TÁC GIẢ
TÁC PHẨM







. Tên thật : Trần Thị Thu Vân .
. Chào đời tại Huế, lớn lên tại Sài Gòn.
. Trước 1975 sinh sống tại Đà Lạt.
. Hiện đang ở San José, Californie, USA.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN

. Nước Chảy Qua Cầu (Bút Ký)
. Gã Cùi và Miếng Dừa Non (tập truyện)
. Một Truyên Dài Không Có Tên (I, II - tâm bút)
. Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau (I, II -tự truyện)
. Tài Hoa Mệnh Bạc (I, II, III, biên khảo tiểu sử danh nhân)
. Trần Sa (tự truyện)
. Tài Hoa và Cô Đơn Như Một Định Mênh (tuyển tập tâm bút)
. Con Tằm Đến Thác Vẫn Còn Vương Tơ (tuyển tập tâm bút)
. Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga (I, II, tuyển tập tâm bút)
. River of Time (bản Anh ngữ của Nước Chảy Qua Cầu, Trần Thy Hà chuyển dịch)














Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ






(Trích "NƯỚC CHẢY QUA CẦU" )


Nếu còn đi hoài, biết đi về đâu?





"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."




TỰA

Từ những ngày tháng mà cuốn bút ký Nước Chảy Qua Cầu chưa có tên gọi và còn là bao mẩu tâm sự, bao suy nghĩ, cảm xúc trùng trùng của kỷ niệm được ghi nhận lại bởi từng mảng thời gian bềnh bồng trôi giạt, tôi đã đắm chìm trong một không khí huyền hoặc, mê say và cảm động qua lời kể của Trần Thị Bông Giấy về đoạn đời năm năm phiêu bạt của nàng trong tư thế một nghệ sĩ vĩ cầm của một đoàn Cải Lương lưu diễn đó đây trên khắp quê hương, từ sau tháng 11/1975.

Tất cả những điều được kể hoàn toàn là chuyện thật, tại sao lại tạo ra được cái không khí huyền hoặc mê đắm đó? Đất nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh dài, tình trạng hỗn mang dâu biển bủa lên mọi cảnh đời. Nhưng trong mắt nhìn từ một tâm hồn mong manh mà hùng tráng của người nghệ sĩ, và xuyên qua những hỗn mang dâu biển đó, Trần Thị Bông Giấy đã nhận ra một thứ hạnh phúc thật kỳ dị: “Ly cà-phê sáng ở một thị xã buồn tênh xa lạ như là một miền cuối cùng của trái đất. Những bữa rượu nửa đêm về sáng sau giờ trình diễn với các người bạn nhạc sĩ khác trong đoàn. Bà cụ già bất hạnh bê từng hũ rượu đi bán dạo. Phiên chợ âm hồn bắt đầu họp vào lúc nửa đêm nơi một làng quê Việt Nam. Người bạn cũ gặp lại trong một thị trấn buồn tênh xa lạ. Người đàn ông ngồi uống rượu một mình trong không gian mờ ảo của chiếc quán khuya, bối cảnh thời đại như nhuộm lên thân hình ông sự cô đơn khốc liệt của một kiếm khách trên đường gió bụi...”

Mỗi mẩu chuyện là một viên ngọc đối với Trần Thị Bông Giấy. Gom tất cả những viên ngọc đó lại, Trần Thị Bông Giấy làm thành xâu chuỗi ngọc khác thường cho chính mình. Bởi đó, khởi đi từ những tâm sự được kể, những kỷ niệm nuối tiếc được nâng niu, tôi đã đề nghị Trần Thị Bông Giấy viết lại thành một quyển sách, một quyển bút ký. Biết đâu lại chẳng có người cũng muốn được chia xẻ với tác giả những hình ảnh, những mẩu chuyện tuy rằng đã có sẵn, luôn hằng hằng rải rác trên khắp cùng sông nước Việt Nam, nhưng cho dù đã sinh ra và lớn lên ngay trên quê hương mình, chắc hẳn trong chúng ta mấy ai đã được nghe, được thấy? Nhất là nghe, thấy từ vị trí một người nghệ sĩ phiêu bạt từ sau cuộc biến động lớn của quê hương?

Thời gian trôi đi. Đời người trôi theo dòng thời gian để mà lạc loài đến những không gian cũng biến động trong từng giây từng phút. Tương quan giữa con người với con người, giữa con người với thời gian và không gian thật là chặt chẽ. Đó là sự cùng trôi đi và mất tăm. Như nước chảy qua cầu. Tôi nghĩ, viết quyển bút ký này, Trần Thị Bông Giấy trước hết muốn giữ cho chính nàng, muốn làm không gian và thời gian ngưng đọng lại, để trong không gian và thời gian đó vẫn còn nguyên những người, những cảnh, những chuyện của kỷ niệm hiện tại và của cả một đời. Vì thế, văn chương không phải là mục tiêu khởi đầu của Nước Chảy Qua Cầu, của Trần Thị Bông Giấy. Văn chương chỉ tự nó thành tựu ở lúc tâm sự, kỷ niệm được tác giả viết xuống thành chữ, thành câu, sau khi đã là những chuyện kể. Những chuyện kể bềnh bồng trôi giạt...

Trần Nghi Hoàng

4 giờ sáng ngày 12 tháng 8 năm 1989

INTRODUCTION

The United States has gone through many stages in its attempt to come to terms with the legacy of the Việt-Nam War. In the immediate aftermath of the war, there was disbelief, anger, fingerpointing and grief. Then, for a while, there was silence. The pain of confrontation was repressed, delayed --but it could not be eliminated.

In order for healing to take place, we had to begin the processes of both individual soul-searching and a collective national conversation on Việt-Nam.

First in a trickle, then a torrent, writers and filmakers began to struggle with the issue of the war. Particularly through the medium of film, the issue was once again raised in public consciousness. The silence was replaced by dark, often wrenching films, The Deer Hunter, Coming Home, Platoon, Full Metal Jacket, each in their own way trying to struggle with the meaning of the war and its aftermath. For the most part, however, the pens and the cameras have belonged to Americans. We have never really heard the stories, the poems, and the cries of the Vietnamese people. As great a physical and psychic toll as the war took on the United States, the suffering of the Vietnamese was immeasurably greater. Its land, the precious earth from which the Vietnamese draw food and strength, is still pock-marked with craters, filled with mines and slowly recovering from the assault of poisons. Over a million people, many of them noncombatants, were killed. Prosthetic limbs are a common sight. And yet we have not really heard the people of Việt-Nam speak.

There is still another problem. To most Americans, "Việt-Nam" means "The Việt-Nam War". Because Việt-Nam has always been an object to us, a painful part of our story, its relevance is usually seen in terms of the twenty years of violence and mutual distrust that marked the relationship from the 1950's to the 1970's.

However, even if we see Việt-Nam simply in terms of war, we must realize that the Việt-Nam war was a war that extends back to the 50 years struggle with the French that began in the mid-19th century, and still further back to Việt-Nam's ongoing attempt to preserve its own identify in the face of a Chinese influence that was, by turns, philosophical, political, cultural and often military. In the words of one scholar, it has been a "2,000 year struggle".

Although war has had an enormous impact on Việt-Nam, Việt-Nam is much more than a battleground, a fact that many Americans are only beginning to discover. It is a country with a history of its own, a culture that has produced beautiful poetry and literature, and as we learn from the author, a musician able to bring notes to life through written words, rich traditions of music and opera.

Việt-Nam is also land, rice paddies and bustling cities, farmland and villages. And most of all, it is its people. People who are both in Việt-Nam rebuilding their country and their lives; and people who are scattered across the globe feeling, in varying degrees, either like citizens of new lands or an exiled people still waiting to return home. In order to understand, we must begin listening to their voices. Trần Thị Bông-Giấy's is a beautiful voice with which to begin this journey. Her perspective is shaped by time spent in three places, three cultures intertwined in a tragic story, now struggling to find reconciliation, Việt-Nam, France and the United States. Trần Thị Bông Giấy is an author who doesn't spend much time on explicit political statements, diatribes, arguments or theory. She is very much a writer of the particular and concrete, not the general and abstract.

Here is an intimate journal of meals shared and concerts remembered, of conversations, images, personal encounters --open this journal and both Việt-Nam and France come to you in all of their sights, sounds, textures and smells. She brings to us numerous people whose lives have been shaped, in many different ways, by the conflict. We see connections being made across cultural boundaries just as we see the divisions that still exist within them --Vietnamese, like Americans, still split passionately over the war. Her diary is filled with stories and characters that stay with the reader long after the book is put away.

The author's experience of Việt-Nam is particularly revealing, for she is describing the world she was away from for years and then returned to. There is an extra vividness that comes out of seeing one's old home with new eyes --it makes the experience both richer and more painful. But there are really two journals here --for she not only shows us Việt-Nam through the eyes of one who has returned, she also gives to us the experience of a Vietnamese making a life in Europe.

The author's personality shines through in the book. She is a fiercely proud and deeply sensitive woman; she is a person of tradition facing a world of change and uncertainty. Above all, she is an artist, and her words can be so lyrical that the line between prose and poetry begins to disappear.

In conversation, as in music, it is often the quiet but strong voice that holds one's attention. Trần Thị Bông Giấy's is such a voice. Slowly, through a moving story or memorable character here, a reflection on a poem or thoughts about an opera there, the motifs are woven; the piece comes together as a whole. The effect builds up as you keep reading, until you feel you have come to know this person and her country better.

True understanding can never occur between a subject and an object. It only emerges between two subjects. In order to understand the Vietnamese people, people whose lives are intertwined with ours, we must not simply talk about them --we must genuinely listen to them. We are very fortunate, then, that Trần Thị Bông Giấy's book has been translated into English-- and that the translation was done with such skill and sensitivity by her brightest former piano student, a twenty-year-old who is so close to her –Trần Thy Hà.

The book teaches us again an important lesson about literature --that while it is always about the unique and particular, it also speaks universally to all human beings; for in the voice of another, we hear back, in a new and powerful way, our own speaking about loss, struggle, and hope.

MARK BERKSON

PhD., University of San Francisco

SF. May 1998

LỜI GIỚI THIỆU
(TTBG chuyển ngữ)


Nước Mỹ trải qua nhiều giai đoạn trong sự cố gắng đặt để một thỏa thuận liên quan tới cuộc chiến Việt Nam. Trong cái hậu quả tức thời của chiến tranh, đã xảy ra rất nhiều những nỗi hoài nghi, giận dữ, đổ thừa và đau khổ. Sau đó, trong một lúc, là sự yên lặng. Nỗi đau đớn chạm trán được kềm nén, chậm hoãn -nhưng không phải là loại bỏ.

Để hàn gắn những mất mát thua thiệt tạo ra từ sau cuộc chiến, chúng ta phải bắt đầu tìm hiểu về cả hai phía tâm hồn cá nhân và những đàm luận chung trên vấn đề VN.

Thoạt tiên, với một tia nhỏ, và rồi cả một dòng nước lũ, những nhà văn và những đạo diễn khởi sự vùng vẫy với đề tài chiến tranh Việt Nam. Đặc biệt, qua môi trường phim ảnh, cái đề mục này lần nữa dậy lên trong ý thức hiểu biết quần chúng Mỹ. Sự im lặng được thế chỗ bằng những cuốn phim bi quan, đen tối, thường xuyên bóp méo sự thật (như The Deer Hunter; Coming Home, Platoon, Full Metal Jacket...) theo một đường lối riêng để cố gắng trình bày về chiến tranh Việt Nam và cái hậu quả của nó. Tuy nhiên phần lớn, những cây bút và phim ảnh đều thuộc về phía người Mỹ. Chúng ta chưa bao giờ thực sự được nghe những mẩu chuyện, những bản văn và tiếng kêu gào của người Việt Nam. Mọi thống khổ về thể chất và tâm lý do chiến tranh gây ra cho nước Mỹ thật sự đã không thể so sánh với những thống khổ mà người dân Việt Nam đã phải nhận chịu. Xứ sở của họ, vùng đất yêu dấu mà họ đã rút ra thực phẩm và sức mạnh thì vẫn còn bị rỗ hoa với các hố bom đại bác, những mìn đạn; và đang chậm chạp phục hồi từ sau các cuộc tấn công của chất độc.

Hơn một triệu người Việt Nam --trong số có rất nhiều người không từng tham gia quân đội-- bị giết. Những tay chân nhân tạo được lắp ráp là một cảnh tượng rất thường. Dù thế, chúng ta chưa từng thực sự được nghe tiếng nói của người Việt Nam về những điều như thế. Hơn nữa, lại còn có một vấn đề khác. Với đa số người Mỹ, “Việt Nam” có nghĩa là “Chiến Tranh Việt Nam”, bởi vì Việt Nam luôn luôn là một đối thể của chúng ta, một phần đau khổ của lịch sử nước Mỹ, biểu tượng bằng hai mươi năm chiến tranh dữ dội và sự ngờ vực lẫn nhau, xảy ra từ thập niên 50 tới thập niên 70.

Tuy nhiên, nếu chỉ đơn giản nhìn về Việt Nam qua hai chữ chiến tranh thì chúng ta phải nhận thực rằng cuộc chiến ấy đã kéo dài từ trước trong suốt 50 năm chiến đấu với người Pháp vào giữa thế kỷ 19, và còn lùi xa hơn trên những cố gắng duy trì các đặc tính riêng của nó trong sự đương đầu với ảnh hưởng Trung Hoa lần lượt trên đủ mọi mặt triết lý, chính trị, văn hóa và thường xuyên là quân đội. Theo lối nói của một học giả thì đó là một “cuộc chiến dài hai ngàn năm.”

Dù rằng chiến tranh đã gây nên một ảnh hưởng rất lớn trên Việt Nam thì đó không chỉ là một bãi chiến trường thôi mà còn là một nơi chốn lôi cuốn sự khám phá của rất nhiều người Mỹ. Một xứ sở với một lịch sử, một nền văn hóa riêng đã sản xuất ra những vần thi ca, những áng văn chương đẹp và những truyền thống phong phú về âm nhạc, kịch nghệ; điều mà chúng ta đã biết từ tác giả, một nhạc sĩ có khả năng mang những note nhạc vào đời sống qua ngã văn chương. Việt Nam cũng còn là một vùng đất với những ruộng lúa, những thành phố náo nhiệt, các nông trại và các làng xóm. Nhưng hơn hết, là con người Việt Nam. Những con người ở cả hai phía đang xây dựng lại quê hương và đời sống họ ngay trên xứ sở, và những con người tản mác ra trên toàn thế giới ở nhiều mức độ khác nhau, sống, như những công dân của vùng đất mới hoặc như những kẻ bị lưu đầy đang chờ đợi ngày trở lại quê hương. Để hiểu họ, chúng ta phải lắng nghe tiếng nói họ. Tiếng nói Trần Thị Bông Giấy là một tiếng nói đẹp biểu tượng qua cuốn bút ký này. Cái nhìn của tác giả được gọt bén bởi thời gian trải qua trên ba vùng đất -Việt Nam, Pháp và Mỹ-; ba nền văn hóa cuộn lẫn vào nhau, bây giờ đang tranh đấu để kiếm tìm một sự hòa hợp, qua một tác phẩm xúc động.

Trần Thị Bông Giấy đã không phí nhiều thì giờ trên những vấn đề về chính trị, những lời công kích dữ dội, những bàn cãi hay lý thuyết; mà chính là một nhà văn của sự thực tiễn và rất đặc thù, chứ không là của sự trừu tượng mơ hồ và đại thể.

Đây là một cuốn nhật ký thân mật nói về các bữa ăn được chia xẻ với nhau, những ký ức gợi lại theo các cuộc trình diễn, các mẩu chuyện trao đổi, các hình ảnh và các cuộc gặp gỡ cá nhân –mở cuốn bút ký này ra, cả hai vùng trời Việt Nam và Pháp cùng hiện ra trước mắt bạn với tất cả mọi cảnh tượng, những âm thanh, những xếp đặt và mùi vị của chúng. Tác giả đã mang đến cho chúng ta hàng loạt con người mà đời sống họ đã được va chạm và hình thành trong nhiều đường lối. Chúng ta nhìn thấy những liên hệ được cấu tạo suốt qua các ranh giới văn hóa, như thể nhìn thấy những phần đoạn còn tồn tại bên trong con người họ –người Việt Nam, cũng như người Mỹ, vẫn bị phân hóa một cách sôi nổi theo đề tài chiến tranh. Dầu vậy, cuốn bút ký Nước Chảy Qua Cầu với đầy những câu chuyện và các nhân vật sẽ lưu lại lâu trong lòng độc giả sau khi cuốn sách đã được gấp.

Những hiểu biết của TTBG về Việt Nam thì rất đặc sắc bởi vì tác giả đã trình bày một nơi chốn đã lìa bỏ nhiều năm rồi mới trở lại với nó. Có một sự sống động cực độ của một con người trong cái nhìn mới về một quê hương cũ-- điều vừa tạo thành cho tác giả một sự hiểu biết phong phú, đồng thời cũng là nỗi đau thương càng mạnh mẽ hơn. Ở đây, thực sự là có hai cuốn bút ký –bởi vì tác giả không chỉ phơi bày một nước Việt Nam qua đôi mắt của một kẻ đang trở về chốn cũ, lại còn cho chúng ta những hiểu biết về một công dân Việt Nam đang chấp hành một cuộc sống mới ở Âu Châu.

Cá chất nhà văn sáng tỏ suốt qua tác phẩm. Tác giả là một người cực kỳ kiêu hãnh và rất nhậy cảm. Một phụ nữ Việt Nam truyền thống đối diện với một thế giới đang thay đổi và không chắc chắn. Trên tất cả, Trần Thị Bông Giấy là một nghệ sĩ, và chữ nghĩa được dùng trữ tình đến độ những hàng viết giữa văn chương và thi ca biến mất cả đi.

Sự đối thoại trong văn chương –cũng giống như trong âm nhạc- đã thường xuyên có ẩn chứa một tiếng nói câm lặng nhưng rất mạnh mẽ, nắm bắt sự chú ý của độc giả. Tiếng nói của Trần Thị Bông Giấy đúng là tiếng nói như thế.

Dần dà, chỗ này là một câu chuyện cảm động hay một gợi nhớ về một nhân vật, chỗ kia là sự trầm ngâm suy nghĩ theo một bài thơ hay một buổi trình diễn nhạc kịch..., những chủ đề cứ thế đan thắt vào nhau, những mảnh đoạn cứ vậy kết hợp với nhau thành là một. Cái hiệu quả này cứ dâng lên mãi khiến bạn không thể ngừng đọc cho đến khi hiểu được rõ ràng về tác giả và xứ sở Việt Nam.

Sự thấm hiểu không bao giờ có thể xảy ra giữa một đối thể với một chủ thể, mà chỉ là giữa hai chủ thể. Để hiểu thực sự về người Việt Nam, những con người mà cuộc sống của họ đã từng cuộn quấn vào với chúng ta, chúng ta không thể chỉ trình bày đơn giản về họ, mà còn phải nghiêm trang lắng tai nghe họ. Với điều này, chúng ta đã rất may mắn bởi vì tác phẩm đã được dịch sang Anh ngữ một cách khéo léo và đầy xúc cảm bởi người học trò dương cầm sáng giá nhất của tác giả, một thiếu nữ 20 tuổi rất gần gũi với tác giả -Trần Thị Như Hà.

Tác phẩm đã dạy cho người Mỹ chúng ta một bài học quan trọng lần nữa về văn chương –cái điều không phải chỉ nói về sự đặc thù hay cá biệt thôi, mà còn trình bày rộng rãi ra với tất cả mọi người-- bởi vì từ tiếng nói kẻ khác, chúng ta có thể nghe lại được, bằng một đường lối mới hữu hiệu hơn, tiếng nói của chính chúng ta về sự thua thiệt, đấu tranh và niềm hy vọng.

MARK BERKSON

Tiến sĩ, Ðại học San Francisco.

San Francisco, May 1998.


BÀI 2


II.

Biểu diễn ở Bastogne (Belgique).

Bastogne là một trong năm quận chính của tỉnh Luxembourg, miền Đông-Nam nước Bỉ, nằm trong vùng Ardennes, sát biên giới nước Lục Xâm Bảo.

Thời Đệ II Thế Chiến, từ tháng 5/1940, Ardennes được dùng là cửa ngõ chiến lược của Đức để tràn xuống các vùng Tây Âu. Tháng 12/1944, trước sức tấn công vũ bão của quân đội Đức trên toàn vùng Ardennes, tướng Eisenhower(1) đã tung Sư đoàn Không chiến 101 vào Bastogne. Sư đoàn này ở lại chống cự từ ngày 21 đến 26/12/1944. Ngày 27/12/1944, những chiến xa của Sư đoàn III do Tướng Patton(2) cầm đầu đã đánh tan những chiến đoàn bọc giáp sắt của Thống Chế Von Rundstedt(3), tái lập lại liên lạc với những người trong quân đội Đồng Minh hiện đang bảo vệ Bastogne.

Trận đánh dữ dội ở Bastogne là trận đánh quyết định, được sử dụng toàn những chiến đấu cơ, thiết giáp xa hạng nặng; và chấm dứt vào ngày 1 tháng 2/1945. Chiến thắng Bastogne được kể là sự mở màn cho các trận thua liên tiếp của quân đội Đức ở khắp nơi trên thế giới, trước khi kết thúc cuộc Ðệ II Thế Chiến vào tháng 5/1945.

Về sau, để kỷ niệm trận đánh Bastogne, người ta đã cho dựng lại ngay tại đây những hình ảnh giống như thật của các vị tướng lãnh, các vị chỉ huy và binh lính quân đội Đồng Minh trong một cuộc họp bàn chiến lược. Nằm giữa một vùng bốn bề gió lộng với những hàng thông vi vút và những giáo đường được xây lên từ thế kỷ thứ 7, thứ 8, nơi lịch sử này đã thu hút rất nhiều du khách. Một cái đài xây theo hình bát giác, nằm trên mô đất cao, có khắc tên nhiều tiểu bang nước Mỹ cùng tên những quân nhân đến từ các tiểu bang này và đã bỏ xác tại đó. Vài chiến xa từ thời 1944 vẫn còn nằm cạnh khu phố chính, ngay giữa con đường được đánh dấu bằng một trụ hình bầu dục có vẽ bó đuốc rực sáng, bên dưới hàng chữ “Voie de la Liberté, 1944” (Con đường của Tự Do, 1944).

Cuối tháng 11/1978, trở vào ngang Qui Nhơn, quê hương của người anh hùng dân tộc Quang Trung.

Năm 1753, tại thôn Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn, phủ Qui Nhơn (nay là đất của xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tĩnh Nghĩa Bình), trong một căn nhà lá nhỏ nằm bên bờ sông Côn (4) một bậc kỳ tài lưu danh thiên cổ đã ra chào đời: Nguyễn Huệ. Ông là con trai thứ ba của hai ông bà Hồ Phi Phúc và Nguyễn Thị Đồng. Thuở nhỏ ông cùng hai anh là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ theo học với thầy Hiến, một nhà nho bất đắc chí vì chính sách bạo ngược của loạn thần Trương Phúc Loan ở Đàng Trong, nên bỏ trốn vào Qui Nhơn, mở trường dạy học tại ấp An Thái.

Mùa Xuân năm 1711, đất Tây Sơn(5) sôi động, lá cờ khởi nghĩa bằng lụa đỏ dài 10 mét được phất lên với khẩu hiệu “Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”; đồng thời lời hịch kể tội Trương Phúc Loan được rao truyền khắp nơi. Các tầng lớp dân chúng đều hăng say hưởng ứng.

Từ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, Nguyễn Huệ trở thành người anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Trận đại phá quân Thanh mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1/1789) đã là chiến công lỗi lạc nhất của ngài, kéo dài sau đó là những công cuộc bình định, đem lại hòa bình cho dân tộc. Tiếc thay, ngài chỉ xuất hiện như một vì sao sáng chói trên bầu trời lịch sử tối đen của tổ quốc cuối thế kỷ 18, rồi vụt tắt. Ngày 29/9 năm Nhâm Tí, ngài qua đời, niên hiệu Quang Trung thứ 9 (1792), để lại biết bao thương tiếc trong sử sách Việt Nam hằng trăm năm sau.

.. .. ..

Đoàn dừng bến tại Qui Nhơn, trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của tỉnh Nghĩa Bình. Thành phố và hải cảng được dựng bên vũng Thị Nại nước sâu, tàu hàng ngàn tấn có thể vào; ngoài khơi có Cù lao Xanh che kín gió. Cù lao Xanh (nay là xã Nhơn Châu) rộng khoảng 5km vuông, cách bờ biển Qui Nhơn độ 30km, dân số chừng hai ngàn người chuyên nghề đánh cá và khai thác san hô. Cù lao Xanh là bức bình phong chắn gió cho cảng Qui Nhơn. Vì vậy, dân ở đây có câu:

“Cửa Giả (tức Qui Nhơn) có hòn áo ngoài

Các lái chạy dài gọi Cù lao Xanh”.

.. .. ..

Có cơn bão từ Miền Bắc thổi vào làm Qui Nhơn gió mưa tầm tã. Biển động. Trời thật lạnh.

Đoàn nghỉ hát đã ba đêm. Chúng tôi chẳng ai được lãnh lương. Trước cửa và ngay trong rạp, từng chiếu rượu được gầy lên đây đó. Thứ giải trí thông thường của hai phần ba nhân viên đoàn vẫn là uống rượu. Không phải là không có những luật lệ ban ra để ngăn cấm điều trên, nhưng trong một môi trường mà sự dễ dãi đã trở thành cái nếp thì điều ngăn cấm này chẳng hiệu quả gì mấy. Mãi rồi, luật lệ chỉ còn là những huấn lệnh suông được nhắc lại trong các buổi họp đoàn mà không có ý nghĩa giá trị thật sự. Trừ các giờ diễn, tất cả nhân viên đều có quyền sống theo ý thích cá nhân.

Ba đêm không hát, chúng tôi ngày hai buổi đến rạp ăn cơm rồi về khách sạn ngủ. Tôi được dịp nhìn sâu hơn về đời sống cải lương.

Từ xưa, ở Miền Bắc đã thấy xuất hiện lối Hát Chèo hay Hát Tuồng. Ở Miền Trung là lối Hát Bội. Riêng tại Nam phần, rải rác trong các tỉnh chỉ có các ban tài tử đờn ca trong các buổi lễ lạc đình đám tư gia.

Từ năm 1910, ở Mỹ Tho đã thấy xuất hiện ban tài tử của ông Nguyễn Tống Triều (tục gọi Tư Triều) được người dân địa phương hoan nghênh nhiệt liệt.

Tuy nhiên phải đến năm 1917, do bởi sáng kiến của ông Châu Văn Tứ, một người giàu có ở Mỹ Tho, đưa ban ca kịch tài tử lên sân khấu biểu diễn đàng hoàng với phông cảnh và y trang nhiều màu sắc, bộ môn Cải Lương mới thật sự thành hình và phát triển rất nhanh.

Cho đến các năm 30 thì đã có nhiều đoàn cải lương chuyên nghiệp ra đời và hoạt động mạnh. Thời kỳ đầu tiên của ngành sân khấu Cải Lương có những khuôn mặt đào kép trứ danh xuất hiện: cô Năm Phỉ, cô Bảy Phùng Há, cô Tư Sạng..., kép Hai Giỏi, kép Năm Châu, kép Tư Chơi, kép Ba Du, kép Tám Mẹo, kép Năm Long...

Sau khi đã phổ biến trong toàn cõi Nam phần, điệu hát Cải Lương được đem ra trình diễn ngoài Trung và Bắc, được tán thưởng nồng nhiệt. Có thể nói, chưa có ngành nghệ thuật nào phát triển nhanh như Cải Lương, và cũng chưa có ngành nghệ thuật nào thu hút khán giả mạnh bằng Cải Lương.

Từ đó, sau hơn hai mươi năm hoạt động, Cải Lương đã trở nên rất quen thuộc với quần chúng khắp nơi trong hàng trăm vở diễn trên đủ mọi đề tài kim cổ Đông Tây.

Từ sau tháng 4/1975, các gánh hát Cải Lương không còn do tư nhân quản lý, mà phải qui tụ vào một mối kiểm soát của nhà nước trên mặt hình thức. Đoàn hát tôi đang tham gia là một trong vài đại ban, trực thuộc ngành Nghệ Thuật Sân Khấu sở Văn Hóa và Thông Tin thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoại trừ ban quản trị, có hai thành phần rõ rệt trong một đoàn hát: thành phần nghệ sĩ (bao gồm các tổ Diễn Viên, Cổ Nhạc và Tân Nhạc); thành phần công nhân (bao gồm các tổ Dàn Cảnh, Y Trang, Ẩm Thực, Phòng Vé và Xe Cộ). Trong quy chế lương phạn, bồi dưỡng nhu yếu phẩm hay phòng ngủ, xe cộ mỗi lần lưu diễn xa, giới nghệ sĩ được ưu đãi hẳn so với giới công nhân. Dẫu vậy, trong những sinh hoạt hằng ngày của đoàn, điều trên vẫn không làm hai giới này xa cách. Một anh diễn viên hạng nhất có thể ngồi uống rượu lê la với các anh công nhân trong tổ Dàn Cảnh. Một chàng nhạc sĩ Tân Nhạc có thể ngồi uống cà-phê “đầu đường xó chợ” với ông trưởng đoàn. Tình thân ái là điểm son nổi bật trong đời sống Cải Lương, nẩy sinh từ những chuyến lưu diễn dài, tháng này qua tháng khác.

Trong vai trò một nghệ sĩ Tân Nhạc, tôi rất ưa thích giao tiếp với những anh em công nhân. Có gần gũi các con người lao động này mới thấy hiểu và thương được cái đời phiêu bạt Cải Lương. Có những người gắn bó cả cuộc sống mình vào trong gánh hát, từ trước và sau 1975, như một thứ nghiệp dĩ. Có những người đã từng là diễn viên phụ, nay về già vẫn cứ bị ánh đèn sân khấu quyến rũ, phải xin vào đoàn với bất cứ chức vụ khiêm tốn nào. Có những người không hề biết đến trường học là gì khi từ nhỏ đã theo đoàn đi khắp nơi lưu diễn. Lại cũng có người không gia đình, nhà cửa, chỉ lấy hậu trường sân khấu làm mái ấm (cái mái ấm giới hạn vỏn vẹn trong chu vi của một chiếc chiếu nhỏ và cứ phải di chuyển luôn luôn).

Một anh công nhân bảo tôi: “Đã ăn cơm Cải Lương là cô phải đi theo Cải Lương hoài; chừng nào Tổ tha mới được ra!”

“Tổ Cải Lương” cũng là một điều huyền bí gợi lên trong tôi biết bao tò mò thú vị. Một cái kệ thờ được đặt nơi góc trang trọng nhất trong hậu trường với bánh trái và khói nhang nghi ngút. Ai đi qua đó cũng phải cúi đầu. Trước khi ra sân khấu, các diễn viên thường thắp nhang khấn vái trước bàn thờ Tổ để xin được diễn cho hay, hát cho ngọt. Đã có những quy luật bất thành văn mà chỉ người trong giới mới biết và tuân theo triệt để. “Không bao giờ được mang đôi guốc làm bằng gỗ vông lên sân khấu. Không được đánh trống chầu trước mỗi giờ hát. Không được bố thí tiền cho kẻ ăn mày. Và hàng năm vào khoảng tháng Chín âm lịch, đoàn phải nghỉ hát để làm lễ giỗ Tổ Cải Lương, thật linh đình trang trọng.”

Vianden (Lục Xâm Bảo).

Tuyết rơi trắng xóa trên các con đường. Cuộc biểu diễn ở Saint Hubert bị bãi bỏ vào giờ cuối nên chúng tôi rủ nhau đi Vianden. Cả bọn chia làm hai xe, nối đuôi nhau vượt biên giới nước Bỉ.

Vianden là một thị trấn du lịch nằm ở phía Bắc nước Lục Xâm Bảo, sát biên giới Đức. Nơi đây cảnh sắc thật nên thơ. Tòa lâu đài vương giả –có từ thế kỷ 11 và được trùng tu lại năm 1906- đứng sừng sững trên đồi cao nhìn xuống dòng suối nhỏ đóng băng dầy cứng. Hai bên con đường, tuyết bám đầy trên các ngọn thông. Lớp lá mục rơi từ năm này qua năm khác trong các rừng cây (mà đạp lên ấy, giống y như đang đạp lên một tấm thảm mềm) cũng bám đầy tuyết. Cảnh sắc nên thơ của vùng Vianden là một bức tranh toàn trắng mà chỉ Thượng Đế mới pha được một cách tài tình cái màu trắng sáng ngời ấy thôi.

Claudia hỏi tôi: “Chị có thích tuyết không?”

Tôi đáp: “Ngày nhỏ, nhìn tuyết qua các bức tranh, tôi rất thích.”

Claudia cười: “Còn bây giờ?”

Tôi lắc đầu: “Bây giờ đối diện với nó, tôi lại nghe sợ!”

Và thêm: “Sợ, nhưng vẫn chiêm ngưỡng chứ không còn thích nữa.”

Hai ngày cuối cùng ở Qui Nhơn.

Cơn bão đã qua nhưng khí trời vẫn còn âm u lạnh lẽo. Buổi chiều thường xuống nhanh để chuyển sang màu tối. Tôi ưa thích sự việc cùng người bạn chơi trompette thả bộ ra phố uống café trong một cửa hàng ăn uống quốc doanh.

Từ sau 1975, hầu hết mọi cơ sở buôn bán tư nhân đều phải bị gom vào một mối kiểm soát của nhà nước. Các tiệm ăn, quán nước cũng không ra ngoài quy luật đó. Cả một hệ thống “quốc doanh” được lập ra trên đủ mọi ngành nghề thương mại. Từ các công ty ăn uống quốc doanh, xe đò quốc doanh, tầu bè quốc doanh... cho đến các công ty mậu dịch quốc doanh, ca múa quốc doanh, chiếu bóng quốc doanh... đâu đâu cũng đều là quốc doanh cả.

Thời gian đầu sau cuộc biến động tháng 4/1975, đa số các cửa hàng ăn uống quốc doanh đều vắng khách. Dân miền Nam vẫn còn “hoài cổ” nên ưa thích lui tới các quán café, quán ăn tư nhân dựng lên từ trước 1975. Tuy nhiên, từ sau cuộc đánh tư sản năm 1976, các quán hàng tư nhân “sập tiệm” gần hết. Vậy là một cõi tung hoành, các cửa hàng ăn uống quốc doanh trở nên phồn thịnh từ đây.

Cửa hàng ăn uống quốc doanh chúng tôi thường ghé lại mỗi chiều lạnh trời ở Qui Nhơn nằm ngay đầu phố chợ, cạnh bên bến xe lam rộn ràng tấp nập. Ở đây, thức ăn được bán không thiếu món gì, giá lại rẻ, vì vậy mà quán luôn luôn đông khách.

Ngay cửa ra vào quán có treo một quyển sổ dày độ hai trăm trang, ngoài bìa ghi bằng mực đậm “Sổ Ý Kiến Của Khách”. Những ý kiến được ghi phản ảnh ít nhiều ý nghĩ của dân khiến chúng tôi vô cùng thích thú. “Cửa hàng đẹp, sạch sẽ tương đối, nhưng thịt khiêm nhường quá so với rau bày ra trong dĩa.”“Một phần giò thủ nếu giá một đồng thay vì hai đồng chắc hẳn tốt hơn; bởi vì lương lãnh vào chẳng được là bao, trong khi giá sinh hoạt ngày càng cắt cổ.”“Rau muống là đồ bỏ cho lợn heo ăn, mà bây giờ sao lên giá quá cỡ thợ mộc, cán bộ nhiều tiền cũng không dám chê là đồ bỏ!”“Bia pha quá nhiều nước lạnh, để làm gì vậy, đâu có khiến cho ai say được để quên đi cái đời tối như mõm chó, chỉ tổ làm đầy túi các bà chủ nhiệm!” …

(…Lược…)

Cứ vậy mà mỗi buổi chiều lạnh trời ở Qui Nhơn, tôi và người bạn vẫn tìm đến cửa hàng ăn uống quốc doanh nơi đầu phố chợ để đọc thêm trong Sổ Ý Kiến những “ý kiến”mới. Những ý kiến phản ảnh tư tưởng thầm kín mà bình thường giữa thanh thiên bạch nhật, đố ai dám nói ra bằng lời một cách công khai?!

III

Ardennes (Belgique).

Tuyết rơi suốt cả ngày. Trời lạnh khủng khiếp, nhiệt kế xuống đến 17 độ dưới zéro độ. Cuộc biểu diễn vòng quanh vương quốc Bỉ vẫn chưa được tiếp tục bởi vì Jean-Luc, người nhạc sĩ chơi piano bị cảm chưa khỏi.

Đứng nhìn tuyết rơi qua cửa kính khách sạn, tôi nghe lòng thật buồn. Giờ đây đã không còn nữa sự thích thú ước mơ của thời tuổi nhỏ mỗi khi nhìn những tấm thiệp Giáng Sinh gửi về từ những vòm trời Âu Châu xa tít. Cũng không còn chiêm ngưỡng cái màu sáng chói ngời trải ra trên khắp cánh đồng mà ngậm ngùi cho mối tình đau khổ của Lara và bác sĩ Zhivago. Không còn nữa những cảm xúc nghệ sĩ khi nhìn màu trắng tuyệt vời nhưng băng giá ấy.... Mà chỉ là nỗi sợ hãi khi liên tưởng đến những đêm trở về từ quán cà-phê, đôi vai rụt hẳn trong cổ áo dạ để tránh những hạt tuyết tàn bạo tới tấp đổ xuống trên người.

Cái gì cũng đều bị thời gian làm cho lần mòn tiêu hủy. Luôn cả sợi dây nhậy cảm nhất trong tâm hồn yêu chuộng thiên nhiên của tôi cũng không ra ngoài được với sự tàn phá của thời gian.

Tháng 12/1978. Trở về Sàigòn.

Một nỗi vui rộn ràng lan khắp châu thân khi chiếc xe đoàn băng qua cầu Phan Thanh Giản, bon bon trên con đường Đinh Tiên Hoàng, tiếp đến Hiền Vương, rẽ trái Lê Văn Duyệt, quẹo phải Hồng Thập Tự và đậu lại trước cửa rạp Olympic, bến đỗ của đoàn.

Phải nhận rằng tôi yêu Sàigòn sâu sắc, hơn tất cả mọi thành phố nào đã đi qua. Xứ Huế mơ màng với giòng sông Hương thương nhớ chỉ là niềm kiêu hãnh còn lưu lại trong máu huyết. Dalat mây giăng thấp và buồn ngàn đời lại chỉ tượng trưng cho kỷ niệm một thời của tuổi đôi mươi.

Riêng Sàigòn lại khác. Tôi yêu từng góc phố của Sàigòn qua từng mỗi giai đoạn sống. Yêu cái tuổi thơ vẫn cùng chúng bạn tranh nhau từng quả me dốt rơi trong sân trường Âm Nhạc. Yêu những tàng cây cao trên con đường Nguyễn Du khi tâm hồn bắt đầu biết rung động vì màu xám của không gian. Yêu cái cửa sổ lớp nhìn ra sân trường đại học có những chiếc lá vàng bay lả tả vào một chiều thu tím. Yêu thật nhiều ly cà-phê của quán Hân trên con phố Đinh Tiên Hoàng mỗi lần tự tưởng tượng mình đang là một “triết gia!”

Và rồi trong cái tâm hồn đang chuyển dần sang màu xám, tôi vẫn cứ yêu Sàigòn ngây ngất. Sàigòn lúc ấy không còn cô đọng trong tay vói, trong mắt nhìn; mà chính là ảo ảnh êm đềm để nhớ về từ không gian xa xôi của các tỉnh lỵ; là cái nôi thương yêu để úp mặt khi đôi cánh giang hồ rỉ máu; là hạnh phúc và khổ đau trộn lẫn khi tôi vừa muốn rức rảy từ bỏ, lại cũng vừa tha thiết nhớ thương.

Sàigòn vẫn chỉ giữ ngôi vị độc tôn khi mọi ước mơ trong trái tim tôi đã hoàn toàn biến mất. Luật lệ được ban ra nhiều bao nhiêu thì người dân Sàigòn lại càng tha thiết muốn bảo tồn những cái gì đã mất hay đang mất bấy nhiêu. Những quán rượu lộ thiên mọc lên như nấm. Những quán cóc cà-phê nhan nhản khắp các góc phố, lề đường. Các khu chợ trời đông hơn hội Tết; người mua kẻ bán bâu quanh các món hàng trong cái vẻ giành giật, âu lo.

Sàigòn càng được yêu nhiều hơn trong ánh nhìn từ một góc xấu nhất. Những cái lều vải lụp xụp căng ra dọc theo các khu Nguyễn Hoàng, An Đông... làm nơi tạm trú của các người dân trở về từ vùng kinh tế mới chẳng thể làm cho Sàigòn tan biến đi nỗi dịu dàng bất chợt của thời gian gần Tết. Những người hành khất dẫy đầy nơi các phố vẫn không làm mất đi màu xanh tuyệt vời của lá trên các con đường có nhiều cây cao.

Sàigòn càng khổ sở lại càng đẹp! Cái đẹp não nùng đau đớn như giọt nước mắt lăn trên đôi má nhăn nheo của người mẹ già một ngày nhận tin con mình đã chết. Sàigòn càng bi thương càng thêm quyến rũ; y hệt một cô gái đẹp mặc chiếc áo rách mà những chỗ hở lại chỉ làm cho khách đa tình phải đắm, phải say.

Có những đêm rất khuya, đạp xe trở về từ rạp hát, ghé qua dốc cầu Trương Minh Giảng trước cửa trường đại học Vạn Hạnh, ngồi uống ly cà-phê đen, nhìn dòng đời rơi rớt lại trên một vài sinh hoạt muộn trễ, tôi biết mình vẫn chỉ yêu Sàigòn trên hết. Sàigòn với ngọn gió mang mang của trời tháng Chạp, với các buổi chợ đêm những ngày cận Tết vẫn còn làm tâm tư lao xao trong một nỗi niềm man mác nhớ nhung. (Gió tháng Chạp thì không bao giờ biến thể cho dù thời gian có trôi, xã hội có đổi). Và Sàigòn vẫn ngất ngưỡng ngự trị trong tôi với buổi chiều cuối năm, phố phường bỗng dưng lạnh vắng, không gian như khóc và thời gian như nuối tiếc, thở dài!

Tuy nhiên, trên hết, Sàigòn không có gì thay thế được với cái đêm Ba Mươi kỳ ảo. (Nửa đời người, trong tôi, có lẽ chỉ tình yêu cho mẹ già và đêm cuối năm Âm lịch của Sàigòn là không bao giờ thay đổi). Ngồi nơi một chiếc ghế thấp của một quán cà-phê nào đó bên vệ đường thành phố, tôi chờ đón giao thừa. Những chiếc xe đạp rộn ràng xuôi ngược. Những đôi chân tất tả trở về. Những con người vội vàng tranh thủ thời gian để kịp bước với một tuổi già sẽ đến đêm nay trên đầu họ. Những mâm hoa quả được bày ra trước các cánh cửa với nghi ngút khói nhang. Và rồi tiếng pháo nổ lên, thoạt đầu lẻ tẻ vài phong, sau đột nhiên nổ dòn đồng loạt. Các tia ánh sáng bắn ra tung toé. Lũ trẻ con giành nhau từng viên pháo tịt. Thỉnh thoảng, một tiếng “đùng” thật lớn của viên pháo đại dội lên và lũ trẻ lại ùa nhau chạy sang một góc phố khác...

Giao thừa đang đến. Năm mới lại về. Nàng Xuân e ấp dịu dàng trên các chậu mai vàng trước ngõ. Và tâm hồn khách cà-phê cũng rung động dạt dào theo tiếng pháo của đêm Ba Mươi!

Ardennes (Belgique).

Tôi hỏi Daniel: “Anh có nghĩ trong đầu tôi có một sợi dây thần kinh nào đó đang bị lệch?” Anh gật. Tự dưng, tôi thấy kinh ngạc khi nhìn cái gật đầu của anh bao hàm xiết bao thông cảm.

Anh là vị trưởng ban tốt theo cái nghĩa của một tâm hồn nghệ sĩ thực sự. Sau khi qua cuộc tuyển với bốn người nhạc sĩ Âu Châu khác, chỉ tôi và một nhạc sĩ người Pháp gốc Đức là được chọn. Daniel sau đó đã nói cùng tôi: “Tôi sung sướng được làm việc với cô. Sự đau khổ của dân tộc cô khiến tôi thật lòng kính trọng và ngưỡng mộ. Tôi nghĩ, đó là một đặc ân không phải quốc gia nào cũng có được. Cái vốn liếng đau khổ ấy chính là giá trị làm nên lịch sử sáng ngời cho đất nước cô.”

Trên một điểm nào đó trong cái nhìn của người nghệ sĩ về cái Đẹp, Đông và Tây cũng đã gặp nhau.

Cầu Tre, tháng 12/1978.

Đoàn hát ở Cầu Tre, trạm cuối cùng lưu lại thành phố trước khi mở đầu cuộc lưu diễn dài Miền Tây.

Địa danh Cầu Tre thuộc quận 6, phía tây thành phố Hồ Chí Minh, cách Sàigòn khoảng 15 cây số về hướng Phú Lâm. Vậy mà so với Sàigòn, Cầu Tre lại thật vô cùng khác biệt. Nơi đây, sau biến cố 75, nhà cửa xiêu vẹo, cái còn cái mất. Dân chúng trông lam lũ chật vật. Đường xá nhiều ổ gà, bẩn thỉu. Và trước khi đến rạp, phải băng qua một cây cầu gỗ từ đường cái dẫn vào; anh em đoàn thường đọc giễu “Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi!”

Mỗi lần hát ở đây, đêm khuya về, cả đám chúng tôi đều sợ phải băng ngang qua khu Minh Phụng, nghĩa địa Phú Thọ nổi tiếng với nhiều vụ giết người, cướp bóc. Dẫu vậy, dân đi xem hát thật đông. Chỉ điều này mới làm khích lệ anh em đoàn khi tin chắc rằng rồi sẽ được lãnh đêm lương!

Kể từ tháng 5/1975, gần như các môn giải trí trong Miền Nam đều ngưng hoạt động. Sách báo chế độ cũ bị tịch thu; thay vào đó là các loại sách báo khô khan đầy tính tuyên truyền cho xã hội chủ nghĩa. Tất cả vũ trường phải đóng cửa. Các hàng quán lịch sự đều bị quốc doanh hóa. Các rạp hát được cho chiếu toàn những phim của thế giới bên kia bức màn sắt còn rất xa lạ với dân chúng Miền Nam.

Tuy nhiên, các quán cà-phê và quán rượu lề đường lại mọc lên như nấm. Cái hiện tượng “quán cóc” “dân ngồi quán cóc” lan tràn khắp xứ. Chỉ cần 25 xu tiền mới cho một ly cà-phê “xây chừng” là có thể tiêu được một buổi tối vô vị. Chỉ cần một xị rượu thuốc 50 xu với một đĩa đậu phọng khiêm nhường 10 xu là cũng có thể lãng quên được mọi nỗi đau khổ chung quanh.

Ngoài ra, không chỉ cà-phê hay rượu mà còn bạn bè nữa. Điều này mới thật là quý trong một xã hội thiếu thốn đủ mọi thứ vật chất. Thật vậy, trong các phần đất của quê hương nghèo khổ, cái gì cũng thiếu, nhưng tình người thì không bao giờ thiếu. Nhất là tình bạn. Nhu cầu bạn hữu vượt cao hơn mọi nhu cầu khác trong đời sống. Người ta dễ dàng mời nhau một ly cà-phê “xây chừng” từ lúc không quen để rồi trở thành bạn thân ngay sau đó. Người ta gặp nhau hằng ngày không biết chán chỉ để nói cho nhau nghe tất cả mọi nỗi niềm; những điều thật khó lòng thổ lộ với các người thân vì không muốn họ cùng lo lắng hay đau khổ.

Thú tiêu khiển thứ hai sau các quán cóc của dân Miền Nam là đi xem hát Cải Lương. Với điều này thì dù thành thị hay thôn quê, đâu cũng đều giống nhau ở mức độ thưởng thức. Người ta có thể đứng nối đuôi nhau hằng giờ để chỉ chờ cánh cửa sổ nhỏ xíu nơi ghi-sê phòng vé mở ra; có thể chen lấn, xô đẩy nhau đến rách cả áo để giành mua một cái vé trong số rất giới hạn những vé được bán ra. Số còn lại tất nhiên là chui vào tay giới chợ đen.

Nạn chợ đen cũng là một hiện tượng gần gũi trong xã hội hiện tại. Chợ đen trở nên là một cái “nghề” kiếm ra nhiều tiền cho một số nhỏ. Chợ đen trong đủ mọi môi trường, mọi giới. Riêng môi trường ca hát thì so với các ngành nghề khác, tính theo tỷ lệ, hiện tượng này cao đến 90 phần trăm.

Trong đoàn hát, tổ Phòng Vé vẫn được chúng tôi gọi là tổ “giàu” nhất. Tuy nhiên, không chỉ riêng tổ Phòng Vé mà còn có đến hơn hai phần ba nhân viên đoàn tham dự vào cái nạn chợ đen. Mỗi người, từ ban quản trị trở xuống, đều được quyền mua hai vé mỗi đêm theo giá chính thức. Đa số các vé loại này tức tốc được các tay đầu nậu vé mua ngay với giá cao hơn, nhiều hay ít là tùy theo tuồng, rạp và đêm hát. Hôm sau, vé được sang tay cho khán giả với giá gấp ba hay bốn lần đã mua của nhân viên đoàn hát.

Rốt lại, chỉ có khán giả là đáng tội nghiệp hơn hết mỗi lần muốn thưởng thức nghệ thuật Cải Lương!

.... CÒN TIẾP....


(1) Dwight David Eisenhower (1890-1969), Đại tướng người Mỹ trong quân đội Đồng Minh thời Đệ II Thế Chiến.

(2) George Smith Patton (1885-1945), Đại tướng người Mỹ trong quân đội Đồng Minh thời Đệ II Thế Chiến.

(3) Gerd Von Rundstedt (1875-1953), Thống soái người Đức trong quân đội Đức thời Đệ II Thế Chiến.

(4) Sông Côn ngày xưa gọi là sông Tuy Viễn, phát nguyên từ vùng giáp ranh giữa ba tỉnh Quảng Ngãi, Kontum và Bình Định cũ, chảy xuống Định Quang, Phú Phong. Đến Phú Phong, sông có thêm nguồn nước của sông Đà Rằng chảy vào nên lòng sông mở rộng và chảy đến địa đầu An Nhơn thì chia ra làm nhiều nhánh, cuối cùng đổ ra đầm Thị Nại. Sông Côn sau này có Bến Trầu, nơi Nguyễn Nhạc dùng để đón khách trong những chuyến đi buôn lịch sử của một thời tiềm ẩn hùng khí Tây Sơn.

(5) Nay là thôn An Khê ở vùng Hòn Một gần đèo An Khê (trên đường đi Pleiku-Kontum) thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Nghĩa Bình.




© Cấm trích đăng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC