Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




CÔ TÚ LÀNG THỊNH YÊN





Mỗi năm đến ngày kỷ niệm TQKC 19/12 tôi lại thấy một ông già về làng.Hoàng Mai. Ông ta đến thăm nhà bà Hiển, ngồi rất lâu bên bờ giếng, mái đầu bạc nghiêng nghiêng như nghe lắng trong không gian những tiếng vọng mơ hồ mà chỉ có linh cảm mới biết được. Người nhà bà Hiển bảo : “ông ấy đang tìm cô Giần đấy”. Mọi người tôn trọng những suy tư riêng của ông, không ai dám làm điều gì để ông mếch lòng.

    Từ ngôi nhà đó ông lần theo đường làng đến nơi đặt bia Ghi công các liệt sỹ hy sinh trong trận chiến đấu chống quân Pháp đánh vào hồi tháng 2/ 1947. Sau khi thắp hương, ông đưa tay lần theo tên các liệt sĩ và dừng lại ở dòng: Bùi Thị Giần – chiến sĩ B2 mặt trận LK2 hy sinh ngày 01/02/1947.
    Giọt nước mắt nhọc nhằn ứa ra từ đôi mắt đã mờ. Ông gập người xuống như không giữ nổi thân xác của mình. Và từ con người già nua đó, mấy câu thơ như lời kinh cầu nguyện cất lên:

Em là cố Tú làng Thịnh Yên
Cứu nước xông pha chốn trận tiền
Tiếp phẩm nấu cơm đâu có nản
Áo trắng bay vờn đôi cánh tiên

Tôi là chiến sĩ miền Sơn Cước
Nhờ em dậy chữ đã nên tài
Chiến đấu trăm lần tôi không chết
Mà sao em chết trẻ em ơi?

Giặc Pháp đánh vào làng Hoàng Mai
Quân ta đã rút về chùa Sét
Bao người chết, mà tôi không chết
Tôi tìm em thương quá em ơi

Nồi cơm to gạo sắp chín rồi
Lo chiến sĩ buổi chiều bị đói
Em ngã xuống vẫn còn cố nói
Hãy nấu cho cơm chín nồi này”

Mười năm chiến tranh đi khắp đó đây
Mỗi bát cơm lại nhớ tình đồng chí
Hai mươi năm tôi đi đánh Mỹ
Nhớ thương hoài cô Tú Thịnh Yên

    Đọc xong bài thơ, ông ngồi như thế rất lâu cho đến khi các nhà xung quanh đã lên đèn, ông mới đứng dậy đi ra. Tôi nhìn người CCB già nua, lắng nghe tâm hồn ông qua bài thơ, bỗng nhiên nhận thấy có một mối đồng cảm. Tôi đi theo và cất tiếng làm quen:
    - Bác ơi Làng Thịnh Yên ở đâu ạ?
Ông già quay lại thấy dáng tôi không có vẻ ngổ ngáo trêu chọc, ông từ tốn nói.
   - Làng Thịnh Yên là khu Chùa Vua bây giờ.
Tôi hỏi tiếp: “Cô Tú làng Thịnh Yên có phải là liệt sĩ đã hy sinh?” người ta bao giờ cũng vậy, có nỗi buồn mà được bạn bè hỏi là không giữ lại riêng mình. Người CCB già thấy tôi hỏi chuyện ông ta trả lời:
    - Cô Tú chính là liệt sĩ Giần đấy, ngày xưa học đến Sepphika đã là cao, thế mà cô Giần đã học ban Tú tài, hơn hẳn cánh con trai, người làng Thịnh Yên quý lắm thường gọi là cô Tú. Tuy học cao, nhưng cô giữ nếp gia giáo nghiêm nghị lắm. Khi đơn vị của tôi ở chiến khu về Hà Nội, có nhiều chiến sĩ không biết chữ, cô Giần được cử làm giáo viên dạy chữ các cán bộ tiểu đoàn.
    - Không biết chữ mà để con gái dạy thế các bác có ngượng không?
    - Ngượng là thế nào, vì Dạy và Học đều là nhiệm vụ các mạng giao, cho nên ở lớp, anh nào cũng cố gắng để biết chữ vừa hoàn thành nhiệm vụ và...
   ...Vui lòng cô giáo phải không ạ. Tôi hỏi thêm vào
   - Cậu chỉ hay tếu, đã bảo là cô giáo nghiêm lắm, trong giờ học cô chỉ bảo tận tình, hết giờ là cô ấy quay về tổ quản lý chẳng bao giờ la cà với học viên. Người Cựu binh già kể đến đấy thì ra tới đầu đường lớn. Ông ta chào tôi, hẹn sẽ kể tiếp khi có dịp.
Lần lại những trang lịch sử chiến đấu của Hà Nội, ngay từ ngày đầu nổ súng kháng chiến, các lực lượng vũ trang Liên khu 2 đã tổ chức tiến công tất cả các vị trí đóng quân của địch. Ngày 26/12/1946 sau khi vỡ mặt trận Ô Cầu Dền, quân ta lui về giữ về làng Hoàng Mai và tại đây có cuộc chiến đấu ác liệt giữa trung đội 2, đại đội 1, tiểu đoàn 77 với xe tăng bộ binh địch. May mắn tôi gặp được một cựu chiến binh D77 hỏi tiếp về cô Tú và người CCB nọ, ông ta kể rằng.
   - Tiểu đoàn 77 là đơn vị có phần lớn CBCS ở chiến khu về. Thanh niên miền núi thì giàu lòng yêu nước nhưng cái vốn văn hóa lại quá ít. Thủơ ấy cô Tú Giần hoạt động trong TNCQ, là trưởng ban truyền bá quốc ngữ khu Thịnh Yên – Đồng Nhân, tổ chức đã giới thiệu cô vào Vệ Quốc đoàn, làm giáo viên hướng dẫn văn hóa cho cán bộ ở tiểu đoàn bộ. Từ miền núi về xuôi tiếp xúc với văn hóa thành thị, không ít đồng chí bỡ ngỡ, nay lại tiếp xúc với cô giáo đẹp người, đẹp nết như đồng chí Giần trong anh em chúng tôi nhiều người có cảm tình. Nhưng cái lý của người miền núi là không biết nói bằng lời mà chỉ biết bằng cử chỉ, thái độ, mặt khác cấp trên cũng nghiêm lắm, ai mà “ xớ rớ” điều gì xúc phạm cô giáo chỉ có kỷ luật thôi.
   - Chuyện này tôi đã được biết, xin hỏi bác về người CCB kỳ lạ vẫn thương nhớ cô Tú Giần cho đến nay?
   - À là cậu Thào. Anh em thấy tên dân tộc hơi ngộ, nên đổi là Thao, hoặc có người còn gọi là Thao “ lì ”. Cậu ta thổi kèn lá giỏi lắm. Những đêm ở trại, cậu ta thường thổi kèn lá, chiến sĩ có người buồn nhớ nhà. Sau đồng chí chỉ huy phải gặp riêng để nhắc nhở, cho tới ngày cô Tú đến dạy học thì tính tình đổi khác.
   - Có lẽ hồi đó ông Thao ngượng ngùng lắm?
   - Anh ấy không ngượng đâu, mà lại khôn hơn các chiến sĩ khác ở chỗ cuối buổi học thường tìm cách để được cô giáo ở lại nói riêng với mình vài câu, khi thì xin giải nghĩa một chữ, khì thì hỏi về phép tính. Có lần chúng tôi thấy anh ta đứng như trồng cây “ si " trước cô giáo, còn cô thì tươi cười hỏi:
   - Tôi nói như vậy đồng chí đã hiểu hêt bài chưa?
   - Báo cáo cô giáo, hiểu bài thì tôi cố học rồi sẽ hiểu, nhưng giá mà cô giáo giúp cho việc này thì tốt quá.
    - Vậy đồng chí yêu cầu gì vậy:
   - Tôi xin đồng chí cây bút chì, nếu hiếm quá thì mẩu bút cũng là quý để tôi tiện ghi chép học tập mà. Đại loại những việc như thế, mỗi ngày một chút ít dần dần anh Thao có hẳn bộ sưu tập kỷ niệm của cô Tú và anh quý cái kho tàng ấy lắm. Chúng tôi được biết người dân tộc rất tôn trọng những kỷ vật của bạn, có thể chừng mực nào đó, Thao đã coi như vật làm tin mà trai gái vùng dân tộc vẫn trao cho nhau khi tỏ tình.
Khi có lệnh chuyển sang trạng thái chiến đấu, lớp học tạm ngừng. Chúng tôi nói với cô Giần rằng: Chiến tranh sắp sảy ra cô muốn rời Hà Nội hay chuyển sang cơ quan dân sự tùy ý. Nhưng thật không ngờ cô Tú đã trả lời:
   - Báo cáo Ban chỉ huy nếu ở đây hết việc thì em về đơn vị chiến đấu trực tiếp bảo vệ Hà Nội cùng mọi người.
Thái độ cô kiên quyết lắm, khuôn mặt trái soan có mớ tóc kẹp lửng bỏ xõa ngang lưng cứ hồng cháy lên như là chúng tôi đã phạm vào điều thiêng liêng nhất của cô. Thế là Ban chỉ huy đành phiên chế cô về trung đội hai. Đơn vị tổ chức lại tham chiến ngay từ đêm 19/12/1946 tại LK2. Khi rút quân ra vùng tự do tôi mới được tin đồng chí Giần đã hy sinh tại Hoàng Mai cùng nhiều đồng chí khác.
   - Bác có biết trường hợp hy sinh của liệt sĩ Giần không ạ?
   - Điều này anh hỏi các đồng chí chiến đấu cùng mới biết. Mà khó lắm đấy vì sau trận đánh ở Hoàng Mai, đơn vị thương vong nhiều, anh em phân tán khắp nơi, kháng chiến lại kéo dài nhiều năm.
Tìm thêm một chút về quan hệ cô Tú với anh Thao – người CCB kỳ lạ, tôi mường tượng thấy một người thanh niên chất phác thầm yêu trộm nhớ người đồng đội nhưng vì điều ràng buộc anh chưa có dịp nói ra, chưa có dịp thổ lộ. Và tôi chắc chắn rằng đã có lần: “ Họ nói ra những điều thầm kín ấy” trong một hoàn cảnh đặc biệt mà đến bây giờ Ông Thao vẫn còn thương nhớ không nguôi...
    Tôi gặp ông Nguyễn người cùng làng với cô Tú đã chiến đấu và chứng kiến giờ phút hy sinh của liệt sĩ được nghe ông kể tiếp: “ Sau khi mặt trận Ô Cầu Dền bị vỡ, quân ta rút về Hoàng Mai. Cả đơn vị chỉ còn 34 tay súng và 2 chị nuôi quân. Tình cờ cô Giần gặp lại anh Thao trong hoàn cảnh này, xa nhau hơn một tháng nên gặp lại anh Thao mừng lắm. Anh sắp xếp cho tổ nuôi quân được ở một ngôi nhà có cả giếng nước để dễ làm việc. Còn bộ đội thì chia nhau ngủ ở hai đầu làng cảnh giới với bọn Pháp.
    Một sớm tôi thấy chị Giần từ ngoài đồng về người bê bết bùn đất vai vác một bao tải rau nặng, gặp anh Thao. Anh nghiêm nghị nói:
    - Đồng chí Giần. Bây giờ về đơn vị chiến đấu đồng chí phải nghe lệnh tôi.
    - Rõ, thưa đồng chí chỉ huy.
    - Từ nay không được xông xáo ngoài ruộng nữa, Tây nó bắn chết đấy.
Chị Giần quay nhìn anh Thao, đôi mắt mở to vì ngạc nhiên: Thưa đồng chí chỉ huy anh em ăn cơm thiếu rau khổ lắm.
    - Khổ thì chúng tôi chịu vậy. Nhưng nếu cô Tú...à quên đồng chí bị làm sao thì tôi khổ lắm.
Ra thế đấy, cái anh chàng người dân tộc có tiếng là gan lì trong chiến đấu mà nay đang sợ cô Tú chết. Tôi thấy Thao chỉ nói được như vậy rồi lúng túng quay đi, còn chị Giần hình như cũng bị choáng vì mệt hay vì gì đó mà như chơi vơi bước mãi mới đến thành giếng. Tôi vội hỏi: Chị ơi chị mệt lắm à.
    - Không mệt lắm đâu. Chú múc hộ chị chảo nước để chuẩn bị cơm sáng cho anh em.
Tôi đang tìm cái đòn gánh khiêng chảo lên bếp thì tiếng rú của xe tăng, tiếng đạn đại liên đã nổ dồn dập.
    - Tây đánh rồi. Em ra công sự đây. Nếu có lệnh rút thì chị về chùa Sét nhớ.
Trận chiến đấu căng thẳng cho đến chiều. Các chiến sĩ quyết tử của đơn vị đã đâm quả bom ba càng cuối cùng vào xe tăng địch, anh em thương vong nhiều, lệnh trên cho rút về chùa Sét. Tôi nghe tiếng anh Thao hét to: “Tổ nuôi quân đâu ” không có ai trả lời, súng cối của địch vẫn thi nhau bắn vào làng. Anh Thao vội về chỗ tổ nuôi quân, linh tính báo điều không lành tôi cũng chạy theo.
    Trong ánh chiều xám của mùa đông làng Hoàng Mai bốc cháy, lửa đỏ bập bùng soi tôi thấy anh Thao vội vã chạy đến bên miệng giếng: Chảo cơm còn bốc hơi, vài thanh củi cháy dở văng ra ngoài, xác chị cấp dưỡng nằm vật bên hè, bên miệng giếng anh Thao đã ngồi xuống bế thốc chị Giần lên, cất tiếng gọi lạc giọng, điên khùng như tiếng một con thú: “ Giần...ơi! không biết chị có nói được gì nữa không mà chỉ thấy anh áp đầu vào khuôn mặt của chị: Họ im lặng như một pho tượng đá. Tôi không dám bước tới sợ làm kinh động...Đêm chầm chậm phủ bóng tối khắp nơi, tôi mạnh dạn nói.
    - Anh Thao ơi – cả đơn vị đã về chùa Sét, anh em đang chờ anh.
Lúc đó, anh như điên, nên cứ úp mặt vào ngực chị Giần mà khóc. Trong bóng đêm nhập nhoạng hai chúng tôi mỗi người mang theo một liệt sĩ liêu siêu bước. Tôi đi đằng sau thấy anh vẫn bế chị trên tay suốt quãng đường dài nhè nhẹ như sợ làm chị thức giấc.
    Năm mươi hai năm đã qua, bây giờ không ai biết Ông Thao ở đâu. Chỉ loáng thoáng nghe rằng ông ấy Nam chinh Bắc chiến oanh liệt lắm và chưa lập gia đình với ai.
    Tôi kể lại với bác Nguyễn chuyện người CCB già về thăm bia mộ liệt sĩ đọc bài thơ tưởng niệm. Chúng tôi cùng xót xa nhắc lại:
Chị là cô Tú làng Thịnh Yên...
Một đời người – một tình yêu mãnh liệt.

Liệt sĩ Bùi Thị Giần Hy sinh tháng 1/2/ 1947 được dân làng Hoàng Mai khắc bia ghi công.
Ngày 27/7/1999, mới chính thức được truy tặng bằng Tổ Quốc Ghi Công
Câu chuyện trên đây, tôi ghi lại qua hồi tưởng của đồng đội.
Tháng 7 năm 1999


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 13.7.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn