Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGỌN NẾN ĂN NĂN





          BA MẸ CON (Tập truyện ngắn)


N hững năm tháng cô đơn, không có cuộc sống ổn định và không nơi cư trú lâu dài, đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý của Đỗ Tất Phú. Phần khác, lý tưởng cách mạng mang tính lãng mạn, không thể hiện được do sự phân hóa và thiếu lãnh đạo, cũng như bối cảnh xã hội, chính trị, Đỗ Tất Phú đã gửi vào Tập truyện ngắn của anh, có tựa đề Ba Mẹ Con, ký bút danh là Đỗ Ngọc Trâm. Cơ sở xuất bản Đại Nam Văn Hiến của nhà văn Thế Phong ấn hành, phổ biến trong thân hữu, mấy năm đầu thập niên 1960.

 
Đỗ Tất Phú chỉ có một tập truyện này và mất sớm trước khi ông nhìn thấy đứa con trai đầu lòng của mình là Đỗ Tất Trung biết đi. Thấy thiếu sót với người bạn quá cố, với con trai của ông và với chính mình, nên tôi đề cập đến tập truyện Ba Mẹ Con ở đây, cũng chính là nhìn lại một giai đoạn, một quãng đời của thế hệ chúng tôi qua Văn xuôi, cùng thời với hai tập thơ của tôi : Người ôm mặt khóc và Tiếng hát khuẩn trùng.
 
Ba mẹ con, là tên một trong sáu truyện ngắn của toàn tập, phản ảnh một phần sự thật, rất thật, về bối canh xã hội Việt Nam trong chiến tranh. Truyện cũng phơi bày những bế tắc, những trăn trở, những thất bại trong tình yêu.
 
Cuộc sống của tác giả phần lớn gắn liền với những xóm lao động nghèo trong thành phố, nên hằng đêm, ông đã thấy ở đó diễn ra những “vở kịch”:
 
Trời tối hẳn xuống. Từ trong hàng thịt chó hai người mặc quần áo bà ba loạng choạng bước ra. Họ giơ tay và làm điệu bộ và hát những bài vọng cổ rất mùi. Mọi người xúm quanh lại. Tôi cũng như họ, tự nhiên lại được xem diễn kịch không mất tiền mua vé. Ở cái xóm nghèo khổ này người ta thường dễ dãi cười sau những giờ vất vả. Những đám đánh nhau chửi nhau hay những người say rượu là những trò giúp vui cho người trong xóm. Thế mà những trò này hầu như không ngày nào là không có.
 
Hai người mặc bà ba bắt đầu trình diễn một vở kịch. Hơi men làm họ có điệu bộ, giọng hát rất lôi cuốn. Ba mẹ con trước cửa nhà tôi cũng có mặt. Con mẹ cười híp mắt lại. Con chị mặc cái áo hở cổ rất cộc, tóc uốn ngắn. Con em trông xinh hơn, tóc để dài như Pier Angêli. Tên học sinh bên cạnh chạy vội ra làm như vô tình đứng sau con em. Từ trên cao nhìn xuống tôi thấy nó dúi vào tay con này một mảnh giấy nhỏ.
 
Dưới đường hai người đàn ông vẫn tiếp tục diễn kịch. Người thứ nhất đóng vai vua. Hắn giơ cao tay áo rộng, bệ vệ như một vị thiên tử. Người thứ hai cúi rạp mình. Điệu hát chấm dứt ở một âm thanh rất trầm. Mọi người vỗ tay. Giọng hát dần dần líu lại. Cũng vừa lúc đó có hai người đàn bà đến lôi họ về.” (Truyện Ba mẹ con, tr.8)
 
Người đàn bà trong câu chuyện trên, lấy trai, mới sinh được đứa con còn nhỏ. Người chồng ở xa về biết chuyện, uống rượu say, đánh chửi vợ, đập phá đồ đạc trong nhà. “Nhưng rồi cũng vứt lại cho vợ một ít tiền để nuôi con. Không ai biết hắn làm gì. Người ta bảo hắn thương con lắm. Nếu không có những đứa ấy, hắn đã không bao giờ về đến nhà để nhìn thấy mặt con vợ khốn nạn của hắn.”
 
Trong truyện Những ngày mưa đầu mùa, tác giả nói đến câu chuyện tình yêu của mình. Nó là một sự thật, không hư cấu, không tiểu thuyết hóa tình yêu của mình, một tình yêu bị ngăn trở, khổ đau. Nhưng họ đã cương quyết vượt qua. Chính lúc ấy, người con gái, em của người bạn, ngã gục trong một tai nạn giao thông trên đường phố!
 
Tôi nắm chặt tay Huyền, nét mặt thoáng vẻ sợ hãi. Huyền quay lại :
-Anh sao thế?
-Anh sợ…Anh muốn hai bàn tay chúng mình liền vào nhau, như thế không bao giờ em xa anh được.
-Anh không tin em? Em nghĩ sau những ngày giận nhau, chúng mình hiểu nhau hơn. Và bây giờ chỉ có chết mới làm chúng mình xa nhau.
 
Tôi lo sợ. Huyền đã nói đến cái chết. Có thể thế được không? Định mệnh khắt khe sẽ đến chụp lên thân phận tôi. Tôi nhớ lại những hình ảnh nối tiếp từ khi tôi ra đời. Bất hạnh. Đau buồn. Tôi sẽ bất hạnh trong tình yêu? Đã từ lâu tôi sống không tình cảm. Hồi bé, cha mẹ tôi bận buôn bán, thường bỏ mặc tôi lang thang ngoài phố. Tôi đi chơi suốt ngày, làm bạn với những đứa trẻ không nhà. Khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ, mẹ tôi qua đời. Lúc ấy chỉ có mình tôi là con trai ở bên người. Hai anh tôi còn ở mặt trận. Từ đây tôi bị hắt ra đời. Tôi đem lòng quả cảm để vươn lên nhưng hoàn cảnh vẫn bắt tôi phải cúi xuống.
Khi gặp Huyền, tôi yêu nàng bằng tất cả tình cảm của tôi. Tôi khao khát được an ủi và thương yêu. Hôm nay ngồi bên Huyền, đen tối và mặc cảm tạo cho tôi những cảm giác lo sợ…”(tr. 15)
 
Tôi gặp tác giả tập truyện Ba mẹ con sau ngày người yêu anh mất. Mấy năm sống với nhau trên căn gác nhỏ, tôi không thấy anh nói đến một tình yêu nào khác, ngoài Huyền. Bây giờ nhân lúc nhắc đến anh, đọc lại tập truyện của anh, tôi mới thật sự hiểu anh. Vóc dáng cao gầy, khuôn mặt xương xương của anh hiện rõ lên trong tâm trí tôi. Anh không bao giờ nói đến việc đi làm, chấp nhận cuộc sống khó nghèo đến khó hiểu. Tất cả, anh đã gửi vào tập truyện duy nhất này. Tất cả, anh đã mang theo …
 
Huyền nói chuyện về vài người văn nghệ. Tôi mỉm cười vì thấy ngộ nghĩnh. Huyền tiếc cho sự xuống dốc của một vài người. Tôi nói:
-Có lẽ họ lo sinh kế quá.
-Anh nhận xét đúng.
-Nhưng sống đầy đủ cũng không viết được.
-Vì thế anh không chịu đi làm.
-Có lẽ. Vì anh muốn tạo cho anh những ý nghĩ chua xót. Anh muốn được đau khổ đến tê buốt tâm hồn. Và chính điều này Huyền đã giúp anh. Nhưng bây giờ anh sẽ đi làm, vì em không sống như anh được.
-Huyền không muốn anh đổi ý nghĩ.
-Không. Anh vẫn mang những ý nghĩ ấy và sẽ đi đến cùng.
-Nhân vật đến với anh hình như đều bị anh khoác cho một vẻ đau đớn.
-Anh cho rằng thời đại chúng mình là thời đại chua xót vô lý. Những bất trắc luôn luôn rình rập con người ở mỗi đoạn đường”. (tr. 14)
 
Cô đơn. Đau khổ trong cuộc đời. Tình yêu đã mất. Đất nước chiến tranh. Một người bạn lính đào ngũ từ trung đội trừng giới…đã làm anh không còn một niềm tin:
 
Anh chán nản bỏ đi. Con đường dài đông người. Thành phố đèn xanh đèn đỏ, xe cộ và bụi. Tất cả hợp thành một bộ máy khắc nghiệt, nghiền nát con người thành những mảnh vụn. Qua một hiệu sách…Sách tôn giáo phủ đầy bụi…Đúng ra, Vĩnh cũng có những thắc mắc siêu hình. Nhưng cuộc đời dồn dập làm thắc mắc đó tan biến đi ngay. Anh chỉ không muốn bị ràng buộc vào một tôn giáo nào. Anh cho con người là phải có tự do. Tự do sống cũng như tự do suy nghĩ.” (truyện Buổi chiều, tr.22)
 
Nhưng tiêu biểu cho thế hệ của mình sống trong thời buổi chiến tranh, tác giả đã gửi tâm sự của mình vào truyện Ba người trong gác trọ, “với tính tình khác nhau lại có thể sống chung dưới một mái nhà. Rất thân yêu. Anh nghĩ đến căn bệnh của mình. Các bạn đã không xa lánh, còn tìm cách an ủi…” (tr. 25)
 
Anh nhớ lại từ ngày đến sống với Miên và Chi. Anh thương bạn và thương mình. Nhiều lần ba người phải chia nhau mẩu bánh, từng điếu thuốc. Hay có ngày nhịn đói, chỉ ngồi nhìn nhau buồn. Những lúc ấy Dũng thường nói với các bạn:
-“Tao muốn bỏ đi thật xa…”
Dũng tự biết mình đã mất lòng tin. Anh không còn gì cả, ngoài vi trung Koch đang làm mòn mỏi hai lá phổi anh, còn bao thứ vi trùng khác…Chi đã bỏ học, bỏ cả hạnh phúc riêng để sống theo lý tưởng. Trái với Chi, thằng Di đi dạy học nhưng chỉ nghĩ đến tiền. Quốc ở nước ngoài về, vênh vang sống trong cái vòng tròn riêng mình.(tr.25)
 
Và đây là không gian trong căn gác trọ của ba người bạn:
Dũng tựa lưng vào tường. Mắt nhìn khoảng trời trắng đục. Một vị nhạt dâng lên đầu lưỡi (…) Miên vẫn ngồi im ở cuối căn gác, đầu nghiêng nghiêng trên những trang giấy. Hai người cùng không thốt ra một lời. Sự im vắng của buổi chiều thấm dần vào lòng Dũng. Cảnh vật chung quanh chỉ là những cảnh vật chết trước mắt anh. Anh mỏi mệt thu đầu gối vào ngực rồi vòng hai tay ôm lấy chân, mắt đăm đăm nhìn xuống sàn gác  trống. Những hạt bụi nhỏ bơ vơ. Thốt nhiên Dũng thấy mình như những hạt bụi đó. Không sống. Không chết. Không suy nghĩ. Cả thế giới biến động ngoài kia không liên hệ gì đến anh. Những thây người ngã xuống. Những tên Tây đen đang đốt phá quê hương anh. Trước những hình ảnh ấy, anh chỉ cảm thấy xa lạ.
 
Có tiếng chân trên cầu thang. Đều đều mỏi mệt. Chi bước vào căn gác (…) đến ngồi bên Dũng. Chi đưa cho mỗi người một mẩu bánh.
-Tao sắp đi lính.
-Đi lính?
-Ừ, ít ra tao cũng không lo chết đói.
Dũng bảo:
-Chúng mình phải nghĩ lại? Mày nhớ Tao đã đào ngũ ra đây?
-Tao biết mày định nói gì. Giữa Tây và Cộng sản mình không có quyền chọn lựa bên nào. Nhưng tao vào lính chỉ để sống. Thế thôi.
-Còn lý tưởng?
-Tao vẫn nhớ.
 
Dũng nhìn bạn rưng rưng. Anh cũng đã sống một thời gian trong quân đội. Khi đang trọ học ở đây thì được tin gia đình bị du kích lùng giết cả. Anh nằm khóc suốt buổi chiều. Đêm hôm ấy anh chợt thấy, nước mắt không làm quên được gì. Từ khuôn mặt mẹ già đến khuôn mặt người em gái nhỏ cứ hiện ra trong giấc mơ. Sau cùng anh quyết định xin vào quân đội Pháp. Rồi trong một cuộc hành quân về làng, anh say sưa bắn vào bọn người đã giết chết gia đình anh. Một hôm Dũng bênh bạn đồng đội đánh một sĩ quan viễn chinh. Vì thế anh bị gửi đến trung đội trừng giới. Và bây giờ anh đang trốn về đây, sống với Chi và Miên. Dửng dưng trước cuộc đời.
 
Dũng đưa mắt nhìn bạn. Khuôn mặt Chi chìm trong bóng tối mà Dũng vẫn nhìn thấy đôi mắt long lanh. Miên bỏ quyển sách xuống bàn, từ lúc Chi về, Miên chưa nói một câu. Miên cảm thấy không giải quyết được gì. Với số tiền nhỏ hàng tháng gia đình gửi cho Miên, Miên nhiều khi đã phải chung cái đói với các bạn. Miên đến ngồi giữa hai người. Cả ba cùng im lặng nghe giọng hát buồn từ radio nhà bên cạnh. Dũng nằm dài xuống sàn gác. Đèn thành phố để một khoảng sáng dài phía trước cửa.(tr.26)
 
Thế là Chi đã đi rồi. Miên cũng về với gia đình. Chỉ còn mình Dũng với căn gác trống. Dũng đưa mắt nhìn khoảng trời cao và trong. Buổi sáng đưa Chi đến trại. Trời mưa nhẹ. Hai đứa đi sát vào nhau.
 
Đến trại lính. Người đưa tiễn đứng trước cổng trại…Chi lên xe rồi khuất dần trên con đường dài.
Lúc trở về (…) anh lại rẽ sang một phố vắng. Mưa bụi vẫn bay. Những cành lá chơ vơ trên nền trời trắng đục. Bóng thánh đường hiện ra sau những lùm cây. Anh bước lên thềm mang theo một linh hồn đầy tội lỗi. Bên trong thánh đường hơi tối. Tượng Đức Mẹ in hình phía trên. Dưới hàng ghế có một người đàn bà áo đen gục đầu khóc lặng lẽ. Dũng nhìn những ô kính mờ, lòng vẫn thản nhiên trống vắng. Những hàng ghế cô đơn, những ngọn nến, những bức ảnh. Tất cả chỉ làm cho Dũng thấy xa lạ. Anh mong được cứu rỗi nhưng khi bỏ thánh đường lại phía sau, anh chỉ thấy tội lỗi hơn. Anh đã đến trước mặt Chúa mà không có niềm tin. Anh muốn khóc…” (tr.28).
 
Đọc tập truyện ngắn Ba mẹ con của Đỗ Ngọc Trâm, tôi thấy tôi, gặp lại con người tôi ở trong đó vào một thời, một giai đoạn nhiều chua cay, nhiều biến động. Có lúc tôi đã bỏ Sài-Gòn lên Ban Mê Thuột mấy năm, rồi lại trở về vì căn bệnh phổi.Gặp lại bạn học cũ, tôi cảm thấy mình đã khác bạn bè. Nhưng trong các buổi gặp gỡ, chuyện trò, vấn đề thời sự đã đựơc xen vào chung quanh việc tương lai của từng người. Không ai biết mình sẽ làm gì giữa lúc Sài-Gòn đã xảy ra những biến động chính trị, một vài nhóm chính trị tỏ thái độ chống chế độ đương thời lúc ấy, qua cuộc đảo chính, tuần lễ đầu tháng 10/1960, song thất bại. Ngay lúc đó, chính quyền Mỹ đòi ông Diệm mở rộng cơ sở chính trị của chính phủ. Điều này chỉ có nghĩa ông Diệm phải dùng những thành phần chính trị khác nữa. Đó là một thái độ Hoa Kỳ ủng hộ lập trường của một đơn vị quân đội đã phản kháng ông qua hành động quân sự kia. Hai sự kiện này, có vẻ như “ăn khớp” với nhau rất nhịp nhàng với những hành động của phía Cộng sản. Hoặc là người Cộng sản đã biết nắm cơ hội qua hành động khủng bố ngay tại Sài-Gòn. Đến tháng 12/1960, họ tiến một bước dài nữa : thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
 
Tôi đã hỏi một người bạn thân của Đỗ Tất Phú, qua điện thoại, từ bên kia Thái Bình Dương. Người này quen với Phú từ ngày còn ở thành Nam trước kia. Ông kể cho tôi một vài chuyện đời của Phú, từ hoàn cảnh gia đình hồi còn ở miền Bắc, rồi sau này tại Sài-Gòn, chuyện học hành, chuyện tình yêu, cho đến lúc Phú thi đậu Tú tài toàn phần, vào Đại học Sư phạm, mắc bệnh lao phổi. Điều này nếu Phú nghe lời Bác sĩ, thì anh miễn được việc đi lính, năm 1967. Nhưng như một truyện ngắn trong tập Ba mẹ con, anh đã bỏ học để vào lính. Cuối cùng là cái chết ngoài mặt trận của anh, năm 1971.
 
Qua cuộc nói chuyện dài gần một giờ đồng hồ này, tôi đem đối chiếu với một vài truyện trong tập Ba mẹ con, thì thấy con người của tác giả ẩn hiện lên trong truyện này truyện kia, từ ngôn ngữ cho đến ẩn sâu trong tư tưởng. Mặt khác nhiều năm sống với tác giả, tôi hiểu tính cách của con người tác giả, quan niệm sống của tác giả. Vì vậy, tôi biết Phú viết rất thực về cuộc đời của anh, về thời đại và xã hội anh đã sống. Đó cũng là thời đại và xã hội tôi sống. Cho nên, có những giai đoạn và mảnh đời của anh, tâm tư của anh, ít hay nhiều, cũng là những giai đoạn, là mảnh đời, là tâm tư của tôi. Chỉ khác anh ở điểm tôn giáo.
 
Chẳng hạn, truyện Ba người trong gác trọ, tác giả nói đến việc anh đưa tiễn một trong ba người sống chung ở một căn gác, lên đường đi tới trại lính, còn người thứ hai thì đã về với gia đình. Nay chỉ còn lại một mình anh với căn bệnh lao phổi. Đứng trước cổng trại lính, anh nhìn bạn lên xe rồi khuất dần trên con đường dài. Lúc trở về,  anh đi trên một phố vắng. Mưa bụi bay…
 
Đấy là một giai đoạn và một mảng đời lẻ loi, nghiệt ngã, một bước ngoặc bi đát của tác giả. Anh mang nó đi vào một ngôi thánh đường. Ở nơi này, anh lại thấy “dưới hàng ghế có một người đàn bà áo đen gục đầu khóc lặng lẽ”. Còn anh, “Anh đã đến trước mặt Chúa mà không có niềm tin.” (tr.28).
 
Còn tôi, cũng có những tháng ngày mắc bệnh lao phổi. Có đêm ho ra máu, người bạn sống chung gác trọ, cũng chính là tác giả tập truyện trên đây, phải chở tôi vào nhà thương Hồng Bàng bằng chiếc xe đạp của anh. Người ta dẫn tôi vào phòng cấp cứu, tiêm cho tôi một mũi thuốc, rồi cho về.
 
Có lúc tôi cũng đi đến nhà thờ. Và đã thấy :
 
Trên kia tiếng hát nữ tu đơn điệu
Dưới này một người ôm mặt khóc”
(1963)
 
Mọi hình ảnh trong nhà thờ, với tác giả Ba mẹ con, anh chỉ thấy xa lạ, “những hàng ghế cô đơn”. Nhưng với tôi, những hàng ghế này làm tôi liên tưởng đến “những linh hồn”. Nơi cái ghế và một ngày nào đó, tôi cũng ra đi!
 
Tôi mang niềm đau lớn khôn đi vào thánh đường
Buổi chiều cuộc đời tâm hồn tôi âu lo
Những hàng ghế song song đều nhau như những linh hồn sám hối
Bây giờ tôi ngồi đây trước Thượng đế
Hai bàn tay úp mặt
Cuộc đời bên ngoài diễn ra những đau đớn anh em bạn hữu…
(1963)
 
Tôi khác anh là vậy. Nhưng lại như giống anh, gặp lai chính mình ở một nơi trong truyện : Người bệnh trong giấc ngủ (tr.19)
 
Trời bắt đầu mưa. Không khí lạnh từ ngoài phà vào làm người tôi nhẹ hẳn đi. Tôi thấy mình bồng bềnh trên không gian, như người bệnh vừa qua một cơn sốt. Gió từ địa ngục thổi lên bỗng làm tôi tê buốt. Bao nhiêu ý nghĩ dồn nén trong tiềm thức thoát hẳn ra ngoài. Tôi bước ra mái hiên, nhìn những giọt nước màu tím ào ạt chảy. Tôi đưa hai bàn tay trống trơn hứng mưa. Tay tôi đen sẫm lại. Tôi ấp lòng bàn tay lên trán. Tôi bỗng lùi lại, mười đầu ngón tay tê buốt, những giọt máu đỏ chảy xuống ròng ròng.
 
Tôi thoát ra ngoài phố, chạy dài theo bóng tối. Những con chó đói mù mắt đang vục đầu tìm thịt người trong thùng rác.” (tr.19)
 
Kinh dị. Ma quái. Bệnh hoạn. Cô đơn, là cảm nghĩ của tôi sau khi đọc xong truyện này. Đem đối chiếu với một số bài trong hai tập thơ của tôi, ra đời cùng thời với tập truyện Ba mẹ con của Đỗ Ngọc Trâm, tôi thấy nó có nhiều điểm tương phản song lại có nhiều điểm tương đồng khi xét về mặt ngôn ngữ và tính chất của nó. Chẳng hạn, khi một con chuột lớn chết ở trong nhà, đã bốc mùi hôi, tôi đã viết một bài thơ về việc này, đặt tên là CHUỘT :
 
Tôi thức dậy bởi không khí độc trong nhà
Con chuột lớn nằm chết cạnh thùng giấy
Da thịt rữa nát
Tôi bỏ chạy ra sân
Hình ảnh nó lớn dần trong óc tôi
Buồn nôn trào ra miệng lưỡi
Tim phổi tôi có lẽ đầy khuẩn trùng
Tôi sợ hãi bỏ ra phố
Một người đàn bà đang bới thùng rác
Những con chó đói chạy quanh
Chiếc xe rác vừa đi qua
Tôi đưa tay ôm ngực
Tim phổi tôi như không còn hơi thở
Miệng lưỡi tôi muốn trào ra những dòng máu
Những dòng máu đầy khuẩn trùng.
 
(Người ôm mặt khóc, 1963)

Năm 1967, đang học ở Đại học Sư phạm Sài-Gòn, nhưng tác giả tập truyện ngắn Ba mẹ con đã bỏ học để vào trường Võ bị Thủ Đức. Cũng đầu năm này, tháng 2/1967, tôi dự một cuộc thi tuyển vào Biên tập viên, HSQ đồng hóa, BTL/KQ, căn cứ ở TSN. Còn Đỗ Tất Phú, sau khi ra trường, anh được chuyển đến SĐ 21 BB. Mấy năm sau, anh cưới vợ, người Cần Thơ. Và rồi…, anh đã tử trận. Đứa con trai đầu lòng của anh chưa biết đi.
 
Khi tôi được tin Đỗ Tất Phú mất, tôi và Trần Ngọc Tự, một sĩ quan trẻ cùng phòng với tôi, vội vã xuống Cần Thơ dự lễ tang. Bạn hữu thân thiết nhất đã có mặt. Trên nắp áo quan của anh, thay vì phủ lá cờ Tổ quốc như thường lệ đối với những chiến sĩ Cộng Hòa tử trận, nhưng với Đỗ Tất Phú, các bạn anh đã phủ lên lá cờ VNQDĐ. Tôi ở bên anh trọn một đêm. Sáng ngày hôm sau, đưa anh ra nghĩa trang. Trong lúc chiếc áo quan ôm trọn thân xác gầy còm của anh được hạ xuống huyệt sâu, tôi đã khóc nhiều, hai tay bấu vào mép huyệt cơ hồ như sắp ngã xuống, thì anh Lữ Tuấn Nguyễn Công Luận, Giám đốc Trung tâm Chiêu hồi Thị Nghè, đã phải kéo tôi ra khỏi giây phút âm dương cách biệt đó.
 
Sau ngày Đỗ Tất Phú mất, tôi đã có một giấc chiêm bao thấy anh về. Tôi nghĩ rằng anh về để báo cho tôi biết anh đã tử trận ở đâu. Anh như đang từ trên cao dẫn tôi “đi xuống” một khu rừng đang có trận chiến. Anh bay đi như cánh chim trước mặt tôi, không có thân xác mà chỉ là cái bóng mầu trắng, hai con mắt lõm sâu đen lòm.
 
Đấy là dấu hiệu, Đỗ Tất Phú đã chết tại trận chiến này?!


@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 07.7.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn