Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Cổng vào đền thờ sư bà
Ngọc nữ Đại vương Mai Thị Triều




Bài Văn Bia Hào Khí






Những ngày Hà Nội sục sôi, Tiến sĩ Hán Nôm Mai Hồng dành nhiều thời gian đến các trường Đại học tại Hà Nội trò chuyện với sinh viên về tấm bản đồ mang tên “Hoàng Triều Trực Tỉnh Địa Dư Toàn Đồ” của nhà Thanh 1904 mà ông cơ may có được, đã dâng Nhân dân- Tổ quốc Việt Nam.

      Đây là Tấm bản đồ của Trung Quốc khẳng định chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. (Quốc gia hữu sự, Sĩ phu hữu trách (Mai Thục- Việt Văn Mới).
      Chí khí cao cường, hun đúc một đời, Mai Hồng làm việc không ngưng nghỉ. Ông hiến dâng tài năng Tâm Đức của mình, gửi con cháu Việt.
       Những tác phẩm của Mai Hồng mang giá trị Văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại, là những tư liệu quý.
Mai Hồng vừa soạn thảo bản văn bia về sự kiện tân tạo lăng mộ sư bà Mai Thị Triều tại Làng Mai- huyện Tĩnh Gia- Thanh Hóa.
Bản văn bia được Mai Hồng soạn thảo bằng chữ Hán theo đúng lối văn bia cổ của cha ông. Văn bia một chữ, một câu đều lưu truyền vạn thuở, nên T.S Mai Hồng đã cẩn trọng, trân quý mời Lão Nho uy danh ở thôn Động Trung- xã Vũ Trung- Kiến Xương- Thái Bình Nguyễn Tiến Đoàn nhuận sắc.
Cụ Nguyễn Tiến Đoàn đồng tình với văn phong cổ và chữ Hán chuẩn mực của Mai Hồng. Cụ nhận xét đây là một bản văn bia mang giá trị Văn hóa truyền thống Việt, tràn hào khí Hai Bà Trưng và dòng họ Mai, kết nối hiện đại.
Mở đầu Văn bia ghi ân “Trời sinh hiền tài”, Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh… tỏa hào khí, sinh các tài nữ đời sau.
Văn bia kể chuyện cuộc đời Thượng đẳng Tôn Thần sư bà Mai Thị Triều trong cội nguồn gốc rễ những tài nữ họ Mai trên vùng đất Hoan Châu. Câu chuyện tình của Mai Thị Triều với Chúa Trịnh Tráng, lay động lòng người. Một chuyện tình hướng thượng, cao cả “Tiên Thánh Tiên Thần” nảy nở sức mạnh hiến dâng, Đông Tây Kim cổ chưa từng thấy:
Tấm thân dâng nước ghi huyền sử
Tình vương tâm sự đọng ly quỳnh
    Phần kết Văn bia ghi công đức đại tá Mai Trung Nghị, cháu trực hệ của sư bà, sau những tháng năm đi đánh giặc trở về làng Mai, dồn tâm đức xây lăng mộ Sư bà Mai Thị Triều, giữ hào khí thanh cao, truyền dòng họ và dân làng.
Văn hóa truyền Thống Việt Nam, đời nối đời bất diệt, bởi thời nào cũng có những sĩ phu Tài Đức, Tâm huyết và những người con luôn ghi ân, kết nối nguồn gốc dòng họ, Tổ tiên như Mai Hồng và Mai Trung Nghị.

(Mai Thục giới thiệu)
Mai Hồng (Dịch nghĩa):

BÀI KÝ BIA VỀ SỰ KIỆN TÂN TẠO LĂNG MỘ CỦA
SƯ BÀ NGỌC NỮ ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG TÔN THẦN
MAI THỊ TRIỀU

Người xưa có câu: Trời sinh ra người hiền tài để ứng cho đời, thần ban phúc cho dân. Nguồn ơn bể ngãi của Hai Bà Trưng trùm lên cả chín châu bốn cõi, đức độ uy phong của bà Triệu Trinh nương chói lói khắp hai châu Hoan Ái. Âm thanh của đồng đá bao đời soi rọi hậu thế mà những tài nữ đời sau trỗi lên vậy.
Một người con gái làng Mai xã Hào Môn huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia trấn Thanh Hoa (tên Thanh Hóa thời xưa), Mai Thị Triều một phụ nữ tài sắc đoan trang, xuất thân từ một gia tộc trâm anh, danh gia vọng tộc nổi tiếng lâu đời ở đất Ái Châu có nguồn gốc từ đất Chi Nga - Nga Sơn với huyền thoại Mai An Tiêm trồng dưa hấu như lời văn bia “Đại Vương tôn nữ Sư Bà, Ngọc Nữ miếu bi”, dựng vào năm Hoàng triều Cảnh Trị thứ nhất (1663) nhận định Sư bà họ Mai là dòng dõi nổi tiếng, mang trâm hốt cửu phiệt1 của triều đình”.
Ở Nga Sơn nguồn cội quê bà có bà Lê Thị Hoa (vợ ông Mai Tiến) một nữ tướng lừng danh cùng với bốn người con trai đi theo Bà Trưng đánh đuổi Thái thú Tô Định vô cùng tàn ác, bạo ngược của nhà Đông Hán ngay từ những năm đầu công nguyên. Bà Lê Thị Hoa và ông Mai Tiến là Thủy tổ của dòng họ Mai ở thôn Trị Nội, xã Nga Thiện, Nga Sơn. Ở đó ngày nay vẫn còn đền miếu thờ ông bà và các con trai của họ và vẫn có khói hương nghi ngút.
Bà Chiêu nghi Mai Thị Ngọc Tiến đứng đầu hậu cung trong phủ chúa Tây Vương Trịnh Tạc (1657-1682). Bà là Bảo mẫu của chúa Khang Vương Trịnh Căn (1682-1709). Bà còn có công cứu dân làng thoát khỏi cơn hoạn nạn tuyệt diệt. Nhân dân nhớ ơn dựng đền lên thờ, đế vương các triều phong sắc cho làm phúc thần. Nay ở làng Hậu trạch tại ngôi miếu thờ bà vẫn sầm uất ngạt ngào mùi thơm hương khói mỗi ngày.
Cùng với bà Lê Thị Hoa và bà Chiêu Nghi ở Nga Sơn vẫn còn nghe tiếng tăm của những nhân vật lịch sử lừng danh thần văn tướng võ của dòng họ Mai tại làng Trị Nội Nga Thiện, Hậu Trạch, Văn Lâm. Tiến sĩ Mai Thế Chuẩn làm quan đến chức Tế tửu trường Quốc tử giám, Đốc trấn 5 tỉnh (Tuyên Quang, Sơn Tây, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn), Thám hoa Mai Anh Tuấn làm quan đến chức Thị độc Học sĩ, rồi thăng lên Trực Học sĩ, Án sát tỉnh Lạng Sơn. Ông đánh giặc đến hơi thở cuối cùng vẫn không rời trận địa (liệt sĩ), hiện có miếu thờ tại quê nhà Thạch Giản, Nga Sơn. Có lăng mộ và đường phố mang tên Mai Anh Tuấn ở phường Hoàng Cầu, quận Đống Đa, Hà Nội.
Lại nói về tôn thần Sư Bà - Ngọc Nữ Mai Thị Triều, bà vốn là tiểu thư xuất thân từ một gia tộc quan lại lớn trong các triều đình phong kiến nước ta. Cha là một hầu tước có danh vọng của triều đình nhà Lê Trung hưng Thọ Phúc công, nhưng bà vẫn giữ được các phẩm hạnh đôn hậu, nhu mỳ, trinh tiết nết na của người phụ nữ Việt Nam. Đặc biệt là lòng thương những người có hoàn cảnh nghèo khó, hoạn nạn là vô bờ bến. Tương truyền có thời ở quê bà gặp nạn thiên tai, dân làng đói khát, nạn trộm cướp thường xẩy ra liên miên không ai chế ngự được. Sư bà lo lắng xin cha đem thóc gạo của nhà cứu dân làng khỏi đói, lại cắt bớt ruộng lộc điền của cha phát cho người nghèo thiếu ruộng cày cấy, thu nhẹ lấy một phần tô tức nộp vào quỹ công ích của làng. Đến khi đất nước có chiến tranh, quân đội thiếu lương thực để đánh giặc, bà bàn với cha đem thóc gạo của nhà ủng hộ, khi quân lính đánh giặc bị thương đau yếu, cha con cũng tự tay ra sức cứu chữa thuốc thang. Chúa Trịnh Tráng (1623-1657) mến tiếng muốn vời vào cung để sớm hôm đỡ đần bên mình. Bà vui vẻ nhận lời nguyện làm bạn tri âm cùng chúa, nhưng không vào cung, bởi vì bà đã sớm nặng lòng với con dân làng của bà, còn bao người đói cơm rách áo, không được học hành, ốm đau không được chạy chữa thuốc thang. Nghe lời dãi bày của bà, chúa Vương không khỏi xúc động bùi ngùi nể phục mà thảng thốt lên lời: “Nàng quả có tấm lòng thương người chẳng khác gì hai nàng Ái phi Nữ Anh và Hoàng Nga của vua Thuấn con gái vua Nghiêu bên Tầu thời Thượng cổ”.
Ngài chần chừ trong giây lát, rồi cũng thuận tình cho bà ở lại quê để bà chăn dắt con dân của bà theo sở nguyện. Chúa phải nể lòng chấp nhận cùng bà kết ngãi vợ chồng Tiên Thánh Tiên Thần, phá cách thói tục trần gian mà vẫn vui lòng và hân hạnh. Kíp khi bà mất dân làng làm sớ tâu về triều, vua liền phong cho bà làm phúc thần thượng đẳng cùng nhiều mỹ hiệu: Sư bà Huyên Từ - Ngọc Nữ, Mẫu Hương Phu Nhân. Nhà vua lại hạ sắc chỉ cho dân làng Mai xây miếu trên núi Ngọc Nữ, bức hoành biển (hoành phi) đề 4 chữ lớn là “Vi chúng nhân Mẫu”.
Tới đời vua Lê Cảnh Trị thứ 4 (1666), vua lại sai dựng bia kỷ niệm. Người đời sau tặng đôi câu đối thờ về cuộc tình duyên thanh cao đẹp đẽ và khúc triết giữa bà với Chúa Vương họ Trịnh mà cổ kim đông tây chưa từng thấy bao giờ:
Tấm thân dâng nước ghi truyền sử
Tình Vương tâm sự đọng ly quỳnh.
Truyện về ông Mai Trung Nghị người cựu chiến binh thân kinh bách chiến vào sinh ra tử, bàn chân ông in dấu khắp các chiến trường gian lao đánh Mỹ, khi ra Bắc lúc vào Nam, vừa ở chiến trường Lào, thoắt sang cùng dân Khơ me đánh trận. Từ một anh bộ đội binh Nhì, binh Nhất, trở thành anh chỉ huy, Viên Tư lệnh, người chính trị viên, thăng lên ông Chính ủy. Chẳng nề nhiệm vụ nào ông cũng hoàn thành xuất sắc. Nhà nước phong quân hàm Đại tá, Phó Tổng Thanh tra Tổng quân ủy - Một chức vụ tỏ rõ uy danh và trọng trách… Đến nay ông đã nghỉ hưu về làng Mai, tỏ rõ lòng chí hiếu với tổ tiên, với dân làng, ông nâng niu trân trọng những di tích lịch sử văn hóa của làng xóm quê hương, mang hết tài sức để tôn tạo đền thần chùa Phật thờ thần thờ Phật, nhà thờ phụng sự ông bà cha mẹ. Nghe tin ông có kế hoạch tân tạo lăng mộ Sư bà, tôi tức tốc cùng hai vị môn đệ về làng mai tìm gặp, ông cho biết có kế hoạch tân tu lăng mộ Sư Bà dự định trong 5 năm (2010 – 2015) và cho xem thiết kế xây dựng theo phương thức “Thượng sàng hạ mộ” tám mái đầu đao, cột cái, cột quân, án thư, các con linh vật thờ: con voi, con ngựa, con sấu, con nghê, hiên thềm bia kỷ niệm, đỉnh thiêu hương… kinh phí ước chừng trên dưới bốn tỷ đồng, mình ông tự xoay xỏa. Tôi khâm phục đức tính quả quyết của ông, song không khỏi băn khoăn về tính khả thi của công trình. Từ đấy, tôi với ông thân thiết như anh em, nhưng tôi chỉ có tấm lòng. Ông hiểu rõ điều đó mà chỉ yêu câu tôi sử dụng văn tự Hán Nôm để viết các câu đối, hoành phi và soạn bài ký bia về sự kiện tân tu lớn lao này, khi công trình được hoàn thành. Thấm thoát dự án đã bước vào năm thứ ba. Ông một chốn đôi quê, gia đình vợ con ở Hà Nội, công việc tu bổ tận quê làng Mai, cách trở hơn hai trăm cây số, sớm từ Hà Thành ra đi, chiều về ở Tĩnh Gia cố quán, con thoi đôn đáo, đi về tổn sức hao tâm, chỉ một tấm lòng hiếu với tổ tông suốt ba năm dòng, bằng ý chí, nghị lực phi thường, quả quyết miệng nói tay làm, đôn đốc thợ thuyền, tự tay chấn chỉnh mực thước, không một phút lơi lỏng, để đến ngày 22 tháng 9 năm Nhâm Thìn (tức ngày 5/11 năm 2012) đoàn đại biểu Ban liên lạc họ Mai toàn quốc về đây để làm lễ dâng hương trước anh linh Sư Bà, được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc to cao và cổ kính như một đóa hoa sen khổng lồ vừa hoàn thiện, sừng sững tọa lạc trên mảnh đất có tiếng địa linh của ấp Mai trang Tĩnh Gia này. Mọi người trong đoàn đều hết sức vui mừng và tấm tắc “Hoan nghênh ông Mai Trung Nghị, từ nay Sư Bà đã có lăng mộ to đẹp để hàng năm con cháu họ Mai ở mọi miền đất nước đi về thăm viếng tiên nhân. Đó là nhờ công lao vô cùng to lớn của ông. Ông là người vừa có hằng sẳn, lại có dư hằng tâm. Khi ở thời tráng niên ông làm những việc tận trung với nước, nay tuổi đã cao về quê trí sĩ ông lại tận hiếu với tiên tổ, làng nước nhân dân, gia tâm tu tạo các công trình văn hóa lịch sử: thần từ, Phật tự, thờ thần Phật; từ đường phụng sự tiên tổ mẹ cha. Người có đức hiếu trung như ông thì ở thời nào cũng đáng trân trọng tôn thờ. Tôi chép lời bàn của các vị đại biểu đem tạc khắc vào bia đá cứng để lưu truyền muôn thuở về sau. Hy vọng hậu thế nếu có ai đến thăm viếng lăng miếu này, bước lên thềm đá, đi vào trong cung, đọc văn bia này, tất sẽ khiến tăng niềm tự hào, lại càng kính cẩn và ngưỡng vọng ân đức cao sâu của tổ tiên họ bội phần vậy.
Ngày tháng trọng đông năm Quý Tỵ
Cháu xa Tiến sĩ Mai Hồng kính cẩn vâng soạn.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 07.7.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn