Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGỌN NẾN ĂN NĂN





          MƯỜI NĂM TRONG CƠN MÊ


N hững vụ án chính trị và văn nghệ mà tôi đã nói đến trên đây, lẽ ra tôi nên để riêng cho nó một chương, hoặc không nên nói ra việc này để tránh ngộ nhận. Nhưng lại chợt nhớ ra mình đang còn là một kẻ “theo mệnh nước nổi trôi”.Tôi muốn nói lên những gì là số phận của tôi trong thời đại tôi sống, đất nước tôi, trong và sau chiến tranh. Nhiều người đi tới cùng kiệt, u uất, trầm cảm, mất sức phản kháng và khả năng miễn nhiễm.Tuy nhiên, cũng chính trong thời kỳ này mà tôi cảm nhận được một cách cụ thể, xác thực về sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa đã dành cho tôi. Vì thế mà tôi muốn nói lên ở đây tất cả. Nó là linh hồn tôi, là thân thể đau thương của tôi, là một số phận, một kiếp người trọn vẹn.Tôi không tự đội hào quang cho tôi, vì thật sự, có gì đâu. Tôi cũng không đủ tính khiêm nhường để giấu mặt mình đi.Tôi chỉ muốn là chính mình.


Được cứu lần thứ nhất.

Buổi sáng ngày 30 tháng 4-1975, không khí Sài-Gòn rất hỗn loạn như thể sắp xảy ra chiến tranh, lúc đó tôi đang ẵm đứa con gái mới hơn hai tuổi, đứng ở gần cửa ra vào trong nhà mẹ vợ tôi, trên đường Ngô Quyền quận 10 Sài-Gòn. Những tiếng súng nổ chát chúa từ mọi phía. Người ta bảo Nhân dân tự vệ bắn. Bỗng, một viên đạn xuyên qua lỗ thông gió trên tường, bay ngang đầu tôi, đụng vách tường đối diên khoét một lỗ tròn nhỏ. Nghe tiếng đạn bay xẹt vào nhà, vợ tôi đang ở trong, chạy vội ra xem, vẻ hốt hoảng vì quá sợ hãi. Con gái chúng tôi cũng có vẻ sợ, tay ôm chặt cổ tôi.

Trong những giờ khắc tận cùng của thể chế dân chủ của miền Nam Việt Nam, trước lúc bước sang chế độ mới, tôi nhận được một dấu chỉ của tình thương Thiên Chúa qua tình huống vừa rồi. Những ngày sau đó, Sài-Gòn nổi lên những vấn đề của quyền lực độc hữu, khiến tôi thay đổi thái độ, mà trước kia tôi không nghĩ tới. Chẳng hạn, mấy tháng cuối cùng, tôi vẫn bình thản, vẫn đến Đại học Văn khoa học, vì trường vẫn mở cửa, các Giáo sư vẫn dạy. Tôi vẫn không bị bối cảnh của đất nước, của Sài-Gòn trong những tháng ngày cuối cùng đó chi phối nhiều. Ngay phi trường TSN cũng như ngay tại BTL KQ, nơi tôi làm việc, lính và quan rất hoang mang về việc Cộng quân đang tiến dần vào, một số đơn vị của QLVNCH đã chiến đấu kiên cường, nhưng không được tiếp tế phương tiện; ông sĩ quan cấp tá trưởng phòng tôi đã bỏ việc, dẫn vợ con ra Vũng Tàu. Nhiều gia đình cũng biến mất, cửa nhà đóng chặt.Về phía người Công giáo, Tòa Giám mục Sài-Gòn có tổ chức đưa người có đạo đi hay không, khiến Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình phải ra một bức thư ngỏ đọc trong nhà thờ, đại ý nói rằng Tòa Giám mục Sài-Gòn không có chủ trương này. Các Giám mục và Linh mục không thể bỏ giáo dân. Xin mọi người hãy bình tĩnh, cầu nguyện để Chúa soi sáng và nhận ra dấu chỉ của thời đại.Quê hương chúng ta là đây. Phải chung tay xây dựng lại đất nước. Ngoài ra, Sài-Gòn còn trong cảnh rối loạn: người dân từ miền Trung chạy vào. Phòng bên cạnh tôi trong Trường Đại học Thành Nhân, gia đình ông Cao Thế Dung đã dọn ra ngoài và nghe nói đã xuống Vũng Tàu, phòng của ông, nay dành cho mấy gia đình người Huế, là thân nhân hay họ hàng gì đó với một Sư huynh Lasan Taberd.

Từ sau lúc viên đạn bay xẹt qua đầu hai bố con tôi và sau mấy lần người bạn văn nghệ cũ tay mang băng đỏ đến nhà, bảo tôi đi trình diện văn nghệ sĩ, rồi có nơi những bộ đội vào nhà người có đạo, bảo chỉ có Đảng và Bác cho nhân dân gạo mà thôi, ông Giêsu là người nước ngoài không cho ta gạo. Một số nơi khác, người ta sử dụng ngay học sinh vào từng nhà tịch thu sách báo cũ v.v…tôi đã biết mình phải làm gì và sống như thế nào đây. Nghĩa là tôi thay đổi thái độ. Tờ Tuần báo Công giáo và Dân tộc, do một vài Linh mục và giáo dân thân Cộng, cũng là yếu tố để tôi có một lập trường khác với trước kia. Tôi thấy mình đau đớn nhiều hơn, yêu mến Giáo hội nhiều hơn, nhất là ý thức được rõ ràng, thực tế tôi phải làm gì cho Giáo hội của tôi. Có lúc đọc tờ tuần báo Công giáo và Dân tộc, tôi bật khóc. Những cây bút như Hải Kim Sa, Người Tín Hữu viết về giáo hội cay đắng quá, xót xa quá. Những Linh mục như Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ v.v…đều có những bài viết rất khó chịu. Những vị này đếu là những trí thức Tây học, có học vị cao. Ngôn ngữ họ dùng trong các bài báo, là ngôn ngữ của những tay cực hữu, nhằm làm giảm ảnh hưởng của Giáo hội. Họ lý luận theo biện chứng song không có yếu tố siêu việt, yếu tố tinh thần. Điều này có lúc làm tôi sợ. Sợ, vì nó đi ra ngoài truyền thống của Giáo hội. Họ muốn gạt ra ngoài yếu tố của huấn quyền, mà bất cứ người tín hữu Kitô giáo nào cũng phải theo. Nếu không, họ trở thành những “phản Kitô”, những kẻ kiêu ngạo.

Được cứu lần thứ hai.

Lần thứ hai này xảy ra khi tôi đã là công nhân Đường sắt (Hỏa xa), công tác trên tuyến đường từ Sài-Gòn ra đến ga Mường Mán, tỉnh Phan Thiết, bắt đầu từ năm 1976 đến 1987. Công việc chính của tôi là thợ sơn. Chúng tôi có một đội, chia ra mấy tổ, phân công sửa chữa hay xây dựng mới một nhà ga và nhà ở cho nhân viên công tác tại các ga này, chuẩn bị cho tàu thống nhất Bắc Nam hoạt động. Lúc chưa có việc cho toán thợ sơn và quét vôi, chúng tôi chuyển thành phụ hồ, làm các việc khuân vác xi măng, gạch, các thanh sắt, tà vẹt thay cho gỗ, trộn hồ v.v…Đối với tôi, những việc này là quá nặng, ăn uống lại kham khổ, như “nhà tu”. Những lúc phải đi các ga xa, như Trảng Bom, Dầu Giây, Long Khánh, Bảo Chánh, Gia Lai, Gia Huỳnh, Suối Kiết, Sông Dinh, Sông Phan, Suối Vận và Mường Mán, chúng tôi đều phải ở lại. Càng xa Sài-Gòn thì càng phải ở lâu, từ một tuần đến 2,3 tuần. Nghĩa là phải làm cho dứt một ga. Lương thực mang theo kể như không có gì, nhiều nhất là muối mè đậu phụng, thêm mấy trái dưa leo. Có khi phải vào trong rừng, kiếm một mớ rau càng cua, mọc hoang ở gốc cây cao su, trộn với dấm chua, cải thiện bữa ăn. Đi xa như thế, ai cũng mong làm xong việc để về, nhất là những người có con cái còn đi học. Họ về để còn đạp xích lô hay những việc khác, kiếm thêm tiền giúp gia đình. Cho nên, ngày Chúa nhật chúng tôi cũng phải làm. Người tổ trưởng cũng là người trong anh em, không là lính trước kia, thì cũng là người thợ xây dựng chuyên nghiệp, nên tình cảm giữa chúng tôi rất gắn bó, hòa thuận với nhau, thương yêu nhau. Tuy vất vả, cực như vậy mà vui. Ai có cái gì ăn cũng mang ra cùng ăn chung, hết thì cử người đi chợ. Ga nào gần Phan Thiết thì nhảy xe lửa ra ngoài đó mua. Sáng nào cũng vậy, trước khi bắt tay làm việc, anh em thường ra quán uống cà phê. Vui nhất là những buổi chiều sau khi xong việc, ai thích nhậu thì ra hàng quán uống vài ly, nhiều là 1,2 xị. Uống say rồi mới chịu về. Ngất ngưởng về đến nhà, thường là phòng hành khách ngồi đợi tàu tại nhà ga. Lúc này là lúc thuận tiện nhất cho ai sính mấy câu cải lương Nam Bộ. Chàng cất tiếng, tay chân vốn đã có chất men, nên càng lảo đảo hơn, đầu và thân mình có lúc chúi xuống bên này, ngả sang bên kia, cả thân mình múa may theo nhịp đệm là tiếng gõ của chiếc thùng gỗ hay hai chiếc dĩa nhôm đập vào nhau. Những người khác thì nằm hay ngồi, dựa lưng vào tường, hát phụ họa với vai diễn chính. Trước mặt chàng là những cành lan rừng mà buổi chiều chàng đi lấy mang về. Nhờ có những cành lan rừng này mà diễn viên múa hát rất hay, nội dung sâu sắc. Chàng cất cao giọng : Người ta sống ở đời phải nên như những cành lan này, ngày đêm giãi dầu mưa nắng, gió sương rừng rậm hoang vu, mà sắc không tàn phai, trái lại còn phô sắc rực rỡ như thế này đây (một tràng vỗ tay nổi lên khen ngợi lúc chàng giơ cao nhánh lan đang cầm trong tay). Bông lan này xứng đáng để chúng ta noi theo và chiêm ngắm. Nó tượng trưng cho người quân tử. Nhưng người quân tử ngày hôm nay ở đâu? Thế rồi, chàng rũ người xuống như một cử chỉ đau đớn… Người quân tử đâu? Chính nhân đâu? Đời loạn…Ta làm gì? Ta ở đây sao? Ta không say. Ta tỉnh. Đời có ai tỉnh bằng ta. Vọng cố nhân, hề!….Chàng khuỵu hai đầu gối xuống nền nhà, hai tay ôm mặt, khóc hu hu… Hơn mười con người chúng tôi ngồi chung quanh diễn viên này cũng đột nhiên bất động, thinh lặng đến nghẹn ngào. Mấy phút sau, một người trong chúng tôi mới phá vỡ bầu khí này:

- Buồn quá đi mậy. Còn rượu không mang ra đây uống tiếp
-Tổ trưởng, sáng mai nghỉ làm phải không?
-Nghỉ cái con khỉ. Ngủ đi.

NHÀ THỜ GA DẦU GIÂY MỘT CHIỀU MƯA

Có một lần vào năm 1978, chúng tôi tới ga Dầu Giây công tác. Bước xuống sân ga thì đã xế chiều, trời lại mưa. Cất đồ đạc vào phòng tạm nghỉ xong, tôi tới nhà thờ Dầu Giây cũng gần ga xe lửa. Hình như buổi kinh chiều ở đây vừa xong, vì lúc tôi bước vào nhà thờ thì có một phụ nữ và một em gái cũng ở trong nhà thờ đi ra. Tôi chào họ, nói là vào viếng Mình Thánh Chúa. Người phụ nữ nghe tôi nói không rõ, nói: “Ở đây có gì mà kiểm tra?”. Cô bé nói lại: “Ông ấy nói là vào viếng Mình Thánh Chúa”. Tôi bước vào bên trong nhà thờ, quỳ ngay xuống trước bàn thờ. Nước mắt tôi bỗng dưng trào ra ướt đẵm cả mặt mũi. Tôi nghĩ rằng Chúa Giêsu đang ở trong Nhà Tạm này cũng rất cô đơn, cô đơn hơn cả tôi lúc này. Biết đâu Chúa cũng đang khóc với tôi, khóc nhiều hơn tôi. Vì có rất nhiều nhà thờ, nhà nguyện đang trong tình trạng bị chiếm đoạt, tượng thánh bị xúc phạm, các nữ tu bị trục xuất. Chúa khóc nhiều hơn nữa vì sự câm lặng của các mục tử. Họ chỉ bảo vệ mình mà bỏ mặc con chiên. Nhà thờ ở quê tôi cũng vắng bóng linh mục từ lâu rồi. Gió ở bên ngoài thổi mạnh từng cơn, lá cây cao su va đập vào nhau, tạo nên những âm thanh làm cho kẻ từ xa đến như tôi, thấy rợn người. Mấy phút sau tôi mới bình tĩnh lại. Gió vẫn thổi, lùa vào nhà thờ. Tôi ngỡ đó là tiếng khóc than, tiếng kêu cầu của các linh hồn oan khuất, chưa được siêu thoát trong các cuộc loạn lạc trên quê hương tôi suốt mấy chục năm vừa qua, có cả những vong hồn của người lính vô danh bỏ mình nơi trận chiến dù ở bên này hay bên đối phương. Trên bàn thờ, ngọn đèn chầu nhỏ hiu hắt, càng làm tăng thêm vẻ mong manh, nghèo nàn, cô quạnh và yếu đuối của ngôi thánh đường trong khu rừng cao su này. Nhưng chính đó lại là sức mạnh cho biết bao con người yếu đuối như tôi, tìm được nơi nương tựa và hy vọng.

Tôi tạm biệt Chúa trong Nhà Chầu, lặng lẽ ra về. Trời mưa nhẹ nhưng cũng thấm ướt chiếc áo công nhân khoác trên người tôi. Đường tối khó đi, tôi chậm rãi về nhà ga. Tôi biết Chúa đang đi với tôi, trong thân phận lao dịch và nghèo khó.

ĐẠI HỌC THÀNH NHÂN

Sau mấy ngày công tác ở ga Dầu Giây, chúng tôi lên xe trở về Sài-Gòn vào một buổi chiều. Mở cửa vào nhà, bao giờ cũng thế, tôi đặt túi quần áo xuống đất ngay chỗ chân mình đứng, nhìn lên bàn thờ Chúa. Tôi cảm tạ Chúa đã đồng hành với tôi, lao nhọc với tôi trong những ngày vừa qua, và giờ đây, Người lại dẫn tôi về nhà này để an nghỉ. Tôi không khỏi chạnh lòng vì hoàn cảnh tôi lúc này. Căn nhà đầy bụi vì vắng người. Lại đang là mừa mưa, nên căn phòng có hơi lạnh thấm vào người. Tôi bâng khuâng mãi, rồi chợt khóc. Lát sau, tôi ra đứng ở cửa ra vào, nhìn lên gò đất cao ở gần cổng ra vào mà trước kia có bức tượng mẹ bồng con, mặc áo dài trắng. Nay bức tượng thánh JB.De La Salle và tượng Thành Nhân đã không còn, cây quỳnh hoa thì không để lại dấu vết, các cây trạng nguyên chỉ còn lại một vài cây xơ xác, không có hoa. Bồi hồi một lúc.Dĩ vãng quay về. Tôi nhớ người đã dựng nên ngôi trường này và một người anh em đã chung sống với tôi tại đây.

Người đã dựng nên ngôi trường mang tên Đại học Thành Nhân và đồi “Thành Nhân” này, là Sư huynh Mai Tâm. Ông là Tu sĩ Dòng La San Taberd, thường được biết đến qua thánh danh Frère Gagelin. Tiền thân của Đại học Thành Nhân là Viện Khoa học Giáo dục Sài-Gòn, cũng do Sư huynh Mai Tâm làm Viện trưởng.

Khi thành lập Viện Khoa học Giáo dục Sài-Gòn, Sư huynh Mai Tâm ra tờ Nguyệt san Giáo Dục, dưới danh nghĩa là Cơ quan ngôn luận của Hội Giáo chức Công giáo Sài-Gòn, Ông đã nhờ Cao Thế Dung giúp cho tờ báo, lúc đó đang dạy học tại Trường Taberd, trên đường Nguyễn Du, quận Nhất. Thực tế, ông Dung không phải là người thích hợp cho việc ngồi cả giờ hay cả buổi để đọc bản thảo và sửa bản in, nên ông đã giới thiệu tôi với Sư huynh Mai Tâm, để làm công việc này. Tôi được chấp nhận ngay, Sư huynh còn để cho tôi một phòng ở dưới nhà, cùng dẫy với Cao Thế Dung và gia đình người thư ký của trường.

Trụ sở của Viện Khoa học Giáo dục Sài-Gòn, sau này là Đại học Thành Nhân, đặt ở một cơ sở nghe nói trước kia thuộc về Dòng Phaolô, Nữ tu áo trắng, góc đường Nguyễn Tri Phương-Hùng Vương, quận 5 Sài-Gòn. Khi Sư huynh Mai Tâm về đây, ông đóng cửa ra vào phía đường Nguyễn Tri Phương, bên trong dựng một tượng đấng sáng lập dòng Lasan, đó là thánh J.B De La Salle. Dưới chân tượng, ông trồng cây quỳnh, một giống cây chỉ nở hoa vào đêm khuya có trăng. Một lần, chúng tôi thức mang cà phê ra đây uống, đợi trăng và đợi hoa quỳnh nở. Còn phía đường Hùng Vương, số 102, Sư huynh Mai Tâm mở cửa ra vào thật rộng, trông thẳng vào tòa nhà, chính là mặt trước của trường. Bên trong cửa, ông đổ đất cao, trồng cây nhỏ, cỏ và hoa trạng nguyên, lấy giống từ Nhật Bản. Trên gò đất này, gọi là “đồi” cũng được, ông dựng một bức tượng người mẹ Việt Nam, mặc áo dài trắng, bồng đứa con trên vai trái, tay phải nâng nhẹ bàn chân con, đầu bà nghiêng sát vào con, ngước mắt cao nhìn con trìu mến. Còn đứa con của bà, tay phải cầm một vòng hoa, giơ cao khỏi đầu, tay trái cũng ở tư thế nâng vòng hoa. Đó là vòng tượng trưng cho một nền giáo dục đào tạo con người thành nhân, chứ không phải thành ma quái hay “man dại” (mượn chữ của Đức cha Hoàng Đức Oanh, Giám mục Kontum trong bài: “Nền giáo dục nào đã đẩy “thơ bé” thành “man dại”, đăng tải trên trang báo mạng Nữ Vương Công Lý, ngày 3-10-2011.). Nhiều người đi xe qua, nhìn lên tượng Thành Nhân đều cúi đầu hoặc làm dấu Thánh giá, vì tưởng là Đức Mẹ Maria bồng Chúa Giêsu.

Trước bối cảnh của một khuôn viên Đại học như thế, hơn một năm sau ngày đổi chủ, Sư huynh Mai Tâm và gia đình Cao Thế Dung ra nước ngoài cũng đã hơn một năm, chỉ còn lại gia đình người thư ký và tôi.

Ngày tôi chưa đi làm ở đường sắt, bức tượng thánh JB.De La Salle và tượng Thành nhân trên gò đất hãy còn, một đêm mưa tôi không ngủ, thắp ngọn đèn dầu viết bài thơ sau đây:

TỪ VỰC SÂU
(Để nhớ Tiến sĩ Mai Tâm và Cao Thế Dung)

Đêm mưa trong khuôn viên
Ánh đèn soi tượng đá
Chừ cũng thấy ưu phiền
Cô đơn người xa lạ.

Ánh đèn lồng ánh nước
Cây lặng thinh nguyện cầu
Côn trùng lên tiếng hát
Nỉ non gọi đêm thâu.

Tí tách giọt mưa rơi
Như tiếng chuông gọi hồn
Từ vực sâu, vực sâu
Lòng buồn nhớ cố nhân.

Năm xưa còn quỳnh hoa
Trạng nguyên còn đua nở
Thành Nhân” đứng hiền hòa
Giờ tan hoang gẫy đổ!

Sài-Gòn 1976

Khải Triều


Tôi nhớ đến vợ và đứa con gái mới hơn 5 tuổi đầu, đang ở bên nhà ngoại nó, đường Ngô Quyền, quận 10. Từ ngôi trường này đến đó không xa, tôi muốn gặp vợ và con, song lại ngại ngùng, trời đang mưa. Nhà thờ Ngã Sáu (thánh hiệu là Jean d’Arc) phía sau trường, vừa đổ một hồi chuông mãn giờ kinh chiều. Tôi bỏ ý định về bên nhà mẹ vợ vì không muốn mang chiếc xe đạp và thân tôi thấm nước vào nhà. Tôi quay ra bếp nhóm lửa luộc mấy củ khoai mì. Đây là một phần lương thực được phát cho công nhân chúng tôi, vì thiếu gạo. Nhiều ngày, tôi phải nấu nước chín rồi bỏ vào đó những nắm bột, sau đó lấy ra chấm với nước mắm, ăn trừ cơm, trừ khoai. Ngay đến khoai lang cũng ít khi được cấp phát cho công nhân ra công trường như chúng tôi, nhiều nhất vẫn là những củ khoai mì đã rất già, phải cắt bỏ hai đầu. Tuy nhiên, có nhiều gia đình cán bộ chúng tôi đến sửa chữa nhà, trên các đường Phạm Ngũ Lão, Cao Thắng, Lý Thái Tổ, cảnh ngang trái, mỉa mai đập vào mắt chúng tôi, đó là những hạt gạo trắng hiếm hoi và quý đối với người dân, đã được cán bộ dùng để nuôi heo ngay trong phòng và ngay cả trên lầu. Heo ở với người, đi lại thong dong từ phòng tắm ra đến phòng ngủ ở bên ngoài.

Tôi đang rửa mấy củ khoai mì, chợt nhớ nồi nước đang ở trên bếp, tôi chạy vào cho thêm củi. Ngay sau đấy, tôi nghe có tiếng lịch kịch ở ngoài sàn nước bên cạnh bếp, ngăn cách bằng một tấm ván, tôi bước ra thì thấy một con chuột cống đang ở trong rổ khoai, thấy tôi, nó phóng nhanh ra, chui ngay xuống dưới sàn nước. Tôi vào trong bếp, con chuột lại ra cắn khoai. Có lẽ nó cũng đang đói bụng nên mới mạnh dạn như thế. Tôi lại ra đuổi nó đi. Tôi trở vào bếp, nhưng vừa quay lưng, con chuột lập tức lại mò lên phá rổ khoai. Lần thứ ba trở ra, tôi thay đổi thái độ, bằng cách ngồi xuống cạnh rổ khoai, tôi nhận ra cái lỗ hang chuột. Tôi nhỏ nhẹ nói với nó: “Này chuột ơi! Mày cầm tinh tao, nên chắc mày biết tao nghèo lắm mà. Chỉ có mấy củ khoai này thôi, lại còn sùng và già khằn nữa, tao đành phải ăn vậy. Mày sang cái nhà lầu phía trước kia kìa, nhà của một ông đại tá cơ đấy, chắc là họ có cái cho mày ăn.”

Nói xong, tôi quay vào bếp với nồi nước đang luộc mấy nắm bột mì, dùng cho bữa ăn trưa ngày hôm sau tại công trường, ga Sài-Gòn. Lần này tôi không nghe tiếng lịch kịch nữa. Một lát sau trở ra, tôi cắt bỏ hai đầu khoai và những chỗ hư, bỏ ngay ở miệng hang chuột. Tôi nói: “Này chuột ơi! Đây là phần của mày, lên mà ăn nhé.”

Ăn xong bữa tối với mấy củ khoai mì chấm muối, tôi ra sàn nước, nhìn xuống cái hang chuột, những mảnh vụn khoai mì vẫn còn ở miệng hang. Tôi thân mật nói: “Ăn đi chuột ơi, tao cho mày mà”. Nói xong tôi vào nhà nằm nghỉ. Trước lúc đi ngủ, tôi ra sàn nước nhìn xuống miệng hang thì những mảnh vụn khoai mì không còn nữa. Như vậy là con chuột ấy đã nghe được tiếng nói của tôi phát ra từ con tim, từ một tấm lòng chí thành. Cũng từ buổi tối hôm đó, căn nhà tôi không thấy một con chuột nào nữa.

@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 13.7.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn