Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NGƯỜI LIỆM XÁC










Ông Thể nằm ngủ quên trên võng nghe tiếng thằng Điệp từ ngõ gọi vào, thức trực dậy, mò tìm cái khăn treo ở dây thép ngoài hiên.

            - Chờ tao một chút.
            - Ngủ gì thẳng cẳng vậy cha?
Thằng Điệp vào gần, giọng ông Thể nhỏ xuống:
            - Khi hôm làm xong theo thằng Rèn coi cải lương về bả rên quá trời.
            - Ông không “họp” ở nhà thằng Khê à?
Ông Thể quấn khăn vào cổ kỹ càng, lấy cái mũ lính chụp lên đầu.
            - Tiền đâu mà theo mầy?
            - Mấy trăm mới lãnh bay rồi hả cha?
            - Đưa cho bả một ít, trả tiền rượu một ít, mua thuốc một ít… còn đâu?
Những món tiền chi dụng của ông Thể chỉ mỗi thứ một ít nhưng tính lại không còn dư xu nào. Nguyên do của sự làm ăn không nên nỗi đó, ông thường cho là tại bà Thể hết thảy. Và ông không thể bỏ vợ nên sự túng thiếu không thể bỏ ông. Hễ về tới nhà, bước chân vào cửa, là bà Thể bắt đầu lập lại những lời càm ràm cũ về tính bài bạc, rượu chè của ông.
            - Ông đi ngủ ở xó nào bây giờ mới về lận? Ngồi quá, thức quá rồi mệt có làm có ăn gì đâu? Bài bạc nó nhiễm trong xương trong cốt ông, làm nhiều nói ít, đút giấu để lo nuôi mấy ông tướng chớ không nuôi ai… Bài bạc với rượu chè đến mãn đời, già cú rũ, không dư một cắc.
Đại khái những lời trách cứ đó nhắm vào tính cờ bạc và rượu chè, dù đôi khi bà còn dùng nhiều câu lạ hơn thế. Phần bà, bà cũng nghĩ bà không cất đầu lên được vì ông Thể. Và bà không bỏ ông Thể được nên bà không bỏ những lời càm ràm mỗi lúc gặp ông. Hai người vì thế coi nhau như mắc nợ nhau phải trả. Cuộc sống cả hai sở dĩ còn giữ, phải nói là do bản tính sao cũng được của ông Thể mà bà Thể đôi lúc vui vẻ gọi là “khùng”. Ông Thể khùng. Vì thế ông Thể, nhiều lúc dưới mắt bà Thể còn là một người khùng nữa. Nghĩ như thế nên bà ít khi chú ý nhiều đến những lời tỏ gây gổ với ông, bà nói như một thói quen nào đó đã ăn nhập tự nhiên vào cuộc sống nghèo túng của mình. Còn ông Thể rất ít khi quan tâm tới những lời đó, ông thường thốt lên:
            - Mệt quá bà ơi…
Bà Thể như bị chặn lại bởi một phản ứng khùng của ông Thể, dừng lại một lát, lại bắt đầu, với giọng nói nhỏ hơn trước. “Mệt quá bà ơi…”
Tiếng thằng Điệp cười nghe vang trong khỏang đêm mờ mờ sáng. Nó nói đến sự xui xẻo suốt của nó trong mấy sòng bạc, trong gần một tháng, và kết luận:
            - Phải xả xuôi há ông? Thế nào làm xong vụ nầy cũng đi xóm Đường…
Ông Thể đi sau, thằng Điệp dắt xe đi trước, ra khỏi ngõ. Con ngõ còn tối có chút ánh điện lọt ra từ những lỗ thông hơi các dãy nhà nằm dọc hai bên. Cái vắng lặng khiến cả hai bình tâm, không nghĩ ngợi gì. Ông Thể ngồi vào xe sau thằng Điệp, như người công chức phải ngồi vào chiếc ghế dành cho mình, trừ lúc chết đi. Có điều ông Thể không nghĩa đến việc ngồi sau xe thằng Điệp để lên trại là một điều đáng chán, trái lại ông còn chờ để nghe ngóng tiếng xe đi vào ngõ, tiếng thằng Điệp vào chưa tới nơi đã cất lên inh ỏi. Ông Thể ngồi sau xe đạp của thằng Điệp kẹp hai chân vào con ốc chuồng, nhìn lơ đãng lên nền trời xám đen vi vút gió.
            - Chà trời nổi mưa mới khổ.
Tiếng của Điệp cằn nhằn phía trước:
            - Chết rồi chôn ở đâu cũng được, cũng yên…
Cả hai nói những câu lơ lửng, cùng bày tỏ ý kiến không trực tiếp liên quan tới nhau, nhưng như đã thầm hiểu được nỗi khó khăn của một cuộc quật mã trong khi trời mưa. Chiếc xe đạp nặng nề vào đường phố, đi giữa những dãy nhà, những hàng cây rét mướt trong những cơn gió đầu đông thổi lồng lộn. Phố xá như tách rời khỏi nếp sống của hai người, vì thế phố xa không gợi cho họ một cảm giác nào trong cái chơ vơ thật buồn của nỗi im vắng đó. Mà thật lạ, những con đường đổ về phía bên kia cầu, phía bên kia thành phố, đã ăn sâu trong trí nhớ. Mỗi một sự thay đổi dù nhỏ cũng được họ chú ý bàn tán, kể cho nhau nghe những căn nhà ọp ẹp vừa được những người tản cư dựng lên, như dựng cái chuồng bò, chuồng heo. Ở đó có thằng cha Năm suốt ngày lẩn quẩn bên xị đế, suốt ngày chửi rủa bà con; ở đó có quán bà Tính nổi tiếng rượu mạnh, uống xong có thể nằm y như ở nhà mình. Ở đó … được nói tới thật thân thiết như miền quê cũ; nghĩ lại ở trong thành phố nầy, họ không có gì để nói đến, như kẻ đi lạc vào nơi lạ, cách biệt. Ông Thể gục đầu vào lưng thằng Điệp tránh gió, đánh diêm hút thuốc. Điếu thuốc đốt lên, lại bắt đầu cho những lo ngại trời mưa. Thằng Điệp chăm chú đạp vượt gió. Nó là người trẻ nhất trong bốn người làm việc tại trại ông Mộc. Ngày vừa được giải ngũ vì vết thương sâu ở bả vai, hắn chưa định làm gì thì gặp ông Thể. Sự có mặt của nó ở nhà cũng chẳng đổi thay được gì đến sự nghèo túng của mẹ, nên hắn thường vắng nhà. Hai đứa em gái có chồng rồi như buộc chặt bên đó, cũng với những nghèo khó của chồng, con. Lúc đầu, mẹ bảo, tụi nhỏ còn chạy đi chạy về; lúc sau cả tháng không nhìn thấy mặt đứa nào cả. Hình như thằng chồng con Hân đã đi lính, còn thằng chồng con Hạ “me chay…” Điệp biết thằng chồng con Hạ chắc bê bối lắm, nhưng lúc lên thăm mới rõ hắn hiền hơn Phật. Không ngờ mình được kính trọng quá đáng. Điệp định bụng sẽ ca tụng thằng chồng con Hạ, với mẹ. Và Điệp thấy mừng cho em, gặp trúng thằng hiền khô, lễ độ. Điệp hơi ngạc nhiên về thái độ chịu đựng khó chịu của em. Điệp trở về thuật lại mọi chuyện trong cuộc thăm viếng của mình, bà gắt:
            - Mầy có thấy nó khúm na khúm núm không? Đàn ông con trai gì lờ đờ như cá bị suốt, ai bảo gì cũng nghe, tệ đến mấy thằng em cũng không khiến nổi… Thiệt khổ cho con nhỏ…
Những lúc nghe mẹ nói vậy nó không dám cất tiếng ca tụng, giữ yên lặng như cùng chia sớt nỗi không may với em; nhưng trong lòng vẫn thích sự kính trọng, chìu chuộng của thằng chồng con Hạ. Ở nhà thằng chồng con Hạ nó tự dưng thấy mình lớn hẳn, quan trọng thêm ra. Và nó vẫn thích cái vai trò đó, lâu lâu nó đi đâu cả ngày, cũng ghé nhà thằng chồng con Hạ. Một lần hắn trở về, khoái chí vào quán bà Tính uống rượu thì gặp ông Thể. Lần đó ông Thể vừa đi chôn ông Lã về, và cũng lần đó thằng Điệp vào thế chỗ làm của người vừa chết. Thế chỗ người chết để đi liệm chôn người chết. Dù mẹ nó có ý cản ngăn, nhưng nó vẫn có ý nghĩ làm phước, nên nó không bỏ cơ hội để kiếm tiền uống rượu, đánh bài. Nó thường lập lại một lý luận để giữ mẹ yên lòng:
            - Lũ chết đó cũng là chỗ bạn bè của con cả, mình không lo thì ai vô? Nó được mình lo thế nào cũng phù hộ, chết kiểu oan ức đó linh thiêng lắm… Hơn nữa, nghề mình lại lương thiện chớ có bóp hầu bóp họng ai na?
Thấy mẹ ngồi yên, có tin tưởng ở tài ăn nói của mình, bà chẳng thường khen nó nhanh miệng nhanh mồm đó sao? Bà tiếp tục yên lặng, nó tiếp tục uống rượu ở quán bà Tính với ông Thể, mỗi khi lãnh một kỳ tiền. Kỳ tiền nhiều hay ít tùy theo số người chết ở các trận rải rác trong tỉnh mang về. Nhiều bận làm xong một đợt được ông Mộc, chủ nhà thầu, chia cho cả ngàn. Những lúc đó tình hình trong tỉnh có vẻ chộn rộn nhất. Nó mường tượng nhớ lại những cuộc đụng độ liên tiếp khi còn đóng ở Phù Ly. Và nó đinh đinh rằng, những người không may được mang về nhà giữ xác, là chỗ bạn bè của nó cả. Đôi lúc nó ngỡ như đã có lần vào quán ăn nhậu với những người chết đó. Cảm tưởng nầy không khiến nó sợ, làm nó thương hơn. Vì vậy nó tỏ ra chăm chú trong công việc tẩm liệm như sắp đặt một lần ra đi của những người bạn. Lần ra đi nầy đối với nó rất quan trọng, nếu sơ sót sẽ bị quở trách. Ông Thể, ông Rèn, ông Tám thường không hiểu, cho nó tẩn mẩn làm những việc vô ích với những cái xác đã sình thối, mất đi những phần tay, chân… Nhưng tất cả phục nó vì tính cẩn thận. Riêng với ông Thể, ông còn phục nó sát đất vì tài uống rượu nữa. Hôm đó, ông Thể đã nốc nửa chai rượu trắng với một trái ổi. Nó cũng ực hết phần còn lại không cần nhắm nháp gì. Sau trận say li bì ba ngày mới tỉnh trí, ông Thể không nói tới chuyện uống rượu thi với Điệp, và gọi nó là “con thằng cha Năm ở bên kia đầu cầu”.
Điệp cắm cúi đạp, tiếng kêu đục thô vang ra từ chiếc xe đạp cũ, không đánh thức nổi cơn ngủ mê của thành phố. Gió thổi riết vào những căn phố đóng mắt ngủ kỹ.
            - Thân nhân ra hồi nào mầy?
            - Lúc sáng, bà đó khóc kể quá trời, bã kêu ác nhơn không cho bã thấy mặt chồng, đòi đem về xứ cho được…
            - Ông Mộc nói sao?
            - Ổng nói đánh điện mấy ngày không thấy tăm dạng ai, mấy ông sĩ quan bảo chôn ngoài nghĩa địa…
            - Bà đó nói sao?
            - Bả khóc miết, đòi đem xác chồng về xứ khui mả lên tốn bao nhiêu cũng chịu.
            - Ông Mộc nói sao?
            - Ổng đòi năm ngàn, tính luôn hòm kẽm nữa.
Ông Thể yên lặng hút giữ từng hơi thuốc cháy sáng, chợt chặt lưỡi:
            - Khổ chết mầy ơi…
            - Khổ thì khổ chớ làm sao?
Điệp thường không có ý kiến trước những câu về khó khăn, chỉ biết ra tay làm. Ông Thể vì thế ít muốn nêu lên câu hỏi nào đối với nó, nhưng trước nỗi khổ, cả hai không thể từ bỏ. Ông buông thỏng:
            - Trời mưa nghiệt thiệt…
Câu nói bỏ lửng như một sự đồng ý đã có, cả hai cùng nhìn ánh sáng hắt ra của chiếc đèn man-chon, trông buồn nôn. Ánh sáng của ngọn đèn vàng võ gợi trong trí ông Thể những lần quật mả ban đêm. Trong ánh đèn đó đã nhiều lần ông nghe những tiếng khóc ri rỉ, thảm thiết nhất là tiếng khóc của người vợ ông chuẩn úy đóng ở núi Sầm. Tiếng khóc tự nhiên nổi lên rồi tự nhiên yên lặng. Trong cái tự nhiên của một người điên chợt biết xúc động, chợt ngây ngô mất trí. Dần ông Thể quen sống chung với nỗi chết, nỗi khổ đau, những tiếng khóc, ông cũng tỏ ra dửng dưng. Cái dửng dưng mà bà Thể gọi là “khùng”. Ông Thể khùng.
Ông Rèn, ông Tám ngồi chồm hổm, co ro trong chiếc áo mưa nhà binh chừa ló mặt, hút liên tiếp từng hơi thuốc. Người đàn bà có chồng chết đòi thấy mặt, đòi đem về xứ, đứng bên những chiếc hòm gỗ đang đóng dở. Cảnh vật chỉ có bấy nhiêu đó, giản dị quá sức, ngoài sự tưởng tượng của người đàn bà. Ngày đi đón chồng với bốn người đàn ông và một quan tài. Người đàn bà nhìn dài xuống cuối phố, có ý chờ ông Thể và Điệp. Chờ hai người đàn ông nữa là bốn. Bốn người xa lạ. Điệp thắng xe dừng lại trước mặt ông Tám.
            - Khi hôm cải lương hay không ông?
            - Hát chưa mãn, chộn rộn chộn rộn chạy hết trơn.
Điệp đem bỏ xe vào nhà chứa hòm, trở ra với một ôm bánh mì. Ông Thể lấy bánh trên tay Điệp chia cho ông Năm, ông Rèn. Khuôn mặt hơi dài, da ngâm đen, răng hô, tóc hớt cao phía sau chừa ở trước, ông Rèn ngồi gặm bánh mì từng miếng nhỏ kỹ lưỡng trông giống con khỉ. Điệp chìa bánh về phía người đàn bà, nói:
            - Mời chị…
Ông Tám nói:
            - Mời chị…
Người đàn bà tỏ khó chịu, nhưng giọng nói dịu:
            - Cám ơn, cám ơn…
Ông Mộc mặc áo ấm kỹ, choàng áo mưa kỹ, xách thùng dầu ga-zôn, gói đựng vôi bột và thuốc D.D.T dẫn đầu nhóm. Nhìn ông kềnh càng và lặng lẽ như người quản ngục. Người quản ngục và bốn người cận vệ dẫn một người đàn bà đi thăm chồng ngoài nghĩa địa. Ông Mộc sống làm giàu vì người chết, nhưng không bao giờ nghĩ rằng mình chết như họ. Ông thường chăm chỉ trong những lần đi quật mả như người đi buôn. Cứ nhìn gia tài ông, nhìn cái nhà lầu mới cất, chiếc xe Honda kiểu mới … bao thứ đó cũng đủ chứng tỏ nỗi chua chát của cuộc chiến, của những khổ đau và những tiếng khóc ri rỉ. Trong những lần uống rượu say, ông Thể thường chửi ông Mộc vì sự ích kỷ, vì sự lợi dụng công lao của ông. Có lẽ do nhiều lý do khác, ông Thể không phân tích được, nhưng điều chắc là ông không quên tiếng khóc của người vợ ông chuẩn úy đóng ở núi Sầm trong lúc ông nói về ông Mộc.
Tất cả đã ra khỏi thành phố, đi vào đường quốc lộ, lên dốc. Người đàn bà đi theo chân ông Thể, tất tả. Cái vội vã của dáng đi không gợi lên nét mặt, không làm thay đổi vẻ đờ đẫn. Đôi mắt thức to, cứng nhắc; nhưng nhìn chung biết bà đẹp và quí phái. Ông Thể thỉnh thoảng quay lại nhìn bà ái ngại. Người đàn bà hiện ra trong mắt ông như một sự khổ đau biết nói, biết khóc. Không có sự đau khổ nào cụ thể bằng người đàn ông nằm dưới đất bên nghĩa địa kia và người đàn bà sau lưng. Khi bắt đầu xuống dốc, qua cầu, nhóm người bị chặn lại. Người lính gác cầu tiến tới.
            - Mấy người đi đâu giờ nầy?
Điệp nhìn ra người lính quen, trả lời gọn:
            - Đào mả.
            - Ai vậy mầy?
            - Ông thiếu úy hôm trước.
            - À, ông thiếu úy…
Điệp dừng nói, bôm thêm hơi vào đèn. Ông Mộc qua cầu trước, toán ông Thể và người đàn bà theo sau đèn. Những túp lều tranh, vách giấy đeo sát bên con đường đất lầy lội của những người tản cư đã có tiếng nói. Ngang qua quán bà Tính, Điệp quay lại:
            - Bận về ghé lại tìm chút rượu nghe ông Thể?
Tiếng ông Thể gật gừ phía sau. Tất cả theo Điệp rẽ vào con đê, qua nghĩa địa; những mô đất cao từ xa, những tấm bia từ xa trông mờ hẳn dưới nền trời sà thấp đen hơn. Người đàn bà vén cao vạt áo tránh qua những vũng nước trắng. Vào sâu trong cổng nghĩa địa, ông Thể kêu Điệp dừng bên một gốc cây dúi lớn tàng, gần ngôi mộ đúc xi măng. Trời sáng mỏng. Ông Mộc đặt tất cả thuốc sát trùng trên ngôi mộ mới còn ướt nước, móc túi lấy thuốc hút. Điệp cắm thanh sắt xuống đất. Người đàn bà theo ông Thể đến cạnh mộ chồng. Chợt bà khóc lớn. Khuôn mặt mềm lại, mất hết vẻ trống trải đờ đẫn cũ. Tiếng khóc bay xa chập chùng gọi dậy sự im lặng của mồ mả. Điệp giúp người đàn bà đốt nến, thắp hương. Điệp im lặng để người đàn bà khấn nguyện. Người đàn bà đứng đó, chắp tay như pho tượng. Tà áo trắng bay lật phật nhắc nhở Điệp biết đó là một người đàn bà còn sống, còn sống, chờ nó khai mả để nhìn mặt chồng; tự dưng Điệp nghĩ đến thằng chồng con Hần, thằng chồng con Hạ. Làm nghề tẩm liệm người chết nó đã ngủ chung bên những xác chết, ôm từng xác chết chuyển từ hòm nầy sang hòm khác, tưng tiu từng phần thân thể đứt khúc sắp lại cho ngay, nó chưa thấy nỗi bàng hoàng khó quên như lúc nầy. Tại vì sắc đẹp của người đàn bà quá trẻ? Tại vì bà trông giống con Hần, con Hạ? Tại vì lúc sáng nó chưa uống rượu? Tại vì sau khi khóc người đàn bà thản nhiên quá? Tại vì thứ gì? Nó không rõ lý do, không quan tâm mấy như khi nói đến những ngày sống kế tiếp. Nó dứng trơ như một thân cây. Tiếng ông Mộc giục phía sau:
            - Coi chừng trời sáng, thôi gấp đi…
Người đàn bà vẫn đứng đó, chắp tay như pho tượng. Ông Thể nghe lời ông Mộc dìu người đàn bà lùi lại, nhường chỗ đứng cho ông ta. Ông Mộc đốt cháy bó nhang lớn, cầm chụm hai tay đưa lên quá đầu, miệng lâm râm gì không nghe rõ. Hẳn là ông vái người chết, giúp cho ông có nhiều cơ hội để phát đạt? Hẳn là ông không làm công việc đó vì lòng đau xót của mình? Nhìn cái mặt ông trống không, không tỏ dấu gì là nghĩ ngợi; nhìn cử chỉ vội vàng khi cắm nhang lên đầu mộ; nhìn những cử động quen thuộc đó của ông Mộc, có lần ông Rèn buột miệng:
            - Thằng cha Mộc làm tuồng khéo thiệt, y như tụi bạn hát khóc…
Phần ông Mộc không hề nghĩ đến chuyện ông làm, ông coi đó là bổn phận của mỗi chủ nhà thầu, khi muốn được sự phù hộ để làm giàu. Nhiệm vụ của ông như đã xong, trở lại ngồi trên ngôi mộ đúc, móc túi tìm thuốc hút. Người đàn bà nhìn ông Thể, nhìn thằng Điệp, nhìn ông Rèn… vỡ từng vũng đất ướt còn mới như trông chồng trở lại. Ngôi mộ được đào lên quá nửa, ông Tám đổ bột vôi một lớp chung quanh, ngồi chờ. Điệp cầm cuốc thế ông Thể, dò xét cẩn thận từng cuốc đất, như ngại chạm đến da thịt người chết. Ông Tám gõ trúng ván hòm, tiếng kêu vọng lên nhọn, người đàn bà sấn tới.
            - Chiếc hòm nầy là chồng tôi sao? Các ông có lầm không?
            - Lầm sao mà lầm được, mới chôn mấy ngày mà…
            - Không, chồng tôi không phải thế nầy…
Bốn người khai mả thoáng nhìn nhau, nhìn người đàn bà, lắc đầu. Ông Tám tiếp tục rải bột D.D.T, ông Thể tiếp tục moi rộng chân hòm. Thằng Điệp tiếp tục luồn sợi dây qua dưới hai đầu để kéo hòm lên, ông Rèn chống cây ngang vai chờ … Người đàn bà nói vu vơ một mình, nhìn bốn người nhấc chiếc hòm sơn màu đỏ còn nguyên màu lên quá mặt đất.
            - Các ông có lầm không?
            - Lầm làm sao được, ông thiếu úy…
Ông Rèn nhìn gườm thằng Điệp có ý bảo giữ yên lặng. Điệp xoay mặt nhìn xa ra con đường có quán bà Tính, đã có bóng người di động…

Chiếc hòm thấm ướt nước rỉ ra ngoài được kê giữa trại trên tấm ván chưa xẻ hòm. Dù được phun thuốc ám mùi, một mùi hôi bốc nhẹ tỏa khắp. Người đàn bà ngồi dựa lưng vào những chiếc hòm đóng xong, sắp sẵn, mắt nhắm như ngủ quên. Ông Mộc trở ra với chiếc áo may sẵn.
            - Ông thúc tụi nó làm gấp để trễ chuyến bay của nẫu…
Ông Thể vói tay nhận chiếc áo rộng, lay gọi thằng Điệp dậy.
            - Ê, dậy đi mầy. Con khỉ ngủ như gà…
Điệp dụi mắt nhìn bao một lượt căn trại, thoáng nhếch mép. Ông Thể đứng dậy trao ly rượu uống dở cho Điệp, lấy que sắt cạy nắp hòm. Điệp uống từng hơi dài, ca lơ lửng:
            - “Ta vì ngươi mà uống cạn, đừng ai hiểu lầm ta say, say đắm men tình, ta uống để quên tất cả điêu linh, quên cuộc tiễn đưa sáu năm về trước; ta muốn khóc đêm nay mềm môi say khướt, cho khỏi nghẹn ngào khóc sướt mướt …”
Ông Tám đổ chè ra hai thúng nhỏ khuấy đều. Ông Rèn giúp ông Thể mở nắp hòm, cạy từng khoảng ngắn. Điệp uống xong ly rượu, mạnh nói mạnh làm. Nó ấn mạnh cây sắt vào một góc hòm, bẩy mạnh. Chiếc hòm khẽ nghiêng, thoát mùi nồng nặc. Họ đã lấy nắp hòm đem đốt. Xác người đàn ông phồng to từng ngón chân, từng bắp thịt. Khuôn mặt trông lạ không phảng phất vẻ gì giống xưa. Người đàn bà được gọi dậy, chồm lên nhìn mặt chồng. Nhìn nét mặt, tia nhìn của bà, thấy thay đổi bất thường luôn.
            - Các ông có lầm không? Người nầy là chồng tôi à? Anh Hy đây hả Nga?
Xác người đàn ông được quấn lại với chiếc áo rộng, khiêng đặt vào chiếc hòm bọc kẽm, giữa hai lớp chè khô. Khi nắp hòm kẽm được khiêng đến, người đàn bà lại hỏi:
            - Các ông có lầm không? Người nầy là chồng tôi à? Ba con đây hả Minh?
            - Các ông có lầm không? Điệp kéo hàn từng đường kỹ chung quanh nắp.

Điệp chở ông Thể trở lên nhà bà Tính trong lúc trời đổ mưa dày. Qua khỏi cầu rẽ về ngả chợ. Điệp phải dừng lại trú ở dãy lều sát đường. Chợ vắng người, những gian hàng hoa quả dọn thu sâu ở trong cũng không có bao nhiêu mạng. Rải rác ở các lều đều có bóng những đứa trẻ đi xin. Những thằng nhỏ, chắc còn đi học, gương mặt sáng nhưng thiếu ăn nên trông yếu đuối. Con của những người tản cư ở miệt gần núi phải giúp gia đình lo từng bữa ăn bằng cách đi xin ở dưới phố và chợ. Hôm mới về lên thăm con Hạ, Điệp gặp thằng con ông Thận làm thầy thuốc bắc cũng có mặt trong đám trẻ nhỏ giành nhau mấy lon đồ hộp của vài người lính Mỹ giữ cầu. Người lính ngồi trên thành cầu thảy xuống từng lon bánh, tụi nhỏ đấm nhau túi bụi, vật nhau tơi bời để nhặt. Điệp nhìn thấy thằng Kính bị xô nhào dưới ruộng ướt lớp ngớp. Cũng từ khi đó Điệp biết gia đình ông thầy Thận sa sút nhiều. Và cái xóm trước kia nó thường dẫn Hân, Hạ đi nhổ đậu cũng chẳng còn gì. Điệp mơ hồ thấy tiếc khúc sông xanh nước trông rõ cát trắng mọi khi nhổ xong một ngày đậu, nhảy tùm xuống tắm. Bây giờ biết đâu con sông đó cũng có vài thây người chết không tìm ra xác?
            - Thôi đi đại Điệp ơi, không tối mất…
            - Tối thì ngủ lại chớ mắc mớ gì sợ?
            - Mầy thì sao cũng được, ngặt tao…
Ngặt tao còn con khỉ ở nhà nữa, ông Thể muốn nói trọn câu nhưng thằng Điệp đã dắt xe ra khỏi lều, không chú ý nghe, nên thôi. Lên xe ngồi cẩn thận, ông Thể nhắc:
            - Dụ mẽ uống rượu nghen mầy?
            - Ô kê.
Từ xa, Điệp thấy quán bà Tính đóng kín cửa, hơi nản.
            - Xui quá cha ơi, mẽ đóng cửa đi đâu rồi kìa…
            - Cứ kéo cửa coi thử, biết đâu mẽ nằm ở trỏng.
Biết đâu mẽ nằm ở trỏng, càng tốt. Điệp nghĩ bụng sẽ phục rượu cho mẽ say. Khi Điệp quay xe định trở về thì bà Tính gọi giật lại, Điệp cười ròn: “Ạ, vậy là chưa hết thời mà.”
Điệp kéo hẳn xe để vào trong, nhìn bà Tính, cười:
            - Đem rượu cho quả nhơn đi…
Bà Tính cười híp mắt, trông khuôn mặt hơi mập. Vẻ hồng hào của một người đàn bà bị chồng bỏ lâu năm, không có con, khiến ông Thể nhìn đăm đăm. Không biết ai mách lại với bà Thể về chuyện nói đùa của bọn ông Rèn, thằng Điệp, ý định cưới bà Tính của ông Thể, nên hễ cứ mỗi lúc nói về chuyện tiền nong, bài bạc, rượu chè… Bà Thể cũng thường nhắc tên con mẹ Tính đa tình, hấp dẫn…
            - À, cha mê con mẹ Tàu lai đó mà… làm sao bỏ rượu? Ấy lên đó ở với bả cho yên đi.
            - Mệt quá bà ơi…
Bà Tính rót rượu ra hai chiếc ly nhỏ, ông Thể ngồi sâu ở góc giường kêu cho một ly lớn, bà Tính lườm:
            - Uống rồi còn về dưới đó, đừng có say như bữa trước vợ ông chửi tui, mệt lắm à…
            - Ngủ lại đây mà.
            - Đồ quỉ nà.
Điệp thêm:
            - Ngủ thiệt mà đâu có giỡn.
Khuôn mặt bà Tính bỗng hồng, đôi mắt hơi ướt. Những cử động của bà sau đó hơi vội, có lẽ quá lâu mới nghe nhắc tới chuyện ngủ, bà tỏ thẹn ra mặt không giữ được. Điệp đẩy ly rượu về phía bà Tính.
            - Mời chủ nhà?
            - Tui thường uống ít ít cho vui chớ đâu uống nhiều vầy? Đưa tui sang bớt…
Khi Điệp bưng ly rượu đưa lên miệng bà, bà Tính không phản đối. Điệp rót đến ly thứ ba thì mặt bà Tính đỏ nhừ, đôi mắt như tê dại dần, phải chống tay vào vách mới để khỏi ngã xuống. Điệp đưa bàn tay ra trước mặt bà Tính, vuốt nhè nhẹ, bà Tính bật nằm dài trên giường …
Ông Thể để thằng Điệp nằm ngủ lại nhà bà Tính, rón rén đẩy tấm phên tre lách mình ra ngoài. Khung trời nhỏ hẳn vì mây. Bóng tối rơi loãng trên các chòm cây sau khu chợ. Ông Thể nghe nóng ở bụng muốn ghé quán tìm vài lá bánh xèo, nhưng ngại tối nên đạp thẳng.
Bà Thể ngồi ở võng, ôm thằng Chơn trong lòng, đợi ông Thể về. Trong nhà tối om om. Ông Thể dắt xe vào ngõ.
            - Trời ơi, ông đi bài bạc thấu giờ mới về à? Vợ chồng, tui nói ông không nghe, chớ ông nghe ai? Ăn một mâm ngủ một giường mà còn vậy thì hết nước…
            - Mệt quá bà ơi…
            - Chà mùi rượu thơm dữ, có bấy nhiêu cho con mẹ Tính nó ăn, cho mấy con bài nó ăn, có nghĩ gì về vợ con đâu?
            - Mắc làm cái hòm kẽm cho nẫu về Saigòn gấp, cứ càm ràm miết, dai như đỉa đói mà.
            - Có chắc ông không đi đánh bài nhà ông Mộc, thằng Khê không đó?
            - Sao lại không chắc.
            - Chắc ông không đi uống rượu nhà bà Tính không đó?
            - Sao lại không chắc.
            - Thôi thôi cha ơi, tui hết tin cha rồi, từ khi cha đánh bạc cha trổ tài nói láo không ai theo kịp… Tui biểu bỏ cái nghề đó đi cho rồi, không làm ăn nên nỗi đâu.
            - Bà cứ nói chuyện trên trời dưới đất, mình làm đó cũng như làm phước.
Ông Thể đã có lần nghe thằng Điệp kể cái lý luận của nó về chuyện làm công việc tẩm liệm xác chết với mẹ nó, trong đó ông nhớ có câu “mình làm cũng như làm phước” và bỗng thấy thằng Điệp quả khôn ngoan. Thấy bà Thể không thể tiếp tục nói nữa, ra chiều suy nghĩ, ông bỏ ra bếp tìm cơm ăn. Hai người coi nhau như có nợ phải trả, nên sự gần gũi trao đổi như một bất đắc dĩ. Thực ra thì ông Thể vẫn còn nghĩ đến thằng Chơn, nên muốn có thằng Chơn - em. Bà Thể vì tính nói dai như đỉa, làm bà càng xấu dưới mắt chồng. Không gợi cho ông một cảm giác nhẹ nhàng, ham thích nào như lúc nhìn bà Tính, trừ nụ cười thoáng điểm thoáng tắt lúc ông Thể giao tiền vừa lãnh hơi khá khá một chút. Đôi lúc rỗi, bàn đến chuyện con cái, bà Thể dẫy nẫy:
            - Thôi tui ngán có con rồi, có hai đứa không nuôi nổi, ông có tới cũng miễn…
Ông Thể nói đưa đẩy:
            - Ai mà thèm tới, bộ bà đẹp quá… Bà Tính nằm chờ tôi hòai kia mà…
            - Được mà, còn đó chớ chạy đi đâu được ông, chừng nào tới tui nhắc… Tui đạp xuống giường!
Ông Thể cười bâng quơ không vì lời bà Thể, vì nhớ lúc bà Thể mới về, nằm bên ông còn khóc ung úc. Đêm đầu tiên bên bà in mãi trong trí ông thật tuyệt, thành ra đôi lúc ông còn mò tới thực. Lúc đó ông quên hẳng những lời càm ràm của vợ, nhớ những giọt nước mắt đêm đầu tiên. Đang nghĩ ngợi vơ vẩn trước mâm cơm, ông Thành cầm dù bước gần lại.
            - Đôi máp đôi máp đen ông lấy của lính chết, còn đôi nào không ông Thể?
            - Đôi bốt-đờ-sô hả? Bốt-đờ-sô mà cứ máp máp… Chi vậy?
            - Bán cho thằng Hai.
            - Tui cho ổng cảnh sát rồi. Cái võng nầy cũng lấy của ông chuẩn úy, trẻ măng…
Những đôi bốt-đờ-sô, những chiếc võng ni-lông, những cái mũ, những bộ quần áo rách vì vài lỗ đạn, những khăn tay… ông Thể lấy về thường ám ảnh ông trong những giấc ngủ. Trong cơn mê, những thân thể nở to từng ngón chân, bắp thịt, những thây người bê bết máu nhập nhằng, đôi lúc ông la hoảng như điên. Cũng tại vì vậy mà bà Thể gọi ông là “khùng” – ông Thể khùng!.
Trong lúc ông Thể đang loay hoay trên mái hiên, căng tấm ni-lông trùm những lỗ rách, thì ông Mộc dừng xe, vẫn để máy nổ:
            - Ông Thể đâu bà?
            - Trên mái nhà kìa…
Ông Mộc ngước lên, nói lớn:
            - Lên nhanh nghe ông Thể.
            - Mấy người?
            - Hai.
            - Trời, làm gì kịp?
            - Hòm thường, ở gần đây.
Nghỉ một lát, giọng ông Mộc lại vọng lên:
            - À, còn thằng Điệp đâu? Ở sòng nào ông biết không?
Tiếng ông Thể cười:
            - Sòng nhà bà Tính, nó đang du dương ở trên ấy!
Gió rạt rào trên các ngọn tre lả
ngọn, mưa bay từng đợt thốc ngược vào người, ông Thể chợt nhìn bầu trời đen đặc như đóng kín chung quanh:
            - Chà, lại sắp bão…

Tuy Hòa. Tháng 11 năm 1969


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 07.7.2014.