Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (1)






Mùa Bằng Lăng Hà Nội 2014. Không gian Hồ Gươm đặc quánh, tê dại, lặng trầm, hừng hực bầu khí nóng:

        "Nắng đổ lửa nước hồ sôi sục/ Tháp Bút, Đài Nghiên gọi anh hùng/ Bằng Lăng rạo rực tím trời xanh/ Hưng Đạo Vương trao Hịch Tướng Sĩ/ Quỷ lồng lộn quẫy động hành tinh/ Lộ hình tởm kinh hơn phát- xít/ Lưỡi lặc lè hơn đàn chó ngao/ Bằng Lăng hoa- Thánh Hiền hội ngộ/ Thăng Long phi chiến địa bi hùng/ Bằng Lăng tím khối tình hò hẹn/ Tháp Bút chờ nhau rửa vạn sầu.”

        Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh

        Thành ngữ “Nấu sử sôi kinh” được Từ Điển Tiếng Việt giải thích là “khổ công học tập để đi thi”.
              "Sĩ thì nấu sử sôi kinh,
               Làm nên khoa bảng công danh để truyền."
               (Ca dao)

                        Hồ Gươm Bằng Lăng Tím Trời Hà Nội
                        Bình minh nắng lửa sục sôi Tình đời
                        Người yêu người lặng im không nói.
                       Thương nhau ruột thắt, gan bào.
                        Đêm dài vượt sóng lê thê
                        Ru nhau Chân cứng đá mềm thế gian.

      Bỗng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hiển linh.
      Cụ dạy:
                        Hồ Gươm nấu sử sôi kinh
                        Hào Quang Tiên Tổ, Tình bay Tinh cầu.
   Vâng lời Thần Thánh Trạng, phòng văn cửa đóng, then cài, mở sách Trời, tôi “Nấu Sử Sôi Kinh”.
   Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh sôi sục Tình người Việt yêu Nam Quốc Sơn Hà đã bùng dậy thoát ách nô lệ Trung Quốc.
   Sự thật lịch sử. Khí phách cha ông sục sôi hào quang linh khí đang tiếp sức mạnh cho người Dân Việt Nam khắp hoàn cầu hôm nay, đứng dậy bảo vệ, giữ chủ quyền Biển Đảo, Núi Sông, Đồng Đất Nam Quốc Sơn Hà.
   Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh là tư duy nghiên cứu, sắp đặt, tổng hợp, hệ thống thời gian và các sự kiện “Nghìn năm Bắc thuộc- dân Việt chống giặc Bắc phương” trên cơ sở tư liệu lịch sử công bố tại internet.
   Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh là khát khao khám phá, suy ngẫm, kết nối tư liệu theo cách riêng của tác giả, muốn thấu hiểu sâu sắc những bài học lịch sử mà trước đó chỉ biết rất lờ mờ. Lơ mơ. Ngu ngơ.

   Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (1)
   Đất Giao Chỉ & Nghìn năm Bắc thuộc

   Tổ Tiên dân tộc Bách Việt buổi bình mình của lịch sử nhân loại được biết đến khoảng hơn 20.000 năm (TCN) bởi thành tựu khoa học đa ngành: khảo cổ, thư tịch, di chỉ, đền miếu, huyền thoại, cổ tích, xét nghiệm AND… với nền Văn hóa Hòa Bình, Văn minh lúa nước, Văn minh sông Hồng, Kinh dịch, Đạo Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát Đỗ Quý Thị, Đúc kim loại, Trống đồng… với những lớp người thông thái, phi phàm, siêu hạng được ghi nhớ khoảng bảy, tám ngàn năm trước: Phục Hy, Thần Nông, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Quốc Vương, An Dương Vương…
   Đặc biệt Thời đại Hùng Vương, Tổ Tiên Việt đã xây dựng thành công một xã hội Hòa bình- Dân chủ- Độc lập- Yêu thương nhau… trên địa bàn rộng lớn, Kinh đô cổ tại Trung tâm châu thổ sông Hồng, phía Bắc tới Nam sông Dương Tử (nay là Trung Quốc). Đất nước Văn Lang chia làm 15 bộ, gọi chung là đất Giao Chỉ, người Giao Chỉ. Bộ máy quản lý gồm các chức danh: Hùng Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng, Bố Chính, Quan Lang.
   (Sách Đi Tìm Tổ Tiên Việt- NXB Văn Hóa Thông Tin 2014- Mai Thục).
   Đất Giao Chỉ- Người Giao Chỉ
   Người Hán gọi người Bách Việt là Giao Chỉ.
Học giả Đào Duy Anh giải nghĩa “Giao Chỉ”:
   “Suy nghĩa chữ Giao Chỉ người ta có thể đoán rằng, người Hán tộc thấy người miền ấy tự xem mình là nòi giống giao long, nên gọi họ là (...) người giao long, và miền đất họ ở là đất của người giao long, hay đất giao long, tức là “Giao Chỉ” (...) Có thể là người ở miền ấy thường lấy tên giao long mà đặt tên cho thị tộc của mình, rồi người Hán tộc nhân tên ấy mà gọi họ là (người) Giao Chỉ. Buổi đầu, tên ấy chỉ dùng để chỉ một nhóm người nào ở trong miền ấy, rồi dần dần người Hán tộc dùng nó để phiếm chỉ tất cả những nhóm người ở trong vùng đất sông Dương Tử, đều có tục cạo tóc xăm mình như nhau”.
   Như vậy, từ khai thiên lập địa, người Hán đã công nhận rằng người Hán và người Bách Việt là hai giống tộc khác nhau. Để phân rõ sự khác biệt đó, người Hán đã tặng tộc người Bách Việt sống từ Nam sông Dương Tử về châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Lam… tên gọi Giao Chỉ.
   Trời phân định. Người Giao Chỉ ở đâu thì Đất Giao Chỉ ở đó. Đất Giao Chỉ- người Giao Chỉ là Tổ Tiên dân tộc Bách Việt thuở nguyên sinh, đã dựng nước và xây dựng thành công một xã hội thấm đẫm tính nhân bản, góp phần vào nền Văn minh nhân loại là sự thật rực rỡ, tỏa hào quang muôn đời.
   Nhà Hán đô hộ Giao Chỉ
   Vào cuối thế kỉ thứ III TCN, vua Hùng thứ 18 không lo đến đời sống của nhân dân. Trong khi đó, quân Tần đã nhắm đến đất nước Việt từ trước, đợi thời cơ này, Tần Thủy Hoàng cho quân đánh chiếm để mở rộng bờ cõi.
   Cuộc kháng chiến bùng nổ. Dù thủ lĩnh Việt bị giết nhưng nhân dân Việt không chịu đầu hàng. Dân quyết định bầu Thục Phán lên làm tướng.
   Bắc thuộc lần 1.
   Khi nhà Hán đô hộ Việt Nam vào năm 111 (TCN) nước Âu Lạc của An Dương Vương bị chia thành hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân.
   Đứng đầu quận là thái thú. Quận Giao Chỉ (Giao Chỉ quận) nằm trong bộ Giao Chỉ (Giao Chỉ bộ). Đứng đầu bộ Giao Chỉ là một thứ sử. Thứ sử đầu tiên là Thạch Đái. Quận trị của quận Giao Chỉ có thể ban đầu đã đặt tại Mê Linh, sau này đặt tại Liên Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Khi Chu Xưởng làm thái thú quận Giao Chỉ đã dời quận trị đến Long Biên.
   Bộ Giao Chỉ là một cấp hành chính của nhà Tây Hán là lãnh thổ cũ của nước Nam Việt, được đặt chính thức vào năm 106 TCN, gồm 9 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (Nhật Nam được thành lập sau khi nhà Tây Hán chiếm được thêm vùng đất phía nam quận Cửu Chân), Đạm Nhĩ, Châu Nhai (Đạm Nhĩ và Châu Nhai nay thuộc đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô (nay thuộc Quảng TâyQuảng Đông). Tên gọi của Bộ Giao Chỉ tồn tại được 300 năm (106 TCN - 203).
   Năm 203 nhà Đông Hán đổi bộ Giao Chỉ thành Giao Châu theo đề nghị của thứ sử Trương Tân và Sĩ Nhiếp, thái thú quận Giao Chỉ.
   Theo sách Tiền Hán thư, địa lý chí thì quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện: Luy Lâu, An Định, Cẩu Lậu, Mê Linh, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên và Chu Diên...
   Thời Tây Hán, trụ sở quận Giao Chỉ đặt tại huyện Luy Lâu, thời Đông Hán đặt tại Long Biên.
   Tích Quang sang làm thái thú quận Giao Chỉ từ đời vua Hán Bình Đế (năm 1 đến năm 5) nhà Tây Hán và Nhâm Diên làm thái thú quận Cửu Chân đời vua Hán Quang Vũ Đế là những viên quan cai thị tốt đối với dân chúng.
   Thời Hán mạt và Tam Quốc, nhân dân Giao Chỉ đã nhiều lần nổi lên giết chết các thứ sử Giao Châu là Chu Phù rồi Trương Tân. Sau đó nhà Hán đã phong cho thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp làm Tuy Nam Trung lang tướng, tổng đốc 7 quận.
   Năm 210, Tôn Quyền nước Đông Ngô sai Bộ Chất sang làm thứ sử Giao Châu thì Sĩ Nhiếp tuân phục.
   Đời vua Hán Linh Đế (168-189), Lý Tiến là người bản xứ đầu tiên làm thứ sử bộ Giao Chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin vua cho người Giao Chỉ được bổ làm quan như người Hán. Nhưng vua Hán chỉ cho những người đỗ mậu tài hoặc hiếu liêm làm một số chức nhỏ trong xứ mà thôi.
   Lý Cầm, một lính túc vệ người Giao Chỉ (sau này làm tới chức Tư lệ Hiệu úy) ra sức kêu cầu, nên người Giao Chỉ mới được làm quan ở cả nơi khác. Một người tên là Trương Trọng đã làm thái thú Kim Thành.
   Cột đồng Mã Viện
   Năm 40. Trưng TrắcTrưng Nhị dấy binh đánh đuổi thái thú Tô Định tàn ác và xưng vương. Năm 43. Mã Viện được nhà Hán phái sang đánh bại Hai Bà Trưng, đã cho dựng một trụ đồng có khắc sáu chữ: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt, nghĩa là trụ đồng đổ thì Giao Chỉ bị tuyệt diệt.
   Người Giao Chỉ qua đây, ai cũng bỏ thêm đất đá cho cột đồng càng chắc, nghe nói sau này phủ kín cả cột đồng, không biết nó ở chỗ nào nữa. Còn một cách giải thích khác là ai đi qua nhìn thấy cũng nổi lòng căm ghét, mỗi người ném một hòn đá vào cột, lâu ngày che đi.
   Chia tách Giao Châu
   Bắc thuộc lần 2.
   Năm 226. Sĩ Nhiếp chết. Đông Ngô đã chia Giao Châu ra làm 2 châu: Quảng Châu gồm các quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô (trị sở tại Phiên Ngung, nay là thành phố Quảng Châu) và Giao Châu gồm các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố thuộc Giao Châu (trị sở tại Long Biên) và cử Sĩ Huy, con Sĩ Nhiếp làm thái thú Cửu Chân. Nhưng Sĩ Huy không tuân lệnh mà dấy binh chiếm giữ Giao Chỉ. Thứ sử Giao Châu là Đái Lương và thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại cùng hợp binh tiến đánh, dụ hàng rồi lừa giết chết mấy anh em Sĩ Huy. Khi đó Đông Ngô lại hợp nhất Quảng Châu với Giao Châu như cũ. Năm Vĩnh An thứ 7 (264) lại tái lập Quảng Châu.
   Năm 265. Nhà Tấn cướp ngôi nhà Ngụy, cử Dương Tắc làm thái thú Giao Chỉ, Đổng Nguyên làm thái thú Cửu Chân.
   Năm 272. Tướng Đông Ngô là Đào Hoàng đánh chiếm lại được Giao Chỉ và Cửu Chân, được làm thứ sử Giao Châu, sau này Tôn Hạo phong cho làm Giao Châu mục.
   Quận Giao Chỉ lúc này có 14 huyện: Long Biên, Câu Lậu, Vọng Hải, Liên Lâu, Tây Vu, Vũ Ninh, Chu Diên, Khúc Dương, Ngô Hưng, Bắc Đái, Kê Từ, An Định, Vũ An và Quân Bình với 12.000 hộ.
   Thời Lưu Tống, quận Giao Chỉ gồm 12 huyện và 4.233 hộ là: Long Biên, Câu Lậu, Chu Sĩ, Ngô Hưng, Tây Vu, Định An, Vọng Hải, Hải Bình, Vũ Ninh, Luy Lâu, Khúc Dương, Nam Định (Vũ An cũ).
   Thời Nam Tề, quận Giao Chỉ gồm 11 huyện: Long Biên, Vũ Ninh, Vọng Hải, Câu Lậu, Ngô Hưng, Tây Vu, Chu Nhuy, Nam Định, Hải Bình, Luy Lâu…
   Huyện Giao Chỉ
Bắc thuộc lần 3 .
   Đến đời nhà Tùy, quận Giao Chỉ gồm 9 huyện: Tống Bình, Long Biên, Chu Diên, Long Bình, Bình Đạo, Giao Chỉ, Gia Ninh, Tân Xương và An Nhân.
   Nhà Đường sau khi lên thay nhà Tùy, đã đặt ra phủ Giao Châu. Năm 679, Giao Châu đô đốc phủ đổi thành An Nam đô hộ phủ, chia làm 12 châu, trong đó có Giao Châu. Giao Châu mới bao gồm 8 huyện: Tống Bình, Long Biên, Chu Diên, Giao Chỉ, Bình Đạo, Vũ Bình, Nam Định, Thái Bình.
   Huyện Giao Chỉ ra đời năm 622 do chia tách đất Tống Châu đặt ra hai huyện Giao Chỉ và Hoài Đức. Đến năm 627, đổi huyện Giao Chỉ thành Nam Từ Châu, nhập ba huyện Giao Chỉ, Hoài Đức và Hoằng Giáo vào huyện Tống Bình.
   Quận Giao Chỉ thời thuộc Minh
Bắc thuộc lần 4
   Đầu thế kỷ 15. Nhà Minh vào sau khi xâm chiếm Việt Nam lại khôi phục quận Giao Chỉ. Lúc này quận Giao Chỉ chính là nước Việt Nam thời nhà Hồ và được chia thành 15 phủ (sau tăng lên 17 phủ) và 5 châu lớn (năm 1407):
   Ngoài ra còn có các châu trực thuộc phủ, tổng cộng có 47 châu lớn nhỏ.
   Sau khi Lê Lợi đánh đuổi quân Minh lên làm vua, ông đã bỏ các đơn vị hành chính cũ và chia cả nước thành 5 đạo. Các tên gọi Giao Châu và Giao Chỉ với tư cách là những đơn vị hành chính chính thức đã chấm dứt từ đó.
   Nghìn năm Bắc thuộc
   Từ “Bắc thuộc” chỉ thời kỳ Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình Trung Quốc, là thuộc địa của Trung Quốc.
   Thông thường, các sách sử hiện đại Việt Nam hay dùng từ “Bắc thuộc” để chỉ giai đoạn hơn một nghìn năm từ nước Âu Lạc của An Dương Vương (207 TCN hoặc 179 TCN) cho đến khi Khúc Thừa Dụ giành lại quyền tự chủ từ tay nhà Đường (905) nghĩa là gộp ba lần Bắc thuộc.
  Bắc thuộc lần thứ nhất (179 TCN hoặc 111 TCN - 39).
  Nhà Hán lập quốc (khoảng 206- 111 TCN) Tần Thủy Hoàng chiếm Lĩnh Nam (nước Nam Việt).
  Bắc thuộc lần thứ hai (43 - 541): nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tào Ngụy, nhà Tấn, nhà Tề, nhà Lương.
  Bắc thuộc lần thứ ba (602 - 905): nhà Tùy, nhà Đường. Trong giai đoạn Tự chủ từ 905- 938 có một thời gian Việt Nam rơi vào tay Nam Hán.
  Bắc thuộc lần thứ tư (1407 - 1427): còn gọi là thời thuộc Minh.
  Chỉ có vài thời gian độc lập ngắn ngủi như thời kỳ Hai Bà Trưng (40-43), thời kỳ nhà Tiền Lý với nước Vạn Xuân (541-602).
  Một số tài liệu khác chia thành ba thời kì. Cách chia này gộp hai thời kỳ đầu (với gián đoạn là khởi nghĩa Hai Bà Trưng) thành thời kì Bắc thuộc lần thứ nhất. Bài này sử dụng cách chia làm bốn thời kì.
  Trong suốt các thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại Trung Quốc không ngừng thực hiện đồng hóa người Việt nhằm biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Quốc. Dưới thời kỳ này người Việt phải đóng sưu thuế cho triều đình Trung Quốc. Ngoài số thuế của nhà nước, một số quan cai trị địa phương cũng bòn vét của dân, đẩy họ vào cảnh cùng cực.
   Tần Thủy Hoàng- Giặc đầu tiên cướp Bách Việt
  Tần Thủy Hoàng tên thật Doanh Chính, tên khác Triệu Chính là vua nước Tần- Trung Quốc (246- 221 TCN) thời kỳ Chiến Quốc, tự xưng Hoàng đế, sáng lập nhà Tần. Tần Thủy Hoàng là hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc thống nhất vào năm 221 TCN, sau khi tiêu diệt các nước chư hầu khác, cai trị đến khi chết năm 210 TCN, tuổi 49.
  Sau khi thống nhất, ông và thừa tướng Lý Tư đã có một loạt các cải cách lớn về kinh tế và chính trị. Ông đã tiến hành nhiều dự án khổng lồ, bao gồm xây dựng và hợp nhất các bộ phận của Vạn Lý Trường Thành. Tìm thuốc trường sinh thất bại, và xây lăng mộ Tần Thủy Hoàng to lớn như thành phố, được bảo vệ bởi đội quân đất nung có kích người thật, và một hệ thống đường quốc gia lớn, với máu của rất nhiều mạng người. Để bảo vệ quyền lực, Tần Thủy Hoàng đốt nhiều sách và chôn sống nhiều học giả.
   Tần Thủy Hoàng cướp đất mở rộng lãnh thổ
   Mới hoàn thành sự thống nhất Trung Quốc, chưa kịp củng cố trong nước, Tần Thủy Hoàng đã nghĩ đến việc đánh chiếm cướp đất các nước láng giềng, mở rộng lãnh thổ Trung Quốc.
   Các dân tộc du mục miền Bắc gọi chung là Hung Nô vẫn là mối lo từ đời Thương, Chu. họ thường xâm lấn biên giới, có chỗ sống lẫn lộn với người Trung Hoa.
   Đầu đời Tần họ đã len lỏi vào Hà Nam, Tần Thủy Hoàng vội chặn họ lại, sai Mông Điềm làm chánh tướng cầm quân, cùng với con Vương Bí, cháu Vương TiễnVương Ly làm phó tướng, đưa quân đánh dẹp và trấn thủ biên giới phía Bắc.
   Trong thời gian hơn một năm, Mông Điềm đã chỉ huy quân Tần đánh lui quân Hung Nô ở phía bắc, giành được thắng lợi. Quân Hung Nô bị đánh đuổi từ Du Trung dọc theo sông Hoàng Hà đi về đông đến Âm Sơn tất cả 31 huyện, xây thành trên sông Hoàng Hà làm giới hạn.
   Lại sai Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà lấy đất Cao Khuyết, Đào Sơn, Bắc Giả, xây đình và thành lũy ở đấy để đuổi người Nhung và đưa những người bị đày đến đấy để ở và lần đầu những nơi này trở thành huyện.
   Mông Điềm đánh bại Hung Nô, trấn thủ Thượng Quận (nay là phía đông nam huyện Du Lâm – Thiểm Tây), bắt đầu việc cai trị biên giới. Trong quá trình chinh phạt, Mông Điềm trước sau chú trọng khai phá vùng biên ải, lấy các vùng đất mới làm thành "Tân Tần Địa", chia thành 44 huyện, cắt đặt quan lại.
   Mông Điềm chiêu tập nam đinh trong nước đi xây dựng các tuyến phòng thủ ở những nơi hiểm yếu dọc theo biên giới. Trong vài năm, ở biên giới phía bắc Hàm Dương đã xây dựng được ba tuyến phòng ngự.
   Tuyến thứ nhất nằm ở Bắc sông Hoàng Hà, giữa núi Âm Sơn và Dương Sơn.
   Tuyến thứ hai là phía tây, quận Cửu Nguyên, nằm dọc theo phía tây dãy Âm Sơn nối với Trường Thành ở nước Triệu.
   Tuyến thứ ba chính là Trường Thành có từ thời Tần được điều chỉnh lại.
  Trên cơ sở đó, Mông Điềm còn huy động sức dân trong nước xây dựng Trường Thành dọc theo biên giới phía Đông. Lúc bây giờ, ở biên giới phía Bắc nước Tần, ngoài Trường Thành của nước Tần còn có Trường Thành của nước Triệu và nước Yên còn lại từ thời Chiến Quốc. Phía Tây Trường Thành bắt nguồn từ Lâm Thao. Phía Đông trải dài tới tận Liêu Đông, dài hơn vạn dặm. Đây chính là Vạn Lý Trường Thành nổi tịếng thế giới ngày nay.
   Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem quân, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương đi đánh lấy Bách Việt, tức các tỉnh Chiết Giang, Lục Dương(???), Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây), và một phần miền Bắc của Nam Việt , thời đó gọi là Âu Lạc của An Dương Vương (hay Tượng Quận theo cách gọi Trung Quốc.
   Năm 214 TCN. Tần Thủy Hoàng sai Triệu Đà đưa những người thường trốn tránh, người ở rể và người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, đóng đồn ở núi Ngũ Lĩnh, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
   Năm 213 TCN. Thủy Hoàng lại đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây Trường Thành và đi thú ở đất Nam Việt.


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 13.7.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn