Lạc không có nhiều thay đổi so với bộ máy nhà nước thời Văn Lang. Đứng đầu bộ máy hành chính trung ương vẫn là Vua và Lạc Hầu, Lạc Tướng. Tuy nhiên, thời An Dương Vương quyền hành của nhà nước cao hơn và chặt chẽ hơn. Vua có quyền thế hơn trong việc cai trị đất nước.
Tính cách ông vua Nông dân Việt
   Cổ Loakinh đô của nhà nước Âu Lạc do An Dương Vương làm vua vào khoảng thế kỷ III TCN.
   Thế kỷ X (SCN). Ngô Quyền làm vua, chọn Cổ Loa là Kinh đô.
   Di tích Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh- Hà Nội luôn âm ỉ, bùng cháy ngọn lửa An Dương Vương- Những bài học làm vua.
   Đồng đất vùng Đông Anh của nước Âu Lạc với những cánh đồng và dòng sông mênh mông nối nhau vô tận, phù sa màu mỡ, lúa ngô xanh mát đôi bờ. An Dương Vương thông hiểu đất đai, phong thủy, địa thế bằng phẳng, sông nước giao thương, vùng đất, vùng trời mà mình cai quản. Người thủ lĩnh thông thái ấy đã chọn nơi này đóng đô, xây thành đắp lũy, kiên cường chống quân xâm lược Bắc phương và xây dựng Nhà nước Âu Lạc hùng cường.
   Ai đó cho rằng An Dương Vương là người Trung Quốc, là “giặc Thục” đến xâm chiếm Nam Việt, bức tử vua Hùng…
   Nghiên cứu những huyền thoại, di tích, di chỉ… xung quanh An Dương Vương và Thành Cổ Loa, chúng tôi tin tưởng An Dương Vương là con cháu vua Hùng, chính gen con Rồng cháu Tiên.
   Bởi tất cả những tri thức An Dương Vương gửi hậu thế, kể cả vật thể và phi vật thể, kể cả ngô nghê, lầm lạc, ác tham… đều thấm đẫm tính chất Văn minh sông Hồng, Văn minh lúa nước, Triết lý Thiên- Địa- Nhân hợp nhất, Âm- Dương Ngũ Hành, Văn hóa ao hồ, đồng đất, tính cách nông dân trồng cấy …
   Tâm hồn An Dương Vương chân chất, ngây ngô, hồn hậu với những phong tục, tập quán, những cầu cúng, những giấc mơ gặp ma, quỷ, thần Kim Quy, Gà trắng… đẫm hồn Bách Việt.
   Chi tiết An Dương Vương “chén chú, chén anh” say túy lúy với chàng con rể đểu Trọng Thủy, để nó lẻn vào lấy cắp nỏ thần, dẫn đến cảnh nhà tan, nước mất, cha con chém nhau tự chết, là đặc sệt, đặc trưng bản chất “ông vua Nông dân Việt”.
   Tính cách An Dương Vương đã trở thành một Điển tích Việt Nam.
   Một ông vua say sưa với chiến thắng. Dễ bị phỉnh lừa. Không hiết mình là ai? Không hiểu kẻ thù nó thâm độc thế nào? Tự cao ngạo khi nắm được Quyền/ Tiền. Vơ lợi ích cho cá nhân, gia đình, con gái, con rể và phe nhóm, quên bản thân mình với cái chết rình rập. Coi việc quốc gia đại sự như việc xó bếp nhà mình. Coi quyền lợi cá nhân hơn quyền lợi dân tộc. Sơn hà, xã tắc đổi lấy nắm xôi, Bờm cười. Cậy quyền sinh, quyền sát, không biết nghe lời nói phải, hại hiền tài can ngăn, dâng kế sách cứu nước, cứu dân…
   Văn học Dân gian Việt đã thành công hiển hách với truyện tình Mỵ Châu- Trọng Thủy. Nó khắc họa tính cách An Dương Vương bất tử với bản chất ông vua “Nông dân Việt” bất diệt.
   Chính bởi cái yết hầu- tính cách “ông vua Nông dân Việt” này, nói kiểu dân gian “An Dương Vương và Tần Thủy Hoàng chưa siêu thoát” mà “Bắc thuộc” cứ trở đi trở lại:
Nướng dân đen trên ngọn lửa điêu tàn
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ
(Nguyễn Trãi)
   Nửa cuối thế kỷ XX. Nhà thơ Hoàng Cầm thảng thốt kêu:
An Dương Vương ôi! Bọt bể bồ hòn.
Thành Cổ Loa- Giao thông thủy bộ
   Việc dời đô từ Phong Châu (Phú Thọ) về Đông Anh là bản lĩnh và tầm nhìn non sông rộng lớn của An Dương Vương. Địa điểm Cổ Loa chính là Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp…
   Định đô tại đồng bằng, An Dương Vương đã mở một bước tiến lớn trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp có bước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước, mức độ dân cư cũng đông đúc hơn.
   Thời Âu Lạc. Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa. Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng. (Sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp, nay thành một con lạch nhỏ). Xưa kia sông Hoàng là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình.
   An Dương Vương đã nhận ra Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận lợi về giao thông đường thủy hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằng Bắc Bộ vào thời ấy.
   Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình. Hai mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ Việt Nam. Qua con sông Hoàng, thuyền bè có thể tỏa đi khắp nơi. Nếu ngược lên sông Hồng là có thể thâm nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền có thể ra đến biển cả. Nếu muốn đến vùng phía Đông Bắc bộ thì dùng sông Cầu để thâm nhập vào hệ thống sông Thái Bình đến tận sông Thươngsông Lục Nam.
Bài học xây thành, đắp lũy bằng đất
   Thành Cổ Loa được xây bằng đất do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạch nung. Thành có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km... Diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có chỗ 8–12 m. Chân lũy rộng 20–30 m, mặt lũy rộng 6–12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối.
   Những huyền thoại, truyền thuyết về việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa đã phản ánh một sự thật vô cùng nan giải khi xây thành. Khu vực Cổ Loa là một nền đất yếu nên việc xây dựng thành Cổ Loa rất khó. Thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu.
   Khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học phát hiện kỹ thuật gia cố thành của Thục Phán.
   Chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường kính 15 cm, hòn lớn 60 cm. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dày đặc đã được tạo ra, thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh.
   Thuở ấy, sông Thiếp- Ngũ Huyền Khê - Hoàng Giang thông với sông CầuThổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh). Ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Nhân dân cũng được điều tới khai phá rừng đa (Gia Lâm), rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm)... thành ruộng.
   Khi An Dương Vương xây Thành Cổ Loa là thời điểm thiêng liêng. Hiền tài xuất hiện.
   Nhân vật anh hùng văn hóa Cao Lỗ, chế tạo Nỏ Thần xuất hiện. Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện, chế tạo côn, kiếm, giáo, mácnỏ liên châu, mỗi phát bắn nhiều mũi tên.
   Có nhiều bằng chứng khảo cổ về sự tồn tại của hàng chục vạn mũi tên đồng, có thể dùng nỏ liên châu ở đây…
   Xây thành Cổ Loa người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các địa hình tự nhiên. Loa Thành ngự trên các đồi gò, cánh đồng và những dòng sông.
   Dân Việt tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường thành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đường thẳng như bức tường thành trung tâm.
   Người Việt cổ xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng. Chiếc Đầm Cả rộng lớn nằm ở phía Đông cũng được tận dụng, biến thành bến cảng làm nơi tụ họp cho đến cả hàng trăm thuyền bè. Đó là Văn hóa ao hồ, sông nước do người Việt sống trên mảnh đất này sáng tạo. Thiên- Địa- Nhân hợp nhất cũng là đây.
   Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Các đoạn thành ven sông, ven đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác. Đá kè là loại đá tảng lớn và đá cuội được chở tới từ các miền khác. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở.
   Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấy một số lượng gốm khổng lồ gồm ngói ống, ngói bản, đầu ngói, đinh ngói. Ngói có nhiều loại với độ nung khác nhau. Cái được nung ở nhiệt độ thấp, cái được nung rất cao gần như sành. Ngói được trang trí nhiều loại hoa văn ở một mặt hay hai mặt.
Các ụ lũy chiến đấu của thành Cổ Loa
   Tương truyền Thành Cổ Loa gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền.
   Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4 m-5 m, có chỗ cao đến 8 m-12 m. Chân lũy rộng 20 m-30 m, mặt lũy rộng 6 m-12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối.
   Cấu trúc chung của thành Cổ Loa có một yếu tố chiến đấu với kẻ thù. Đó là những gò đất dài họặc tròn được đắp rải rác giữa các vòng thành hoặc nằm ngoài thành Ngoại. Không biết được có bao nhiêu ụ, lũy như thế, nhưng một số được dân chúng gọi là Đống Dân, Đống Chuông, Đống Bắn... Các ụ, lũy này được dùng làm công sự, có nhiệm vụ của những pháo đài tiền vệ, phối hợp với thành, hào trong việc bảo vệ và chiến đấu.
   Thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, triều đình và kinh đô. Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh. Nhờ ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể phối hợp cùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến.
   Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua. Với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy. Thời kỳ này, vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải được bảo vệ chặt chẽ, sống gần như cô lập hẳn với cuộc sống bình thường. Xã hội đã có giai cấp và có sự phân hóa giàu nghèo rõ hơn thời Vua Hùng.
   Là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ. Đá kè chân thành, gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa hồi chắc chắn và nhất là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo… Tất cả những điều đó, chứng minh Nghệ thuật và Văn hóa thời An Dương Vương mà chúng ta khó có thể hiểu thấu.
   Hàng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa tổ chức lễ hội trang trọng để tưởng nhớ những người xưa đã có công xây thành, ghi ơn và học lại những bài học thành công và thất bại của An Dương Vương, giúp chúng ta bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam hôm nay.
Lời nguyền Mỵ Châu & Ngọc Thạch không đầu
   Thành Cổ Loa là bảo tàng sống về nước Âu Lạc và An Dương Vương. Điều kỳ lạ là nơi đây có Am Mỵ Châu linh thiêng, bí ẩn, diệu huyền. Không lời giải.
   Am Mỵ Châu thờ Công chúa Mỵ Châu, khói hương ngan ngát hiển linh một tảng đá ngọc khổng lồ, đĩnh đạc hình dáng người ngồi, bị mất đầu được ở ngự cung, thân thể khoác xiêm y lộng lẫy, trên cổ đeo hạt ngọc trai óng ánh… Am Mỵ Châu được người dân muôn phương, mọi thời đại, tìm đến chiêm bái, lòng đầy cung kính, dứt day…
   Tương truyền khi An Dương Vương thất thế ở Thành Cổ Loa đã cùng con gái yêu Mỵ Châu lên ngựa chạy về phương Nam. Đến đèo Mộ Dạ (Diễn Châu, Nghệ An) thì sức cùng, lực kiệt, trước mặt là biển Đông sau lưng là quân thù. An Dương Vương đã cầu cứu thần Kim Quy. Rùa Thần hiện lên và nói: “Giặc ở sau lưng nhà vua đó!” vua liền rút gươm chém đầu Mỵ Châu.
   Trước khi chết Mỵ Châu quỳ gối ôm chân cha khóc: “Oan cho con lắm. Nếu là kẻ bất trung, hại cha, khi chết thân xác con sẽ hoá thành tro bụi, bằng không hoá thành ngọc thạch trôi về hầu cha”.
   Lời nguyền Mỵ Châu đã thành hiện thực. Ngày nay người dân Cổ Loa liên tục truyền những câu chuyện bí ẩn quanh lời nguyền.
   Cái thuở xa xưa ấy, một vài người dân quăng lưới đánh cá trên sông Hoàng Giang đã kéo lên được một bức tượng hình người ngồi xếp bằng, hai tay để song song đặt lên đầu gối nhưng lại không có đầu. Họ vứt bức tượng xuống sông. Nhưng mấy lần sau khi họ quăng lưới kéo lên, đều được bức tượng đó. Họ cho rằng, bức tượng linh thiêng đó chính là tượng công chúa Mỵ Châu. Các bô lão ở Cổ Loa đã mang võng đào ra làm lễ xin được rước về. Một cụ khấn cầu: “Nếu ngài có linh thiêng xin ở chỗ nào về chỗ đó, để con cháu lập đền thờ”. Quả nhiên, khi gánh Ngọc Thạch về, chiếc võng đã đứt ngay tại vùng đất nay là Am thờ công chúa Mỵ Châu, bên trái điện Di Quy.
   Nhân dân tin đây là tượng công chúa Mỵ Châu đã ứng nghiệm vào lời nguyền- trôi ngược biển Đông về Cổ Loa hầu vua cha. Hàng năm, nhân dân trong vùng đã cử người trông coi Am Mỵ Châu. Người được cử phải có đạo, ông bà song toàn, con cháu quây quần, an vui. Và cứ hai tháng một lần, vị quan Đám đó làm lễ tắm rửa tượng, thay váy áo cho công chúa Mỵ Châu.
   Cụ Chu Trinh (82 tuổi) nhiều năm quản lý khu di tích Cổ Loa kể nguyên thủy của pho tượng cụt đầu là một khối đá nguyên vẹn, có hình dáng của một người cụt đầu ngồi theo thế xếp bằng, hai tay song song, đặt lên đầu gối. Nhưng sau này các cụ cao niên trong làng Cổ Loa, trong đó có cụ Chu Trinh, đã phát hiện pho tượng đá gồm ba khối đá ghép lại, trong lòng có chỗ bị rỗng. Ông cha cụ lúc còn sống kể lại, thời Bắc thuộc, Mã Viện đã cho quân lính bổ pho tượng ra để moi ngọc trong lòng pho tượng, nên tượng mới bị chẻ ra làm ba mảnh.
   Chuyện tình Mỵ Châu- Trọng Thủy và tình yêu chung thủy của Mỵ Châu đã ứng vận vào tình yêu đôi đôi lứa ngày nay. Nhiều bạn trẻ tìm đến Loa Thành như một nơi linh thiêng để thề non hẹn ước. Chị Nguyễn Thị Bình ở xóm Chùa, xã Cổ Loa nói: “Nhà tôi ở đây lâu đời rồi, tôi thấy thanh niên ở bên Hà Nội đến thành Cổ Loa ít hơn thanh niên ở tỉnh khác. Nhiều người đến trọ ở nhà tôi mấy ngày, chờ đến ngày Am Mỵ Châu mở cửa để vào cầu xin may mắn, tình duyên lâu bền”.
   Cụ quan Đám- Nguyễn Đức Toàn, người xóm Mít, đã từng nhiều năm cúng lễ hương đăng ở Am Mỵ Châu bảo: “Nhiều đôi thanh niên vào nhờ tôi làm lễ để cầu duyên bền chặt, thủy chung. Một cô gái ở mãi Lào Cai về xin rồi sau khi lấy chồng sinh con đã quay trở lại làm lễ tạ ơn bà”.
   Người “Nấu Sử Sôi Kinh” bên Hồ Gươm nhiểu lần về Am Mỵ Châu chiêm bái tượng Ngọc Thạch không đầu, dâng hương khấn nguyện trần gian giải nỗi oan khiên Thiên cổ cho công chúa Mỵ Châu, rất mê bài thơ chữ Hán Am Mỵ Châu của một nhà sư:

 Dịch thơ:

Am Mỵ Châu

Tình yêu mắc tội bởi can qua
Kế độc hòa hôn lẫn chính tà
Mông muội vua tin, xua kiệt tướng
Sáng trong  con ước được vui nhà
Giữa am hương ngát oan  hồn tượng
Đáy giếng máu tanh vẩn khí ma
Thành Ốc thực hư cây cỏ lạnh
Bóng chiều nền cũ quạ kêu xa.

(Ngày 16 thánh 8 năm Quí Tỵ, Thanh Đàm Lê Đức Thuận)

An Dương Vương & Mỵ Châu trong Tâm linh

   Viết xong Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (2) bỗng nhiên tôi bồn chồn nhớ lại những ngày giỗ Tổ Hùng Vương năm 2013 tôi đã viết bài thơ dài An Dương Vương Tỉnh Ngộ & Mỵ Châu Sám Hối trong cảm xúc Tâm linh và Pots lên Mai Thục Blog.
   Dù ai tin hay không tin, tôi vẫn khẳng định rằng còn An Dương Vương & Mỵ Châu trong Tâm linh.
   Xin dâng bài thơ đó lên Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (2) để bạn đọc cùng trải nghiệm Tâm linh.

An Dương Vương Tỉnh Ngộ

Sóng dữ gầm lên từ đáy biển Đông
An Dương Vương lao ngược trở về
Ôm xác Mỵ Châu gào nức nở

Tha lỗi cho cha, con gái ngọc ngà
Ta đã chém đầu con, ta có tội
Lỗi tại ta chén tạc, chén thù
Yêu con, tin người, đâm mù quáng
Nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”
Để sơn hà rơi vào tay giặc cướp
Nó núp bóng vỏ bọc tình yêu
Mấy nghìn năm Việt tộc mình điêu đứng
Thịt nát xương tan, vẫn nghe Trọng Thủy lừa

Ngậm bồ hòn ngâm đáy bể sâu
Ta xót đau quằn quại, thấu mọi điều
Trọng Thủy ác gian, sao mà mi chưa chết?
Tại ta chưa sám hối trước đồng bào

Nay ta về xin núi cao, biển rộng
Xin muôn dân động lòng tha tội lớn
Nhận mặt kẻ thù, tắm gội, gột muội mê
Bách Việt đứng lên, đoàn kết giữ đồng quê
Hội hiền tài Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung...
Cùng tắc biến, anh hùng tái hiện
Mỗi làng thôn, góc biển, bìa rừng là chiến lũy
Mỗi người dân mắt thần cảnh giới
Canh ruộng nương, bát gạo nhà mình
Quân giặc nào dám tới nơi đây
Mấy nghìn năm, đủ hiểu hung tà
Đủ thấm cảnh “Nồi da xáo thịt”
Con cháu Rồng Tiên một nhà tiến bước.

Mỵ Châu Sám Hối

Trăm lạy vua cha
Lạy sơn hà, xã tắc
Phận gái ngu ngơ
Mỵ Châu con xin sám hối
Tội ngây thơ, khờ dại, mù mờ
Tội ngu không biết lời thật/ giả
Tội tham bát, bỏ mâm
Tội mê giai phát dại, hóa rồ
Để nó lừa ăn cướp Nỏ Thần
Báu vật quốc gia, sức mạnh nước, nhà
Tội tày trời, cha chém con là phải
Mình hại dân, hại nước, sống làm chi!

Tượng cụt đầu trôi ngược biển về chầu
Thành Cổ Loa, con giãi bầu tâm sự
Lẽ ra con phải lớn nhanh cùng vận nước
Xứng là con gái vị minh quân
Giúp cha phân biệt điều phải/ trái
Thấy cha sai, con cãi, can ngăn
Gái lấy chồng, không theo cha mẹ đặt
Phải biết tự mình tìm tình yêu đích thực
Không mê man, lú lẫn say giai
Không mang tình riêng hại việc nước non…

Biết dại/ khôn thì, ôi thôi! Đã muộn
Cha con mình đành chịu tội trước Nhân Dân
Xé đau thương làm bài học cho đời
Sống làm người đã khó biết bao
Làm vua càng khó biết nhường nào
Dân Nước hỡi! Hãy nhìn cha con tôi- bài học
Đừng bao giờ lặp lại khối xót xa
Chuyện kể nhiều càng đau đớn mà thôi
Khôn ngoan cùng nhau giữ sơn hà.

   Kính lạy Cha Rồng Mẹ Tiên, hồn thiêng Việt tộc!
   Tổ tiên đã minh triết, huyền thông, gửi câu chuyện tình dã man nhất, dai dẳng nhất, trong lịch sử loài người vào Biển Đông để dạy giồng nòi bài học giữ nhà, giữ nước. Vậy mà chúng con khó có thể học nổi bài học lớn vô biên như sóng Biển Đông.
Xin sám hối vô lượng!

Thần Trống Đồng Phòng Văn Mai Thục
Những ngày giỗ Tổ Hùng Vương.
17h 5 phút Ngày 16- 4- 2013

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 21.7.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn