Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VĂN MINH CÔNG NGHIỆP

VĂN MINH TRÍ TUỆ







     Người ta thường chia quá trình tiến hoá văn minh nhân lọai làm 3 thời kỳ: 1. văn minh nông nghiệp (cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất) từ 8000 TCN  tới thế kỷ XVII;  2.  Văn minh công nghiệp (cách mạng khoa học công nghệ lần thứ hai) từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX;  3. Văn minh trí tuệ (cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba) từ giữa thế kỷ XX tới nay.  Mỗi một thời kỳ lại có những nét đặc trưng trong tư duy, lối sống.
     Đặc trưng của  văn minh nông nghiệp là kinh tế tự cung tự cấp, là sự lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên, mối liên hệ  huyết thống và mối liên hệ giữa cá nhân và cộng đồng rất mật thiết. Quan hệ người với người  mang tính truyền thống:        
                                                                      Ta về ta tắm ao ta
                                                           Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
      Đặc trưng của văn minh công nghiệp là sức máy thay sức người thông qua phân công lao động, cơ giới hoá, điện khí hoá, chuyên môn hoá, vì vậy năng suất cao.  Kinh tế là kinh tế công nghiệp, thương mại. Ở cuối thời kỳ văn minh công nghiệp xuất hiện sự tha hoá, sự cô đơn, sự bất an ở nơi con người, cô gái chịu áp lực của vật chất, nên mới có câu:
                                           Một trăm câu nói, không bằng cái khói Honda.
     Đặc trưng của văn minh tri thức -  trí tuệ là điều khiển học thông qua tự động hoá, chương trình hoá.  Động lực phát triển là những bước đại nhảy vọt về năng suất lao động thông qua sức sáng tạo “thần kỳ” của trí tuệ (của lao động trí óc đầy phiêu lưu, nhưng cũng đầy sáng tạo). Đời sống vật chất cao, xã hội thoáng cởi mở, con người xa rời truyền thống để sống độc lập hơn, tự do hơn:
                                                Cái gì cũng phải 100%, hứng lên 200%.
      Nếu không tự chủ được mình trong độc lập tự do; giải trí, thư giãn cũng hứng 200% (lắc là như vậy) thì còn sức đâu cho công việc. Sức ép của tính chuyên nghiệp và cạnh tranh toàn cầu làm cho những người đuối sức, bị hụt hững phải mượn thuốc lắc để “tự lên dây cót”. Sức ép ấy gây nên căn bệnh của văn minh: bệnh về tim, về hệ thần kinh do stress gây ra.  Sức sáng tạo của con người đạt đỉnh điểm khi có sức khoẻ sung mãn, khi tri thức đạt đủ để có thể chuyển lượng thành chất – để cho ra đời  những phát minh, những sáng tạo  mới. Muốn vậy phải có đam mê, phải 100%, thậm chí có lúc phải vắt cạn kiệt- phải 200% cho công việc.  Nếu không biết dừng đúng lúc, biết kiềm chế và điều chỉnh, biết tự phục hồi khả năng sáng tạo thì “tuổi đời chuyên môn” – thậm chí  tuổi thọ sẽ bị rút ngắn. Đấy cũng là điều ta suy nghĩ, tại sao có danh nhân chết yểu, có danh nhân phải nói”thần chết đãng trí, nên mình sống trọn một thế kỷ”.
       Tư duy con người đi từ chỗ “Liệu cơm gắp mắm” “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” sang “Kén cá chọn canh” đến “Thoả chí tang bồng” trong đời sống,  đặc biệt là trong sáng tạo.  Phải chưng đó là tư duy của văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh trí thức mà đặc trưng là sức mạnh cơ bắp, sức mạnh máy móc, sức mạnh tri thức.  Phải mất khoảng 9700 năm loài người mới chuyển từ sức mạnh cơ bắp (VMNN) sang sức mạnh máy móc (VMCN: 200 năm).  Chỉ khoảng 50 năm phát triển như vũ bão (VMTT), “một ngày bằng hai mươi năm”, loài người biến những chuyện được coi là “hoang tưởng” khi xưa thành hiện thực, chu du đó đây bằng con tầu vũ trụ.  Cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật, con người đã cướp đoạt “quyền năng của tạo hoá” (sự tự cân bằng sinh thái của tự nhiên) – gây ra  thảm hoạ môi trường toàn cầu (mất cân bằng sinh thái) ngày càng trầm trọng dẫn tới thiên tai hạn hán, lũ lụt, sóng thần v.v.  Loài người gặt hái được nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật và nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng đồng thời cũng tự tạo cho mình sự bất an bởi thảm họa thiên nhiên ập tới mà không có “hẹn trước”.
       Trên thế giới có 2 khu vực văn minh lớn: phương Đông và phương Tây.  Sự phân chia này được gọi theo địa hình của khu vực.  Điều đáng lưu ý là mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây, khi phương Đông là ban ngày thì phương Tây là ban đêm, vì vậy khi quan sát, con người bị ảo giác quang học: theo tuần tự thời gian, người ta có cảm giác nối đuôi nhau, phương Tây chỉ nhìn thấy “cái lưng” của phương Đông hoặc phương Đông chỉ nhìn thấy “cái lưng” của phương Tây.  Khi quay mặt lại, đối diện với nhau, lại có cảm giác, hình như ở người đối diện mình có cái gì ngược:  phía phải của mình là phía trái của người đối diện. Rồi trong sinh họat, ở phương Tây và ở  phương Đông cũng có những biểu hiện ngược nhau. Phương Đông có khuynh hướng hướng nội (âm, thụ động) thì phương Tây có khuynh hướng hướng ngoại (dương, hành động)  v.v. Hành tinh của chúng ta có 2 nửa là phương Tây và phương Đông, hai nửa này (nửa này thức , nửa kia nghỉ-ngủ), nó không triệt tiêu nhau, mà bổ sung nhau, một thời gian dài văn minh Trung Hoa, Ấn Độ (phương Đông) ngưng nghỉ, thì văn minh phương Tây phát triển tới các ngõ ngách của khoa học kỹ thuật. Giờ đây văn minh phương Tây có chiều hướng chững lại-“buồn ngủ”- thì xuất hiện sự phát triển mới của Trung Quốc, trong tương lai gần sẽ là Ấn Độ.
        Thời cổ đại phương Đông có 4 trung tâm văn minh:  Ai  Cập,  Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc;  phương Tây có 1 trung tâm văn minh : Hy Lạp-La Mã.
       Thời trung đại, cả Ai Cập và Tây Á đều nằm trong đế quốc A-rập, nên phương Đông chỉ có 3 trung tâm văn minh:  A-rập,  Ấn Độ, Trung Quốc, phương Tây có 1 trung tâm văn minh:  Tây Âu.
        Nhìn chung các nền văn minh đều có những giai đọan phát triển rực rỡ, có những giai đọan ngưng trệ. Rồi sau khi “hồi sức”, chúng lại bắt đầu giai đọan phát triển mới.
        Văn minh Hy-La tắt lịm sau ba trăm năm đen tối – bị ngoại bang xâm chiếm không sao phat triển tiếp, Tuy vậy  Văn minh Hy-La có ảnh hưởng sâu sắc từ cổ đại cho tới tận ngày nay, phải chăng nó “nằm ngủ” bên “Đài chiến thắng” nên đến bây giờ-sau hàng ngàn năm “vẫn chưa tỉnh” để phát triển một giai đọan mới.  Văn minh A-rập  làm “một giấc ngủ dài”  đến giờ “vẫn chưa tỉnh”.  Sau khi văn minh Hy-La suy tàn, thì ở phương Tây xuất hiện trung tâm văn minh Tây Âu.  Nền văn minh này  phát triển liên tục cho tới ngày nay.  Riêng văn minh Ấn Độ và Trung Quốc phát triển liên tục từ cổ đại tới ngày nay. Hiện nay, Ấn  Độ thân thiện với những nước láng giềng để phát triển trong hòa bình, dùng sức mạnh kỹ thuật quân sự để bảo vệ đất nước. Trung quốc không thân thiện với các nước láng giềng, ngang ngược làm theo ý mình. Vậy thì chơi với ai ?!  Thế kỷ 21 là thế kỷ của văn minh trí tuệ.  Trí tuệ là động lực phát triển, là mô hình cả thế giới công nhận là mô hình tốt nhất.  Trung quốc không thân thiện với các nước láng giềng, ngang ngược làm theo ý mình. Vậy thì chơi với ai ?!  Tự cô lập mình à?  Phải chăng là tự xóa sồ văn minh Trung Hoa do ông cha để lại?! Lại muốn long gốc bật rễ chăng?!
        Phải chăng văn minh Ấn Độ, Trung Quốc có gốc lớn, rễ ăn sâu nên đủ “nội lực” đi theo chiều dài của lịch sử. Trong lịch sử lại có những nền văn minh “long gốc bật rễ”, biến mất trên vũ đài lịch sử như văn minh Mayas, Aztecque ở Mexiko, Incas ở Peru.
                 Những thành tựu khoa học thế kỷ 21 cho thấy rõ, dùng nó cho hòa bình thì tốt, cho xâm lấn là lỗi thời,
           tự cô lập, mang họa cho dân tộc
  

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 20.7.2014.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA LƯƠNG VĂN HỒNG TRONG VIỆT VĂN MỚI