Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




MỘT THỜI ĐỂ YÊU & MỘT THỜI TƯỞNG NHỚ








Ánh sáng mặt trời buổi mai bị từng khoảng mây che chiếu rớt một vạch dài trên cánh đồng lúa gòn thấp như con đường cỏ trắng xanh mịn màng ở phía xa gần dưới chân đồi. Con đường chạy dài theo tia sáng và rộng dần khắp cánh đồng đến chỗ Quyên ngồi. Nàng tràn ngập trong ánh nắng ấm ngửa mặt nhìn lững lên nền trời nhiều mây màu chì nhạt. Cánh đồng phía dưới chân nàng bao la một màu xanh dịu mắt, phất phơ theo hướng gió thổi lại y như đợt sóng cuộn vào bờ. Hết đợt sóng nầy, lại đợt sóng khác, gió vì thế rạt rào từng đợt như nô đùa. Quyên nghe thấy trong hơi gió một hương vị đã quen từ lâu lắm, nhưng hôm nay tự dưng nàng cảm thấy sự quen thuộc đến quá gần gũi, như mới ngày hôm qua đây, bầu trời vẫn đục màu chì, gió vẫn thổi miệt mài mang hơi lạnh của những ngày đầu đông, mang hơi thở của Tưởng; Quyên nhìn suốt theo bờ đê dày cỏ sạch lên đầu một bãi gò trống. Hình ảnh Tưởng trở về nhẹ nhàng trong khu vườn bên cột rơm cao…


***
cửa sổ trông ra vườn không nhìn thấy bóng Quyên. Khoảng đất trước kia làm sân gạch được giở ra trồng đu đủ, những dây bí dây bầu, vài luống mì, luống bắp, khỏang sân vì thế là khu vườn rợp bóng mát dày. Bóng cây xanh đã che chở cho căn nhà còn nguyên sau mấy lần bị máy bay oanh tạc, bà Bốn tin tưởng vậy nên suốt ngày mò tìm thêm các loại cây đem về lui cui xoai đất trồng. Tưởng mỗi khi nghỉ học về thăm vẫn nhận ra vẻ mới mẻ của khỏang vườn, dò hỏi bà Bốn về những cây nào mới được bà đem về, và cảm thấy như lòng mình cũng mọc thêm cây lá xanh, xum xuê. Quyên gặp bà Bốn ở đầu ngõ. Sau lưng nàng ánh nắng đã chiếu rực rỡ trên các đọt bắp trổ cờ, rẫy vườn trồng bông dệt hoa khô nở trắng. Khu chợ bị phá hoại dời đi nơi khác, hơn hai mẫu đất được trồng bắp và bông vải; vì thế ở cửa sổ trông ra, xuyên qua nhiều kẽ lá, Tưởng ngỡ trước mặt là một nông trại bát ngát, và mình là chủ trại sống ẩn trong một ngôi nhà gạch cổ không nghe thấy tiếng động. Quyên cúi nhìn xuống thảm cỏ còn mượt hơi sương, ngẫng nhìn con đường dẫn xuống ngã tư cây lá phủ ngập chỉ chừa một lối đi, ngày càng hẹp lại, chờ nghe bà Bốn nói về tính thích trồng cây của má Tưởng. Nàng dừng lại hồn nhiên, vui tươi bên bà Bốn để nghe bà nhắc đến vài cái tính vặt vãnh của má Tưởng, dù bà Bốn vẫn coi nàng như đã già cùng lứa tuổi với bà. Quyên gia nhập vào gia đình Tưởng như người ruột thịt trong căn nhà gạch cổ đó. Chính gì thế nàng thấy gần gũi yên tâm mỗi khi bị giữ lại cả ngày. Quyên muốn hỏi bà Bốn có anh Tưởng ở nhà không, nhưng nghe câu hỏi sao quá quen, nàng đi lặng lẽ vào ngõ, bỏ bà Bốn bên gốc cây trứng cá mới trồng vừa tươi sắc. Nếu không biết Tưởng trở về có lẽ nàng sẽ ngồi lại bên bà Bốn, bên gốc trứng cá, bên sự già nua của bà Bốn cả buổi sáng rỗi việc như thế nầy. Nhưng Tưởng đã cho nàng biết, nàng không cùng lứa tuổi với bà Bốn, nên nàng không thể tìm ra sự yên vui như khi đến bên Tưởng bên sự chìu chuộng. Thật lạ, chỉ gần Tưởng, Quyên mới nhận ra được cái bé bỏng, ngây thơ của mình. Được trở lại với cuộc sống của chính số tuổi của mình, Quyên thấy những khó khổ mình chịu đựng thật lớn lao, quá sức của nàng và Trung. Cái buồn chán bắt đầu từ sự xa cách Tưởng và sau đó mất hẳn cảm giác tuổi thơ, trở lại bên sự già nua của bà Bốn, và bên nỗi đói khổ của Trung. Dù sao đi nữa nàng vẫn khao khát gặp Tưởng, như kể lại tuổi thơ mình vàng son. “Ngày đó …” vọng về trong một hiện tại chua xót.
Nhìn thấy Tưởng ngồi trong cửa sổ, nơi chiếc bàn độc nhất có thể từ đó nhìn ra vườn, xa hơn nữa con đường ngập cây lá, và trồng bắp, hoa bông vải. Những ngôi nhà thì quá thấp, ẩn dưới tàng bóng cây, chú ý lắm, mới trông rõ từng mảnh mái nhà sạm đen vì quá cũ, sau những kẽ lá thưa. Khuôn mặt Tưởng hơi tối vì trời vừa hừng sáng, và ánh sáng bị chận lại ở màu xanh quá nhiều bao xung quanh. Quyên bước lên thềm xi măng, nghe hơi gió đùa mát trên tóc. Buổi sáng đến nhẹ nhàng như bước chân nàng. Quyên bước lại gần cửa sổ. Tưởng đang có ý chờ buổi sáng và chờ Quyên. Anh cúi đầu trên những trang giấy viết giở. Quyên bám chặt hai tay lên chấn song cửa, cúi đầu nhìn vào, tóc nàng chảy qua hai bờ vai tròn trên nền áo nhuộm xanh lá cây non, bóng đổ dài lên tập giấy của Tưởng. Ánh sáng như bị che lại, tối hẳn.
       - Kìa, đến lúc nào đó Quyên?
       - Đến hồi sáng sớm cơ…
       - Thôi đi, đừng có xạo, anh cũng vừa cúi xuống viết đây chớ đâu.
       - Có bà Bốn làm chứng, nói chuyện trước ngõ với bả cả giờ.
       - Lại chuyện trồng cây phải không, em muốn thành bà già hả?
Em muốn thành bà già hả? Tưởng cười theo tiếng cười Quyên. Trong sự yên lặng bình thản hiếm hoi của buổi sáng không nghe tiếng máy bay, không nghe tiếng kiểng báo động, Quyên cảm thấy mình thật thơ dại, nhỏ nhoi. Thời gian đó, không biết sao, nàng nghĩ quanh quẩn đến Tưởng; bị những liên hệ do bà Bốn gợi lại trong những lần ngồi với bà bên từng gốc cây trong vườn, Quyên hình dung lại căn nhà với đầy đủ người thân của Tưởng, và lúc nào cũng thấp thoáng hình bóng của mình. Ngày sinh con Qui vừa đầy tháng, má Tưởng được tin chồng chết trận ở Kon Tum. Sự vắng mặt của ông quá lâu trong căn nhà đến nỗi tin ông mất đi, không làm Tưởng xúc động lắm. Má Tưởng như bị dĩ vãng vây hãm, khóc rấm rứt cả ngày, trong hầm trú ẩn. Bà Bốn thỉnh thoảng gặp một việc gì trước mắt, giúp trí nhớ bà sống lại, bà chợt thở dài: “Chà ngày trước còn thằng Chín!”
Cứ vậy, bà Bốn chiu chắt với dĩ vãng còn sót trong đầu, và rất thèm được nhắc đến dĩ vãng. Hình như chỉ có những lúc bà nói đến những gì đã qua mới thấy đôi mắt bà tỏ, tiếng nói bà triền miên. Tuổi già thường hãnh diện về những gì mình đã sống với, đã thấy đến, dù sự việc thật nhỏ nhặt; chẳng hạn tài nói tiếng Tây như gõ mõ của ba Tưởng - “thằng Chín”, những lần chửi nhau với thằng Tây chủ sở trà Biển Hồ… Sau tin do những người đi dân công về báo, má Tưởng nhận được một thư tay do người bạn của chồng bà đem lại. Bức thư viết vội, nét chữ nhì nhằng bằng bút chì to nét, có lẽ vì quá cảm động khi biết tin ông có thêm một đứa con gái, hay vì bận hành quân. Có điều đáng nói là ông căn dặn sẽ nhận phần đặt tên cho con, chờ khi được về phép. Nhưng cái tên không bao giờ được gọi, bởi ba Tưởng đã chết trước ngày trở về. Cái thư đến chậm hơn cái tin buồn kia, bất ngờ trở thành một kỷ niệm, một dĩ vãng hiển hiện bằng nét chữ. Má Tưởng tiếp tục khóc rấm rứt trong hầm trú ẩn; bà Bốn được gợi nhớ đến cái tính chuộng con gái hơn con trai của ba Tưởng. “Chà ngày trước còn thằng Chín…”
Cuộc sống không còn gì trông đợi của má Tưởng kéo dài bốn năm sau, ngày con Qui bốn tuổi. Ngày chiếc bồ sơn trắng bắt đầu treo ở cuối xóm, báo hiệu những trận đổ bộ, càn quét của Tây bất ngờ đi xuyên qua xóm. Mỗi ngày máy bay đến oanh tạc nhiều lần hơn, đốt cháy dần những căn nhà còn sót lại, con xóm trở nên vắng vẻ lạ thường. Con Qui đã bị một mảnh bom chém ngang đầu trong lúc nằm dưới hầm, trên tay má Tưởng. Nó chết đi như kỷ niệm không còn chân đứng. Má Tưởng giao nhà cho bà Bốn, người u già hình như sinh ra để sống cho gia đình Tưởng, lấy gia đình Tưởng làm gia đình mình; bà đi buôn xa tận vùng bị chiếm. Những chuyến hàng lặn lội mang về từ Tam Kỳ giúp bà làm giàu nhanh chóng. Tiền bạc giúp bà vui vẻ hơn, bà tiếp tục những chuyến buôn, và bị kẹt ở Tourane không trở về được. Bà Bốn, sau nầy như quên hẳn ba Tưởng, lại nhắc đến má Tưởng nhiều hơn. Bà kể tỉ mỉ từng cái tính của má Tưởng với Quyên, với Tưởng như được sắp đặt. Con người bà như của dĩ vãng, tràn ngập kỷ niệm, nhưng không phải của chính bà, mà của những người khác. Như cuộc sống trọn đời ở thuê.
Ánh nắng ngoài vườn cứng hơn trên những cành lá rũ, chiếu xuyên vào nửa vách tường, sát dưới chân Quyên, giọng nàng ướt sũng:
       - Đì Giêng Lăng với em, nghe anh?
Tưởng ngước lên nhìn ánh nắng. Tại sao không lên gò bắt én? Tại sao không về rủ Trung đi câu? Tại sao không ra sau nhà ngồi trên chiếc cầu tre nhìn giòng nước chảy, bầy cá lượn? Tại sao bỏ cột rơm vào những buổi sáng mát trời thế này? “Đì Giêng Lăng với em, nghe anh?”
       - Đi đâu xa vậy Quyên? Không sợ máy bay à?
       - Sợ mới cầu anh đi… Em quyết định đón Trung về rồi.
       - Vậy em cho Trung ở với dượng rồi sao?
Quyên giữ yên lặng. Nét mặt chợt tối, nặng nề. Ánh nắng chiếu xuống thật chậm, những ô sáng xuyên từ các kẽ hở cây lá từng ô trắng rõ nét trên gương mặt nàng lặng lẽ. Cái im vắng của buổi sáng sau những lần báo động tản cư, chạy giặc, đọng khô trên từng ngôi nhà, từng hàng rào, từng hàng cây, con đường … Quyên tìm đến với Tưởng trong khu vườn khép kín, tĩnh lặng, ngồi trên võng bên Tưởng. Quyên đã đem tiếng cười làm cho Tưởng vơi đi bao nỗi ưu phiền - nhất là khi nghe nàng biết nói đến ngày mai. Ngày mai của ai? Của anh hay của em? Của ai cũng vậy hết, không có gì đâu Quyên à. Tưởng bỏ lửng ý nghĩ, ngã người nằm nghiêng trên một đầu võng nhìn khuôn mặt Quyên trắng hồng nổi lên trên khoảng xanh cây lá dày phía sau.
       - Trông em giống con chim.
Quyên bỏ một cánh tay về phía Tưởng:
       - Chim gì đó, anh?
Tường cúi xuống hôn lên đôi má bầu bỉnh của Quyên:
       - Chim xanh, chim mặc áo xanh …
Quyên ôm giữ hai vai anh:
       - Em thích làm chim én.
Tưởng thì thào qua hơi thở:
       - Chim én cực lắm.
Quyên chợt ghì mạnh:
       - Nhưng vui phải không anh?
Tưởng ngả người lên bờ vai Quyên:
       - Chim én là mùa xuân, em cũng là mùa xuân của anh…
À mùa xuân ? Mùa xuân - được nhắc đến như một tên gọi đã bỏ quên từ lâu lắm, Tưởng không nhớ ra mùa xuân đến như thế nào. Có lẽ những lúc bắt đầu khỏi mùa rét, những con đường rút khô nước, những đêm mưa dai dẳng tỉ tê lạnh cóng không đủ chăn ấm phải chui vào bồ lúa, phải đốt lửa giữa nhà ngồi chờ sáng? Rồi sau đó mùa Xuân đến với một ngày hai bữa cơm ghé củ, ghé bắp? Mùa Xuân đã nằm mãi trong hầm trú ẩn, đã cháy thui với những căn nhà bị dội xăng, rồi mùa xuân hớt hải bay đi theo từng hồi kiểng thúc, những lần bỏ nhà tản cư lên núi… Tưởng thấy yêu thương Quyên hơn trong những bất hạnh của nàng, trong ý nghĩ về mùa xuân thơ trẻ. Cuộc sống mà nổi chết chia xa có thể đến bất cứ lúc nào trong một buổi, một ngày ngắn ngủi, đã dần đần đem Quyên đến gần với Tưởng hơn. Một ngày bình yên không nghe tiếng kiểng, một ngày bên nhau không nhìn thấy chiếc bồ trắng kéo lên quá đọt tre, đã là một hạnh phúc cho cả hai như buổi sáng hôm nay.
Tưởng nhìn đứng vào đôi mắt Quyên, không nhận ra tia sáng nào trong mắt nàng. Phía sau, bầu trời đã hoen đục qua một cành cây chi chít. Từ ngày ba Quyên đi tiếp vận về bị sốt rét, được đưa đi chữa bệnh, rồi bặt tăm, Quyên thường mất đi những tia sáng trong ánh mắt. Điều đó khiến mỗi lúc gặp Quyên, Tưởng thấy như vừa chứng kiến một nỗi đau lòng.
Tưởng cùng Quyên đi quanh vườn.
       - Vậy em cho Trung về ở với dượng rồi sao?
Hai người gặp bà Bốn ở dưới giàn bầu, bà đang chăm sóc những chiếc hoa, bẻ lá phủ kín, tránh ong hút nhụy. Nụ cười bà dành cho Tưởng và Quyên như thầm nhắc đến những lần bà bắt gặp Tưởng hôn Quyên ngoài vườn, hay đang đu đưa trên võng. vì thế khi bắt gặp nụ cười ấy, tự dưng đôi má Quyên ửng hồng, cố tránh sau lưng Tưởng. Còn Tưởng lặng lẽ chấp nhận sự cảm thông dễ dãi của bà Bốn, khi không nghe bà nhắc lại những lời căn dặn của má anh. Những lời má Tưởng để lại cho bà như một quyển kinh mà bà phải học thuộc, để lo cho Tưởng khỏi hư hỏng. Từ ngày bà chứng kiến Tưởng một mình dập tắt những đám cháy của những thùng xăng rơi lọt một bên bếp, chỉ nổ cháy một thùng, và kéo lôi bà xuống hầm yên ổn, bà không lập lại những lời nhắc nhở của má Tưởng nữa. Theo bà, Tưởng đã lớn và biết phân biệt cả tiếng máy bay hay tiếng xe ngựa, tiếng khu trục hay tiếng bà già. Nếu không có Tưởng nói rõ, bà thường nghe tiếng rù rù bất kỳ của xe ngựa, cối xoay, đều bỏ việc mò chạy ra hầm ngồi.
Bà Bốn dừng tay, nói vọng lại:
       - Đi đâu đó con?
       - Dạ dẫn Quyên đi chơi chút.
       - Quanh trong khu trồng bông vải rồi về, không máy bay đến chạy không kịp…
Tưởng trả lời lơ lửng cho bà yên lòng, rồi đi thẳng ra ngõ. Quyên nắm lấy một cánh tay anh, nhìn ngước lên, cười:
       - Sao bà Bốn không nói “Má con dặn…
Qua khỏi đám cỏ trước nhà, cả hai đi sâu vào con đường mòn hẹp lại vì cây lá mọc lan tua tủa. Từng nền nhà gạch ngập phủ cỏ hai bên; chứng tỏ lúc trước nhà cửa trong xóm đông đúc. Đi trong sự im vắng của buổi sáng, sự trơ vơ của nhà cửa đổ nát, Quyên nghĩ đến em mình, đến cuộc sống nàng phải trải qua để lo giữ sự sống. Chắc chắn nàng không thể lìa bỏ xóm để tản cư như người dượng, như số đông cố tránh những vụ oanh tạc, về miền quê, miền núi để được sống yên ổn. Ở đây nàng còn có căn nhà, còn có bà Bốn, còn có khu vườn trồng tỉa. Ngày má nàng chết đi vì bịnh ho ra máu, bà đã trối lại phải giữ lấy căn nhà, và lo cho Trung. Căn nhà nàng vẫn giữ, nhưng Trung, nàng đã để nó về ở với người dượng. Ở đâu cũng khổ, Trung đã khóc và nói lại điều đó với Quyên, nhưng nàng không tin; bây giờ nàng mới thấy lời nó nói thật chua xót. Những lời nó nhắn với vài người quen bảo Quyên phải đem nó về, nó chỉ cần ăn ngày một bữa, nhưng nàng chần chừ mãi, chờ Tưởng. Được thực hiện ý định, Quyên tỏ nhanh nhẹn đi sát bên Tưởng, như bám lấy niềm tin yêu sau cùng còn lại. Xuống đến ngã tư, cả hai đi dọc theo đường quốc lộ. Con đường bị đào ngoằn ngoèo chặn ngang dọc ở giữa để chận cuộc tiến quân đổ bộ của Pháp; làm Quyên không thể nhảy qua từng lỗ hổng. Tưởng phải theo nàng đi vòng xuống cánh đồng lúa đã lớn, trông vướng mắt, nhưng không thấy bóng người. Công việc đồng áng vẫn dành cho ban đêm, và những buổi chợ phải tan ngay khi mặt trời vừa hừng sáng. Tưởng giữ tay Quyên trong tay mình để bớt cảm thấy vắng vẻ.
***
Quyên bàng hoàng với những tưởng nghĩ của mình. Những lần ra đồng bắt cua, hái rau với Trung bị máy bay đuổi bắn cháy nón; đêm máy bay thả xăng gần trọn khu chợ nếu không chiu vào được trong cổng thành chắc sẽ bị cháy đen như những thân cây gòn chong trơ trụi… Hình ảnh Tưởng vẫn thường trở về an ủi nàng trong cuộc sống nhọc nhằn, trong ý tưởng không phân biệt rõ lằn mức của sự sống, sự chết. Những nét mặt thảng thốt như chờ đợi đến phiên mình ra đi, khép kín từng ngày lo âu bên mảnh đất cằn cỗi ám ảnh nàng hoài từ lúc dời nhà lên gò làm chòi ở với em vì không có điều kiện tản cư đến một vùng an toàn khác. Không ngờ ngày mai của hai chị em lại gắn liền với cái chòi ở xa bà Bốn…
Tưởng bỏ học trở về cùng với hình ảnh điêu tàn nhất của xóm. Không nhìn thấy bóng người sau những rặng tre, không một chuyến xe ngựa, không nghe tiếng cối xay, tiếng giã gạo; Tưởng có cảm giác như trở về một miền đất chết xa lạ. Dấu bom cày sâu từng vùng vật ngã những thân cây cổ thụ chắn lối đi, mùi tro than bốc khét trong hơi gió thuốc ngược… Tất cả đã thay đổi, nhưng những gì đã xảy ra cho chị em Quyên từ ngày nàng đem Trung về cùng sống? Khó khăn lắm Tưởng mới tìm lối vào nhà. Không thấy gương mặt sáng, môi cười run, đôi mắt nhòe nước mắt của bà Bốn mỗi khi nhìn thấy Tưởng trở về. Căn nhà bị thủng nhiều lỗ trống, ngói văng vãi xuống thềm, những cành cây xác xơ lá bay vung nằm trên mái nhà. Tưởng tin ở quyết định bỏ học của mình. Cảnh tượng trước mắt cọng với những chán nản ở trường, Tưởng chỉ mong tìm Quyên, sống với bà Bốn. Những hàng cây ăn trái công phu chăm nom, những dây bí dây bầu, coi sóc từng nụ hoa mới chớm của bà, cháy sém cả. Dĩ vãng sẽ không còn trở về trong căn nhà cổ nầy nữa nếu không còn bà Bốn. Lúc nầy, Tưởng mới nhận ra, sống không dĩ vãng, không kỷ niệm thật đáng buồn, ghê sợ biết bao, và bỗng thêm nghe nhắc đến kỷ niệm.
       - Bà Bốn, bà Bốn có dưới đó không?
Tưởng cúi sát miệng hầm gắng gọi lớn từng tiếng.
       - Bà Bốn, bà Bốn có dưới đó không?
       - Tưởng, Tưởng đó hả con?… Hu hu…
Hu hu hu hu, bà Bốn bò lên nhìn dán vào mặt Tưởng, Tưởng ngạc nhiên như trông thấy người chết hiện về. Tưởng, Tưởng đó hả con? Tưởng đỡ bà lên khỏi miệng hầm bị những cành cây chắn ngang.
       - Sao bà nằm miết dưới, bà Bốn?
       - Hu hu… tao chết, chết theo ba mầy.
       - Thôi, con sẽ ở luôn với bà, à còn Quyên đâu?
Nhìn dáng bà gầy còm, áo quần bết đất, mái tóc đổ xuống phủ lòa xòa che khuất khuôn mắt tóp khô. Tưởng dìu bà vào giường, lo thu dọn lại những đổ vỡ ngổn ngang trước mắt. Bà khoát tay, cố ra dấu bảo Tưởng đừng đụng vào những mảnh bom, những tạc đạn, những thùng xăng móp cong cháy đen. Bà thường tỏ lo cho Tưởng như hồi anh còn nhỏ, được bà cho ăn, lo tắm. Người già, thường có ảo tưởng về tuổi trẻ. Những suy tính của bà thường lẫn lộn cái tuổi trẻ của chính bà với con cháu. Bà Bốn cũng vẫn lầm người đối diện với bà có cùng số tuổi, nhưng chỉ trong những lúc bà tâm sự hay khi nói đến dĩ vãng. Bà Bốn vì thế xem Quyên như người bạn thiết. Tưởng có ý nói ý định sẽ tìm Quyên về chung sống với bà Bốn, nhưng đang hối hả tìm gặp Quyên, Tưởng để bà Bốn nằm yên, tìm về hướng nhà Quyên ở cuối xóm.
Xác định được khu nhà Quyên, Tưởng chẳng tìm thấy vết tích rõ căn nhà mà nàng nguyện giữ. Mỗi căn nhà, một di sản vàng ngọc, chỉ còn chong trơ vơ những bức tường loang lỗ, những cột nhà cháy đen. Con xóm vắng tênh, nhưng Tưởng vẫn ngỡ có rất nhiều tiếng khóc nuối tiếc, có rất nhiều lời than van thầm thì. “Con hãy giữ lấy căn nhà, và lo nuôi dạy Trung”. Quyên chắc đã bỏ căn nhà, nàng chọn Trung. Đứng trước sự hoang vắng đó, Tưởng nhận thấy sự cách trở đến thật đột ngột, như mảnh bom găm vào đầu con Qui, như chuyến ra đi Tourane của má Tưởng không thấy trở lại. Tưởng trở ra quốc lộ, đi ngược ra cánh đồng, mong tìm một bóng người quen. Cháu hãy giữ lấy căn nhà, con hãy giữ lấy căn nhà, em hãy giữ lấy căn nhà, mầy hãy giữ lấy căn nhà … Những căn nhà trống trơn đổ nát chênh vênh, toát ra một cảm giác đớn đau rờn rợn; những khu vườn xơ xác lá đổ nhẫn nhục buồn thiu. Tưởng cố hình dung lại hình dáng những người chủ nhà, chủ vườn, tất cả họ hiện ra rét mướt, co ro thu nhỏ dần nhỏ dần trong cái mênh mông của đồng lúa trước mắt. Tưởng chợt dừng lại, lui vài bước, chính màu áo xanh của Quyên, màu áo chim xanh nầy đây. Tưởng nhận ra Trung đang ngồi thu mình dưới gầm cầu, chăm chú theo dõi dòng nước chảy mang theo cái phao trắng. Trung bình yên trong sự chờ đợi những con cá đến tình cờ và thích thú như những chiều cùng Quyên lên gò bẩy én. Vòng tròn cỏ may đã thắt, con ruồi đã buộc vào. Quyên ngồi dưới chân con đê với Tưởng chờ tiếng kêu của những con én chui vào bị siết giữ lại. Nét mặt Quyên lúc đó thật giống Trung lúc nầy. Trong một lúc tình cờ nào đó, Tưởng thường nhận ra sự giống nhau của hai chị em nàng. Vì thế, Tưởng thấy thương Trung vô cùng. Tình thương bắt đầu từ Quyên, và ở lại mãi, phảng phất hoài như sự luyến nhớ nụ hôn trên môi trên tóc.
       - Trung, Trung… Chị Quyên đâu em?
Trung ngước lên, gương mặt tiều tụy xanh hẳn trong màu phản chiếu của chiếc áo xanh của Quyên. Sự thay đổi đậm nét trong đôi mắt như tắt hẳn ánh sáng. Vẻ đờ đẫn chậm chạp dừng lại ở Trung cho biết nó đã phải trải qua nhiều ngày thiếu thốn, bỏ ngủ. Cũng như mớ tóc phủ kín mặt nhăn nheo của bà Bốn, giọng nói khàn hẳn của âm điệu trong hơi thở run run; con người quanh năm trốn trong hầm trú ẩn, hầm bí mật, chờ nghe từng tiếng máy bay, trông chừng từng mức bồ kéo lên. Quyên ơi, chúng ta không thể giấu diếm nhau gì nữa trong tiếng đạn bom mỗi lúc một gần, em hãy nghe anh.
       - Chị Quyên đâu em?
       - Hả?
       - Chị Quyên…
       - Ở trên chòi đó.
       - Chòi nào?
       - Tận trên gò sát mé sông hồi xưa anh bẩy én đó.
       - À, à … Trên gò.
Tận trên gò sát mé sông hồi xưa anh bẩy én đó. À, à trên gò. Tại sao trên gò? Tại sao sống với những người chết? Tại sao ngủ bờ ngủ bụi? À, à trên gò…
       - Được nhiều cá không em?
       - Ít, ít.
       - Về chưa?
       - Để em bắt thêm vài con cho đủ bữa…
       - Em chuẩn bị mai đi câu với anh nghe?
       - Ở đâu?
       - Phải xuống đập Bờ Đỗ mới có ăn…
       - Em nghe tên quen quen.
Trung không rời chiếc phao, sự thiếu thốn không rời xa nó. Trung vẫn tỏ ít nói, trầm lặng như nỗi khó khổ theo sát gót chân từ ngày vừa lọt lòng mẹ, sống trong tiếng đạn bom và nước mắt người thân, người chị.
       - À, em nghe chị Quyên nói anh đi học xa lắm mà…
       - Anh không đi học nữa đâu.
Trung thoáng ngước lên, tia nhìn phụt sáng:
       - Thiệt hả?
       - Thiệt chớ, học hành làm gì lúc nầy.
       - Chắc chị Quyên mừng à …
Tưởng đeo một cánh tay vào thành cầu, nhảy lên. Con sông ngày xưa rộn tiếng cười, ồn ào người tắm giặt, chỉ còn lại giòng nước im lìm. Giòng nước buồn như xóm làng, như bóng dáng Trung một mình miệt mài ngồi giữ gầm cầu, chờ đơi từng con cá nhỏ. Tưởng thoáng nhớ những bận trốn má, bỏ ngủ trưa, chạy ra đây tắm, chạy ra đây cút bắt, chạy ra đây tạt nước thi với lũ thằng Thu, thằng Quyên, thằng Minh… chạy ra đây đứng trên thành cầu nhảy tùm xuống giữa giòng sông… Tưởng bỗng muốn nhắc lại chuyện cũ nhưng không có bà Bốn. Bà Bốn chắc sẽ nhắc anh nhớ những chi tiết nữa mà anh không ngờ.
       - Anh về trước nghe Trung.
       - Dạ, mà về đâu?
       - Lên chòi.
Từ trên con đê cao Tưởng nhận ra vài dáng người quen đang gò lưng mò tìm những con cua, con ốc; sự có mặt của họ cho Tưởng biết họ còn có diễm phúc, còn sống để ra đồng bắt cua, mò ốc, hái rau. Còn sống để nhìn những người trong xóm vắng dần, nhà cửa ruộng vườn tan hoang. Cháu hãy giữ lấy căn nhà, con hãy giữ lấy căn nhà, em hãy giữ lấy căn nhà, mấy hãy giữ lấy căn nhà. Căn nhà của chị em Quyên trước mặt kia, chính cái chòi đó. Tưởng rẽ xuống con đường nhỏ đầy hoa thơm Ổ tàu, mùi thơm cháy sém hơi nồng. Quyên đang ngồi trước mặt kia, chính nàng đó. Tưởng vẫy tay gọi. Quyên chồm lên, rời sản gạo trước mặt, gào to: Anh Tưởng.
Cái chòi có bề ngang và bề dài xấp xỉ bằng nhau nên trông y một hộp vuông. Cái chòi dựa lưng vào hàng tre rủ bóng mát, nằm dọc theo sông. Mái lợp tranh, vách kẹp tranh thưa, chưa thấy những trụ cột cháy nham nhở. Trước mặt chòi là cánh đồng loáng nước trơ gốc rạ trông quang đãng. Ở đó nhìn xuống con đê cuối xóm bầu trời ám khói. Tưởng nhìn thấy mọi biến động in rõ trên nét mặt Quyên, trong tia nhìn không còn xao xuyến linh động, ở giọng nói lạc lõng, có ý thẹn; nàng dè dặt:
       - Tại sao anh về? Sao anh biết em ở đây?
Quyên ơi, chúng ta không thể giấu diếm với nhau gì nữa trong tiếng đạn bom mỗi lúc một gần, em hãy nghe anh.
       - Anh quyết định bỏ học rồi.
Tia nhìn Quyên in sững trên mắt Tưởng, trông nàng bé bỏng và tội nghiệp. Tưởng lại muốn nói ý định đem nàng và Trung về cùng sống, nhưng khó quá, bắt đầu bằng cách nào? Mọi việc khi bắt đầu đều khó cả. Nhất là tình yêu.
       - À này, ở đây em không sợ à?
       - Sợ gì?
       - Sợ buồn.
       - Hai chị em ở vài hôm thì cũng quen đi anh à…
       - Anh thường nghe Quyên bảo sợ phải sống cô độc?
Nàng nói chậm, thật chậm:
       - Chớ làm sao? À, có Trung đã an ủi em nhiều lắm rồi.
       - Nó còn nhỏ đôi lúc sự thơ ngây của nó làm em buồn hơn chứ?
       - Đã đành, nhưng em chỉ còn có Trung…
Quyên ơi, chúng ta không thể giấu diếm với nhau gì nữa trong tiếng đạn bom mỗi lúc một gần, em hãy nghe anh.
       - Em nghĩ sao khi anh muốn em và Trung về sống với anh.
Nàng bỗng ngước lên, tia sáng ướt, vội cúi xuống nhìn bàn chân trần lem luốc.
       - Em cũng mong cho Trung nó gần anh…
Tiếng kiểng đánh thức từng hồi vang lên từ cuối xóm chạy dài theo cánh đồng. Tưởng chui ra khỏi căn chòi nghe ngóng tiếng máy bay, nhìn lơ lửng trên nền trời vắng ngắt. Mây mỏng, bầu trời cao chói chang ánh nắng. Gió lao xao trên những hàng tre không phân biệt tiếng máy bay có thật hay không. Vẫn có những lần báo động không chính xác như thế, những lần không phân biệt tiếng xe ngựa rập rình xuyên qua xóm; nhưng với bà Bốn, nếu đang ngồi ăn, nhất định thả đũa chạy. Quyên vẫn ngồi yên trên chõng tre, kê dựa sát vách.
Buổi chiều xuống nhẹ trên cánh đồng, ánh sáng mềm mại mát dịu. Con đê cao còn vướng chút tia nắng nặng nề đọng lại của một buổi chiều cuối năm. Tưởng vẫn có thói quen giữ lấy tay Quyên. Bàn tay ve vuốt cuộc sống anh. Anh đưa bàn tay Quyên lên hôn…

Sự liên hệ sau này thu hẹp lại chỉ còn giữa hai chị em Quyên và Tưởng vì bà Bốn quá già, không muốn ra khỏi hầm núp. Dường như những tiếng máy bay đã làm bà quên hẳn dĩ vãng, do đó bà ít khi nói chuyện, bà yên tâm có Tưởng chăm sóc bởi bà ở hiền; riêng Tưởng, anh vẫn thấy bà Bốn rất cần thiết cho ngôi nhà cổ, như cái cột, cái kèo. Có bà trong bữa ăn, Tưởng nghĩ đến người mẹ như vừa mới ra đi buôn, vài tuần lễ lại mang đồ đạc về, lại quây quần ngoài thềm xi măng ăn chè khoai nói chuyện Tam Kỳ, Tourane. Bà Bốn vì thế giữ được sự tin tưởng rằng, má Tưởng chưa mất hẳn. Mọi việc cai quản bà giao lại cho Tưởng, không quên lập lại lời dặn mà má Tưởng trước kia để lại cho bà. Như thế bà đã làm tròn trách nhiệm, dù nói một lời dặn, không phải có giá trị với Tưởng, nhưng với bà thôi.
Tưởng xoay lại nhìn thấy trên đôi môi Quyên chợt nở một nét cười mơ hồ. Nàng đứng sau anh, nhỏ nhắn như một con én. Tưởng dừng tay đang buộc giở giàn bí, cúi xuống trên má nàng, cúi xuống trên nỗi bình yên của tình yêu.
       - Em chuẩn bị đi chợ nghe anh?
       - Coi chừng sớm quá đó.
Quyên tỏ ra linh hoạt hơn bên đôi bầu, quày hàng của má Tưởng để lại. Ba ngày một lần nhóm chợ, Quyên kĩu kịt quảy gánh đi, chờ Tưởng đón về. Chợ phiên bắt đầu từ chạng vạng, tan hồi nửa đêm, mặc dầu gần tháng rồi, từ ngày xóm bị trận oanh tạt xua đuổi gần hết dân cư lên núi, phá sập gần hết những căn nhà, đốt cháy khu chợ ngay ban đêm; chiếc bồ sơn trắng không còn thấy kéo lên, tiếng báo động ít nghe thúc giục. Vì thế, cuộc sống của gia đình Tưởng trở nên vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn. Mọi người tiếp tục cầu nguyện cho chiếc bồ trắng đứng bò lên đến đọt tre, tiếng kiểng không bao giờ đánh nữa. Trung an tâm với những lần đi câu cá ở đập Bờ Đỗ với Tưởng, những lần đi câu riêng ở gầm cầu Thạch Tĩnh, những buổi chiều ngồi dưới cột rơm tỉ mỉ đan giỏ, chuốt đũa, làm lồng nuôi chim… và buổi tối xách đèn đi học.
Có đêm Trung đòi Tưởng đi đập dơi về thui, bắt Quyên xào nấu ăn với bánh tráng. Những lần như vậy ra đi cả ba anh em. Tưởng cầm sào chờ dơi đáp xuống. Trung chạy nhặt những cánh dơi sa, Quyên cầm giỏ giữ dơi. Những việc làm nhỏ nhặt đó đem Trung gần với Tưởng hơn, nó có vẻ vui hơn. Tưởng cũng chỉ mong vậy. Quyên thì lúc nào cũng gần gũi, kề cận bên Tưởng và Trung, nên luôn tìm thấy niềm vui trong nỗi vui thích của hai người. Đời nàng như phải có cả hai, gắn bó với cả Trung và Tưởng.
Buộc xong giàn bí, đỡ những ngọn dây leo bò lên giàn, Tưởng nắm tay Quyên dắt ra ngõ. Khu vườn thiếu bàn tay bà Bốn trông sáng vì thưa bóng cây, nhưng vẫn xanh tươi vì còn bàn tay Quyên lo lắng. Rẫy trồng bông dệt cháy khô, phẳng phiu, quang đãng. Quyên kéo tay Tưởng rẽ xuống ngã tư, muốn đi len trong những hàng cây rậm. Lâu lắm Quyên mới tỏ ý chọn lựa khi tay nàng ở trong tay Tưởng. Hai người rẽ các bụi cây dày lá, mát sạch; dìu nhau từng bước nhỏ. Trừ khu vườn hai người vẫn thường có những lần rủ nhau đi rong chơi trong sự vắng vẻ của buổi chiều chờ cơm, chờ quảy hàng ra chợ. Cũng nhiều lúc thật rỗi, Tưởng và chị em Quyên lên thăm cái chòi nằm sát dòng sông, dưới hàng tre rủ bóng mát. Cái chòi trở thành một nơi khó bỏ như căn nhà, vì nơi đó, Tưởng đã sống trọn vẹn cho Quyên, cho tình yêu một đời những buổi trưa đắm đuối yêu thương.
Đi râm trong các bụi cây, ngồi nói chuyện trong những lùm cây xum xuê bóng mát, Tưởng không ngờ trong nỗi khốn khổ nầy anh vẫn có quà nhiều diễm phúc, quá nhiều an ủi. Tưởng cúi xuống trên bàn tay Quyên, cúi xuống trên nỗi hạnh phúc tràn đầy. Quyên bàng hoàng trong niềm khoái cảm tuyệt diệu, vì tình yêu đã đến, đến gần không phải ở những câu nói, không bắt đầu từ lúc nào, nó tự nhiên và âm thầm như những nụ hôn, những lần ôm ấp bên nhau trong chiếc chòi tranh hay trong hầm trú ẩn sau nhà….
Buổi tối chập chờn trên cao, gió chao chát trên những cành lá phủ ngập đầu. Tưởng dìu Quyên trở về. Tiếng chim xao xác goi nhau về tổ. Quyên cảm thấy lòng lâng lâng niềm vui - nỗi thanh thản hiếm hoi của một ngày không nghe tiếng máy bay.
       - Bà Bốn chờ tụi con lâu không?
       - Tao ngại thằng Trung nó đói…
       - Nó chạy đâu rồi bà?
       - Ngồi ôm cột rơm đằng sau…
Mâm cơm đã dọn sẵn trên thềm xi măng, dưới khung cửa sổ. Bốn cái chén, bốn đôi đũa, một đĩa rau dền, một tô mắm cua, một nồi canh rau má, một rổ khoai mì, một soong cơm ghé bắp. Quyên hơ tay lên rổ khoai, ngồi chờ Tưởng và Trung vào. Bà Bốn gỡ từng miếng khoai đút vào miệng nhai sịu sạo, bà chỉ ngồi ăn cho có, cho vui; phần bà lại còn một nồi cơm nhỏ chờ đến tối hẳn mới ăn. Từ ngày có lệnh buộc phải ăn cơm ghé, hoặc bữa cháo bữa cơm ghé, dành gạo nuôi quân, bà Bốn thường có bữa ăn riêng vào lúc sắp ngủ.
Tưởng và Trung ngồi xuống, bữa cơm bắt đầu. Bắt đầu tiếng cười, giọng nói của Tưởng, của Quyên, của Trung, của bà Bốn.
Mặt trăng lên sớm ẩn trong cành lá dừa ngoài ngõ. Ánh trăng chong sáng nỗi thanh vắng của con xóm đã bao lần bị tàn phá gợi Tưởng thương nhớ mông lung; rời thềm, Tưởng bỏ ra sau chờ Quyên. Thằng Trung đã xách đèn đi học. Cái chừng mực giới hạn hằng ngày khiến nó chậm chạp, nhiều lúc trông như nó buồn. Khi nó vừaxách đèn ra vườn, Tưởng muốn giữ nó lại một buổi để cầm sào đi đập dơi nhưng nhìn vẻ vội vàng của nó, Tưởng lại thôi, ngước nhìn ánh trăng trên ngọn lá dừa. Trong nhà ánh sáng mỏng đến nỗi trông những đồ vật như nhòe ra, không vuông vức. Tưởng không muốn thắp lại ngọn đèn dầu phụng, ánh sáng không cần thiết và phải giới hạn để tránh những cuộc dò xét của máy bay. Những bữa cơm ăn thầm dưới hầm, ngoài vườn, trong bụi và những thói quen làm việc trong đêm, đã giúp cả nhà, kể cả bà Bốn không bận tâm đến ánh sáng. Trong sự thầm lặng đó, Tưởng có những kỷ niệm với Quyên, nhất là lúc con trăng bắt đầu hiện. Dưới ánh trăng, trong sự yên lặng của cây lá hoa cỏ chung quanh, cả hai đã thấy gần nhau như cành với lá. Tưởng đến ngồi trên chiếc cầu tre bắt ra giữa dòng sông trông xuống bến nước xao xuyến ánh trăng. Quyên đang giúp bà Bốn rửa chén bát, giọng nói vọng lên:
       - Trăng đẹp không anh Tưởng?
Trăng đẹp không anh Tưởng? Nàng đã bắt đầu có những câu nói thật tươi mát của tuổi thơ, trở về với sự bình yên bên Tưởng. Đẹp, trăng đẹp quá.
Rời bến nước trắng bạc ánh trăng, phẳng lặng như dát lớp bạc mỏng; Quyên đến gần Tưởng, đứng kéo một cành tre sà xuống trước mặt. Bóng đen in đậm nét trên dòng nước, dáng Quyên và cành tre, trông y như một bức tranh Tàu. Bức tranh vẽ người con gái bên cầu trông bóng người yêu, nhưng với nàng, không còn gì trông đợi. Quyên cười - giọng trong trẻo:
       - Ra bãi cỏ nằm hóng gió, anh?
       - Anh đang chờ câu đó đây mà…
Tiếng cười nàng kéo dài nhắc Tưởng nhớ những kỷ niệm thời còn nhỏ. Thật xưa và thật đẹp, Như chiếc lọ cắm hoa cổ, có hoa đẹp như có tiếng cười. Tiếng cười, với Tưởng là những âm thanh huyền hoặc và tuyệt dịu nhất; nó có thể xoa dịu và giải quyết được tất cả. Tiếng cười Quyên luôn nhắc Tưởng lần gặp nàng đầu tiên, dẫn nàng lên gò bẫy én. Chính vì những tiếng cười và những con én đã buộc chặt cả những gặp gỡ sau nầy của hai người.
Gió từ trên cao thổi xuống ve vuốt từng bước chân Quyên, lay gọi từng chiếc lá đen sắc trong vườn, tạo một hoạt động yên tĩnh kỳ lạ. Bãi cỏ có màu xanh đậm, đều. Cảm giác truyền từ gót chân cái tươi mát của thảm cỏ sạch, dày, được quạt bằng hơi gió đồng, khiến Tưởng thèm nằm. Đi từ đầu bãi đến cuối bãi, Tưởng trở lại chỗ Quyên ngồi, thả người nằm xuống. Và bắt đầu nhận ra mùi hoa Dạ lý ở khu vườn bỏ hoang của gia đình người dượng, quyện dìu dặt trong gió. Gió vẫn thổi miệt mài trên bãi cỏ. Gió rộng gió dài, gió cao gió thấp. Tưởng nhìn lửng lên những cụm mây trắng xóa, trắng đục, bồng bềnh trên nền trời màu xanh. Ánh trăng tỏ hơn trên những cành cây cao sẫm màu, âm thầm và khép kín những sinh hoạt của từng gia đình còn lại trong con xóm, như những lần ra ngồi ở cầu tre bắc ra giữa sông, như những chiều nào dắt tay lên gò, như những đêm nằm trên bãi cỏ ngắm trăng… Quyên rút tay khỏi tay Tưởng, chỉ:
       - Anh nhìn thấy gì trên nền trời kia không
       - Có mây trắng,
       - Gì nữa?
       - Mây đục,
       - Còn thiếu.
       - Và trăng sao…
       - Có bà tiên ngồi cầm gậy thần kìa anh…
Như vừa tỏ mình có một khám phá ngộ nghĩnh, mới lạ, Quyên sốt sắng chỉ cho Tưởng xem đâu là cái đầu bà tiên, cái gậy, mái tóc rũ và cái áo bay phất phới… Tưởng ráp lại những mảnh mây nằm gần kề nhau, hình dung ra được một hình người đàn bà xõa tóc; từ đó anh hết có những ảo tưởng bé bỏng về Quyên, và tin những cái nhìn, nụ hôn mình chắc đã làm nàng vừa lòng, như hồi xưa bắt cho nàng một con chim én.
Tưởng bắt đầu chú ý từng bóng đen chạy vượt ngang quốc lộ, theo con lộ nhỏ phủ bóng cây dẫn xuống ngã tư. Họ mặc quần cụt, ở trần trông người nào cũng lực lưỡng. Cái thô kệch thường đi đôi với tính chất phác của họ hàng ngày khiến Tưởng vẫn thấy cảm mến, thân tình. Rõ là những nông dân ở trong xóm, có cả ông Năm Lé. Trong tiếng la hét cuối cùng của toán người chạy sau, Tưởng nhận ra tiếng của vài người quen ở xóm dưới. Quyên kéo Tưởng đứng hẳn lên, có ý nhờ anh cùng đi đón Trung đi học về hơn là biết những người vừa chạy qua làm gì. Biết thêm bất cứ điều gì nữa lúc nầy cũng đều là một lo lắng, khổ tâm, Quyên thường tỏ an tâm, yên phận trong từng bữa cơm, bốn cái chén, bốn đôi đũa, một đĩa rau dền, một tô mắm cua, một nồi canh rau má, một rổ khoai mì, một soong cơm ghé bắp. Tưởng nắm siết tay Quyên trong tay mình, đi len giữa những cành lá phủ. Tiếng lá khô reo rạt rào dưới chân, tiếng lá cây xanh reo xào xạt trên đầu; cả hai đi trong bóng tối của những tiếng động quen thuộc đó.
Ra đến ngã tư, Tưởng buông tay Quyên ra. Đã có nhiều người hiếu kỳ chạy theo toán nông dân đến ngoài cầu Thạch Tĩnh. Cả hai nhập vào đám đông, dừng lại bên nầy cầu. Đám đông đứng ngoài rào nhà ông Hương Nhâm, nhìn vào trong sân. Trong sân đất nổi rõ màu trắng của nền được quét nhẵn, ông Hương đang quì trên một tảng đá ong. Thân hình già sọm, đã gầy, chao đi chực ngã. Sát bực thềm cao ở trong khoảng sân, người con trai nằm dài úp mặt xuống đất; kề đó người vợ cũng bị trói và hai đứa con. Cảnh tượng hiện ra trước mắt đơn giản và ghê rợn. Đám đông ở ngoài bị tách rời bởi một khung cảnh kỳ quặc, im lặng chờ. Ông Năm Lé cầm cái roi nhịp nhịp, điều khiển toán nông dân lục lạo chung quanh khu nhà và ngay trong thân thể ông Hương. Toán người làm việc chậm chạp, từng cử chỉ cứng, ông Năm Lé lại la lớn:
       - Anh em quyết tiến lên, lẹ lên … diệt bọn địa chủ bóc lột …
Tiếng nói khô vang lên trong cái im vắng của đêm gần về khuya, ít gợi được sự chú ý. Câu nói vì thế tắt lụn, không âm hưởng. Ông Năm Lé tỏ vẻ bực tức, chạy lăng quăng từ đầu sân đến cuối sân, cái roi vẫn còn trên tay. Hình như có tiếng sụt sùi khóc của ông Hương. Tiếng khóc khàn quá trong những tiếng ồn của đám người đứng chung quanh. Lúc nầy, có lẽ ông mới rõ được ông đã vô phúc trưởng thành trong một gia đình có nhiều ruộng đất. Và người con ông kìa, đang nằm úp mặt xuống đất, cũng thấy bất hạnh làm con của ông. Cái lý do truyền dính như một sợi xích sắt, đang buộc trói ông, con ông và cháu ông nữa. Ông Hương chợt lảo đảo, ngã lăn xuống khỏi tảng đá ong, nằm co quắp; tiếng người con dâu thét lên, tiếng ngọn roi của ông Năm Lé quất xuống, tiếng ông Hương khóc khàn hẳn.
       - Trời ơi, tội nghiệp…
       - Ai mới nói tội nghiệp đó? Anh em ra bắt đem vô xử tội mau, lẹ lên …
Có vài bóng nông dân chạy ra ngõ theo lệnh của ông Năm Lé, đám đông hớt hải bỏ chạy như những con chuột đồng, trong đó có cả Tưởng và Quyên nữa…


Lũ học trò chạy ra chỗ Quyên ngồi, tiếng cười nói vọng lại phía sau Quyên:
       - Thưa cô, vô dạy…
Nàng ngỡ ngàng nhìn lướt một lượt từng nét mặt hớn hở của bọn học trò, cố tìm một hình ảnh nào đã qua. Khuôn mặt nàng tối hẳn, tia nhìn nàng mềm hẳn, tất cả như vẫn còn phảng phất những vui buồn từ một dĩ vãng mười mấy năm trở lại. Mười mấy năm xa Tưởng, xa bà Bốn, xa ngôi nhà của mẹ, xa ngôi nhà cổ của Tưởng, xa cái chòi … Tưởng đã tập kết ra Bắc mười mấy năm rồi. Tại sao anh bỏ em? Quyên đứng dậy, xoa một bàn tay lên ngực. Gió lạnh thổi lùa dạt dào từ dưới cánh đồng lúa gòn thấp. Vài cánh én bay chao qua trước mặt, vụt lên cao, lên cao. “Quyên đừng nghĩ như vậy, đừng buồn - anh chỉ muốn xem thành phố Hà Nội rồi hai năm nữa anh sẽ trở về với em và Trung thôi …”
Quyên theo lũ học trò vào lớp, nàng nghĩ sẽ viết tiếp cho Trung một lá thư nữa, giờ nầy chắc Trung cũng đang bắt đầu một cuộc hành quân nào đó….

Tuy Hòa, tháng 6 năm 1968


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 21.7.2014.