Việt Văn Mới
Việt Văn Mới



Đôi Điều Mạn Đàm

với

Nhân Dân Trung Hoa Anh Em.




Đất nước Trung Hoa có trên 50 dân tôc khác nhau, trong đó người Hán chiếm 94%. Còn lại là thành phần các dân tộc khác không phải Hán gồm người Tạng, Mãn, Mông, Choang, Duy Ngô Nhĩ… nhưng lại sinh sống trên một lãnh thổ rộng tới 60% diện tích đất đai bao la bát ngát. Như vậy, người Hán – dân tộc chính truyền thống của đất nước rộng lớn này lại bị chèn ép cư ngụ trên một địa bàn rất hẹp : 40%.

    Ít ai biết đâu là nguyên nhân. Bây giờ thì chuyện ấy đã rõ do người Hán đã bị đồng hóa nắm quyền cai trị trong thời gian dài 300 năm với hai tộc ngoại lai là Mông và Mãn, còn được gọi là rợ Hung Nô xâm nhập chiếm đóng từ bên kia phía Bắc dãy Trường thành vạn lý.

    Những người anh em bị áp bức bóc lột và chèn ép thân mến ! Nhân dân Trung Quốc ngày nay nên hiểu rằng Hán tộc là dân chính thống của Trung Hoa có nguồn gốc từ “Người vượn Bắc Kinh” (Sinanthropus) mà trung tâm điểm là Chu Khẩu Điếm, một hang động nằm ở cách tây nam Bắc Kinh 40 Km, sinh sống khoảng 50 vạn năm về trước ở lưu vực sông Hoàng Hà. Còn nhân dân Trung Quốc được viết tắt từ thuật ngữ “Trung Hoa Dân quốc” được các nhà cách mạng Trung Hoa mới đặt sau này dựa theo cương lĩnh cách mạng do Tôn Trung Sơn đề ra :”Đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, kiến lập dân quốc”. Trung Quốc có nghĩa “Nước của người Hoa đứng ở vị trí trung tâm đất nước rộng lớn có bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.

    Nền văn minh Hán tộc đầu tiên trải qua thời kỳ xã hội nguyên thủy với các giai đoạn phát triển lần lượt từ Hoàng Sào, Toại Nhân, Phục Hi, Thần Nông và các Hoàng đế Nghiêu, Thuấn, Vũ…Từ 2205-221 trước Công nguyên Trung Hoa chuyển sang thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ và tới đời nhà Tần (Tần Thủy Hoàng) chuyển sang thời kỳ chế độ phong kiến (221 trước CN tới 1840 sau CN). Trong thời kỳ Tần – Hán (thế kỳ thứ III tr. CN – thế kỷ thứ III sau CN) chế độ phong kiến lần lượt mở rộng ra cả nước, được xây dựng và phát triển vững mạnh. Dân tộc Hán hiền hòa, thuần khiết, văn minh với sự hiện diện của nền văn hóa Khổng Mạnh đáng kính nể, dung dị, hiền hòa (đạo Nho) và đạo Phật hòa bình cứu nhân độ thế như một Quán thế âm đã tạo ra nền văn minh lấy nhân nghĩa, đạo lý và từ bi bác ái mà ăn ở như tục ngữ “Dĩ hòa di quý”.

    Nền văn hóa, văn minh của Hán tộc ngày nay hầu như không còn nữa mà chỉ thứ văn minh lai căn, hung hãn, tàn bạo, cá lớn ăn cá bé đối với dân tộc Việt Nam “láng à gần” như sông liền sông núi liền núi. Phải chăng tình hữu nghị, mối quan hệ anh em “môi hở răng lạnh” này quên mất đi danh từ “Biển” mà ngày nay, dân tộc không phải Hán trở thành hung hãn, cường bạo đi mở rộng bờ cõi theo đường biển ? Đó là chuyện chiến đoạt Hoàng Sa và xâm lăng vùng biển Đông trên thềm lục địa và đặc khu kinh tế của Việt Nam.

    Nhân dân Trung Hoa gốc Hán tộc anh em thân mến ! Sau các thời đại vàng son đầu tiên do Hán tộc lập ra và xây dựng hàng ngàn năm, xã hội Trung Hoa bắt đầu đi xuống và suy vong từ khi người Mông Cổ xâm lược đồng hóa lập ra nhà Nguyên thống trị Trung Hoa và Hán tộc gần một thế kỷ (1279-1368). Do không chịu nổi ách thống trị bạo tàn của Mông Cổ ngoại lai (còn gọi rợ Hung Nô), nhân dân và nông dân thuộc Hán tộc nổi dậy lật đổ nền thống Mông – Nguyên lập ra nhà Minh ba thế kỷ (1368-1644) đưa nền kinh tế - xã hội ổn định trở lại và có bước phát triển mới do người Hán đoàn kết xây dựng. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu xuất hiện với sự hình thành các công trường thủ công đồ sứ, tơ lụa nổi tiếng…Tới năm 1641, người Mãn Thanh lại xâm lược từ phía Đông Bắc, bên kia vạn lý trường thành, thống trị đất nước rộng lớn và áp bức bóc lột người dân Hán tộc + Mông Cổ. Xã hội nước này lại đi vào khủng hoảng và suy vong. Triều đình Mãn Thanh cai trị Trung Hoa hết sức hà khắc, tàn bạo về mọi mặt. Người Hán bị đồng hóa nặng nề, đếu khắp với mọi bó buộc, áp đặt theo phong tục tập quán và văn hóa Mãn (cũng được gọi rợ Hung Nô), điển hình là “thắt bím đuôi sam” kỳ quặc.
    Chế độ phong kiến áp bức bóc lột của người Mãn Thanh tồn tại tới năm 1911 thì bị Cách mạng Tân Hợi lật đổ. Như vậy, từ thời thượng cổ tới thời kỳ đó, đất nước Trung Hoa không có tên nước. các triều đại phong kiến thay nhau cai trị Hán tộc chỉ gọi đất nước là “Nhà”. Chỉ tới cách mạng Tân Hợi thành công, Hán tộc mới đặt tên đất nước là “Trung Hoa Dân quốc”, gọi tắt là Trung Quốc như đã nói ở trên. Trong khi Lạc Việt có lịch sử dựng nước và giữ nước có quốc hiệu là Văn Lang từ thời đại Hùng Vương, cách nay trên hai ngàn năm.

    Nhân dân Trung Hoa đa số là Hán tộc như nói ở trên, với tinh thần tiến bộ mới đã đấu tranh không ngừng chống các chế độ phong kiến, ngoại xâm giành độc lập dân tộc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ từ 1840 tới 1949. Trong thời kỳ này, Trung Hoa đã bị các đế quốc phương Tây (Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Đức, Bồ) xâm lược, xâu xé, thống trị. Sau cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá vào Trung Hoa từ năm 1918 và sau cách mạng XHCN Trung Hoa thành công, đảng Cộng sản đã được thành lập từ năm 1921 và xây dựng đất nước này theo con đường cách XHCN từ năm 1949 như đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời năm 1930 và xây dựng đất nước theo đường lối cách mạng XHCN từ năm 1945 sau Cách mạng tháng Tám thành công. Nhưng lãnh đạo của cách mạng Trung Hoa kể từ đây đã tập hợp những người không thuộc Hán tộc chính thống, thuần khiết, có văn hóa mà lai căn, đồng hóa bởi tộc người ngoại lai thiên cư từ phía Bắc cầm quyền trước sau hơn ba trăm năm. Đó là một mẩu người lai căn bị đồng hóa bởi Mông Cổ và Mãn Thanh.

    Dưới chính quyền mới do đảng Cộng sản lãnh đạo thực hiện đường lối “ba ngọn cờ hồng”, đặc biệt xây dựng “công xã nhân dân” và “đại nhảy vọt” đã làm cho nền kinh tế Trung Quốc – Hán tộc bị đảo lộn nguy kịch, đời sống nhân dân Trung Hoa lâm vào tình trạng khó khăn, đói khổ. Cuối năm 1958, nạn đói diễn ra trầm trọng. Đồng ruộng bị bỏ hoang, nhà máy đóng cửa vì thiếu nguyên liệu, lương thực… Tình hình kinh tế - xã hội đen tối, nhân dân đói khổ của thời kỳ này đã làm nảy sinh những bất đồng về đường lối và tranh giành quyền lực trong nội bộ lãnh đạo Trung Quốc. Đỉnh cao của cuộc tranh giành quyền lực trong giới lãnh đạo Trung Hoa là cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” bắt đầu từ tháng 8-1966 của “Bè lũ bốn tên”. Nhiều cán bộ cao cấp bị thanh trừng. Qua nhiều năm “Đại cách mạng văn hóa vô sản”, hàng chục triệu người đã bị tàn sát hoặc xử lý oan ức gây nên một cục diện hỗn loạn, đau thương trong lịch sử Trung Hoa. (Lịch sử Trung Hoa, NXB Giáo Dục – 1991, trang 187). Một vụ tàn sát ở Thiên An Môn đã làm cho Trung Hoa trở về thời đại đồ đá, ăn lông ở lổ, cả thế giới ghê tởm ! Chỉ có những người bị mất gốc Hán tộc và Hán tộc bị Mông – Thanh đồng hóa thì mới diễn ra vụ án hơn cả vụ án đời nhà Tần đốt sách vở, chôn sống học trò vạn vạn người.

    Suốt những năm 60 và 70 cho đến sau khi “bè lũ 4 tên” bị lật đổ, về căn bản đường lối “ba ngọn cờ hồng” vẫn tiếp tục được thực hiện ở Trung Hoa. Trong suốt thời gian này, những người lãnh đạo Trung Quốc không vạch ra được một kế hoạch kinh tế - xã hội dài hạn nào mà chỉ có những kế hoạch hàng năm, rồi sau đó lại phải bỏ ra mấy năm để bổ sung, điều chỉnh lại.

    Về đối ngoại, từ năm 1959 trở đi, những người lãnh đạo Trung Hoa thực hiện một đường lối đối ngoại có phần xa lạ đối với chủ nghĩa quốc tế chân chính và những nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Những năm gần đây, họ theo chủ nghĩa Đại Hán, trướng mà biểu hiện cực đoan nhất mà thời phong kiến vua chúa đã thực hiên chính sách “Cùng binh độc vũ” nhằm mở rộng bờ cõi. Vai trò thao túng của chủ nghĩa quân phiệt đã ngự trị trong hệ thống quyền lực Nhà nước. Với chủ nghĩa đại dân tộc và tham vọng “Mưu bá đồ vương”, luôn luôn đối kháng lại với nhân dân trong nước và nước ngoài, luôn luôn đối phó lại các quốc gia lân cận, nuôi mộng thôn tính, thống trị…Chủ nghĩa quân phiệt Trung Hoa với những quan niệm “duy chiến tranh”, “duy quân đội”, “có quân là có quyền” luôn được sử dụng để tấn công, chiếm đoạt.

    Nhân dân Trung Hoa Hán tộc thân mến ! Ngày nay, trong thời kỳ mới, giới lãnh đạo Trung Hoa vận mê muội đi theo con đường quân phiệt, đại hán, nuôi mộng ảo tóm thâu thiên hạ, nhất là đối với các nước lân cận, trong đó Việt Nam là một thí dụ điển hình. Sự ác độc, tàn bạo, phi nhân, phi nghĩa, vô đạo đức của giới lãnh đạo Trung Hoa luôn áp đặt lên một đất nước có chủ quyền từ ngàn xưa sau khi thoát khỏi hơn một ngàn năm đô hộ của cha ông họ. Cứ tưởng hễ là quốc gia theo đường lối XHCN là đoàn kết, hữu nghị, anh em của hai dân tộc, hai đất nước láng diềng gần kề “sông liền sông, núi liền núi” và “biển liền biển”. Nhưng không, đối với các nhà lãnh phương Bắc XHCN ngày nay, xâm lăng và chiếm đóng được phần nào hay phần nấy. Lớn ăn hiếp nhỏ của cộng sản thời kỳ mới không khác gì phong kiến thời kỳ cũ. Vẫn là “Cùng binh độc vũ” và “Viễn giao, cận công”.

    Do đó, không thời kỳ nào quân phương Bắc không xâm phạm lãnh thổ phía Nam.
Từ thời nhà Hán, sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng, tướng Mã Viện gian manh, tàn ác đã cho dựng trụ đồng ngay biên giới Việt – Trung (có thể ở cửa khẩu Tân Thanh, Hữu nghị hay Móng Cái ngày nay) có khắc hàng chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Ngày nay không còn nữa vì thời ấy, lo sợ họa tai thê thảm từ câu khắc trên trụ đồng mà dân Việt qua lại ném đất đá làm lấp mất đi. Thay vào đó, dân Việt đã biết hy sinh xương máu, mưu trí, dũng cảm phục hận, du kích đánh trả ác liệt cứ mỗi lần có vó ngựa phi qua đây. Vì bị nước lớn dân đông ăn hiếp không ngừng mà dân Việt buộc lòng phải ra tay, có thể trước bị thất bại nhưng về sau đều thắng lợi, tiền hung hậu kiết, làm nên lịch sử oai hùng bất khuất trước họa ngoại xâm phương Bắc. Quân xâm lược bạo tàn thời nào cũng bị phân thây, khiến cho “Lính già ủ ê giật mình khi nghe chuyện Nam chinh !” Do đó, quanh nơi cửa khẩu Lạng Sơn lâu đời đã hình thành câu :”Thập nhân xuất, nhất nhân hồi”, nghe qua vừa cay đắng vừa nhục nhã cho bè lũ nuôi mộng đi xâm chiếm đất nước láng diềng như vụ đặt dàn khoan trái phép, xâm chiếm biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế, dư luận phê phan của nhân dân tiến bộ thế giới.

    Chiến tranh biên giới năm 1979 cũng do phía lãnh đạo Trung Hoa muốn “Dạy cho Việt Nam một bài học” phi nhân phi nghĩa, phi đạo lý. Bài học gì ở đây ? Chưa ai hiểu rõ ràng. Nhưng đó là cách nói và hành động của kẻ luôn cho mình là người lớn, bậc đàn anh. Năm 1974, thừa cơ hội đưa tàu chiến quân đội tới chiếm đóng Hoàng Sa trái phép, bỉ mặt bạn bè cùng chung chủ nghĩa Mác Lên Nin, cùng chung Đảng Cộng sản.

    Cơ hội “đục nước béo cò” , “ngư ông đắc lợi” khi dân quân Việt Nam đang bận cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, lãnh đạo Trung Hoa đường đột đưa tàu chiến chiếm đóng Hoàng Sa và một đảo nhỏ ở Trường Sa. Từ đó đến nay luôn phớt lờ tới việc trả lại Hoàng Sa cho nhân dân Việt Nam. Đầu tháng 5-2014 tới nay, họ cho tàu chiến, tàu kéo, máy bay, gọi là hải cảnh và kiểm ngư xâm phạm ngăn hải phận và thềm lục địa Việt Nam để đặt dàn khoan khai thác dầu khí bất chấp tình nghĩa hai nước, hai nhân dân, hai Đảng cộng sản và luật pháp quốc tế.

    Hàng ngày lực lượng phi nhân này tìm cách gây hấn với các tàu cảnh sát biển, kiêm ngư và ngư dân đánh bắt cá ở biển nhà của Việt Nam bằng cách vây ngăn các tàu Việt Nam, va đụng và phun nước hãm hại dân Việt Nam không cho tới gần nơi họ ăn cướp dầu khí dưới thềm lục địa, đặc khu kinh tế của nhân dân và nhà nước Việt Nam.. Nhưng họ quên chuyện lịch sử của đời nhà Minh khi xâm chiếm Việt Nam đã bị quân kháng chiến Bình Định Vương Lê Lợi anh hùng đất Lam Sơn đánh đuổi không còn manh giáp.

    Nhân dân Trung Hoa anh em thân mến ! “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được coi như bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của Đại Việt đã ghi :”Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có..” Và vua Lê Lợi đã đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo…

    Nhân dân Trung Hoa nên xem đó là lịch sử nhưng có ngày sẽ được lập lại. Từ đó tới nay đã lâu, cường quyền phía Bắc hầu như quên lãng chuyện cũ nên lại đem người, tàu chiến, súng đạn tới biển Đông. Chắc chắn, không sớm thì muộn, tức nước vỡ bờ, dân Việt bị hiếp đáp quá đáng thì sẽ quay đầu lại như Bình Ngô đại cáo đã viết :”Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo. ..Tưởng nó phải thay lòng đổi dạ, hiểu lẽ tới lui, ngờ đâu còn tìm kết tìm phương gây mầm tội nghiệt. Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người, tham công một thời, chẳng bõ bày trò nhơ nhuốc…” . Bình Định Vương đã lãnh đạo nhân dân trong nước, gươm mài đá, đá núi cũng mòn, voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông. Cơn gió to trút sạch lá khô, tổ kiến hổng sụt toang đê cũ…Thôi Tụ (tướng Minhb phải quỳ mà xin lỗi. Hoàng Phúc tự trói để ra hàng. Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương Giang máu trôi đỏ nước… Ngày nay, biển Đông dậy sóng, kẽ gây tôi ác chắc chắn phải bị dìm xuống đại dương, không còn đường mà trốn chạy.

    Nhân dân Trung Hoa anh em có thấy như vậy không ? Kẽ gieo gió thì gặt bão, ác lai thì ác báo, kinh nghiệm lịch sử kháng chiến cho thấy như vậy. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi còn nhắc nhở sau trận đai chiến thắng của Bình Định Vương :”Ta cũng mở đường hiếu sinh. Mã Kỳ, Phương Chính (tướng Minh) cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thú phục. Ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi…”

    Hỡi anh em binh lính của Tập Cận Bình đang làm sóng gió ở biển Đông, đang cố tình gây hấn với nước bạn, đàn áp tàu cá ngư dân, đâm thủng chìm tàu bạn…hãy đọc lại Bình Ngô đại cáo mà giữ mình.

    Nhân dân Trung Hoa hòa hiếu tiến bộ ! Hãy vùng lên phản chiến, kêu gọi giới lãnh đạo đương kim hãy học lại lịch sử bang giao hai nước, tôn trọng chủ quyền và biên giới hải đảo, đã là của Việt Nam thì hãy trả lại cho Việt Nam, gây hấn và chiếm đóng trái phép sớm muộn gì cũng bị trừng phạt bởi nhân dân tiến bộ trong nước và thế giới. Đừng để kẽ ăn mắm người phải uống nhục nhã ở biển Đông.

    Nhân dân Trung Hoa hiền hòa Hán tộc ! Hãy đòi hỏi các nhà lãnh đạo hung hãn, tham lam như kiểu Thành Cát Tư Hãn luôn nuôi mộng xâm chiếm nước người trong khi nội bộ rối reng, bạo lực nổ ra khắp nơi, thiên tai bão lũ luôn đe dọa mạng sống nhân dân lao động mà không lo cứu giúp, lại đưa quân ra nước ngoài lấn chiếm biển Đông trái phép. Thế nào, trời cũng bất dung gian !

    Hoàng Sa, biển Đông không thuộc chủ quyền của Trung Hoa mà giới lãnh đạo Trung Quốc lại đi xâm chiếm, khai thác dầu mỏ thô bạo, ỷ lại súng đạn, tàu chiến hiện đại. Một Trung Quốc hùng mạnh mà lại đi áp đảo xâm chiếm nước nhỏ, anh em như thời phong kiến vô nhân đạo, bất chấp đạo nghĩa, lẽ phải để tiếng nhơ muôn đời. Hãy sống và ở theo tục ngữ Việt Nam :”Hùm chết để da, người ta chết để tiếng” hoặc “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”.

    Nhân dân Trung Hoa tiến bộ ! Nên làm một nghĩa cử gì đó để ủng hộ nhân dân Việt Nam anh em. Gần triệu người Trung Hoa gốc Hán tộc hiền hòa, biết phải đang an cư lạc nghiệp ở Việt Nam đã bỏ Thanh tới đây (Minh hương), đã và đang cùng với nhân dân Việt Nam đoàn kết nhất trí xây dựng đất nước mà họ coi là quên hương thứ hai. Họ rất đáng tự hào vì đã biết phải cùng góp phần với đất nước mà họ đã bảo bọc hàng trăm năm. Họ đã kinh doanh lớn, làm gìau, có cơ ngơi và con cháu họ đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ quê hương thứ hai trong quá khứ, biết đâu lại không có mặt ở Trường Sa, biển Đông, trong lực lượng cảnh sát biển, ngư dân và đang phát loa kêu gọi binh lính bên kia trên các dàn khoan, tàu chiến, kiểm ngư trá hình đang dùng vòi rồng bắn phá tàu cá, kiểm ngư của Việt Nam.

    Nhân dân Trung Hoa anh em tiến bộ ! Hôm nay, tôi mạn đàm đôi điều để anh em thấy rõ tham vọng bất chính của giới lãnh đạo đang cầm quyền mù quáng đi ngược lại xu hướng hòa bình của thế giới, kể cả quyền lợi của Hán tộc chân chính. Một đại Trung Hoa đang lao xuống dốc cao, đang gây sóng ở biển Đông, nếu không sớm quay về thì sẽ hứng chịu đòn giáng trả nặng nề của trận Điện Biên Phủ như Pháp và Mỹ bởi vì nhân dân Việt Nam có truyền thống chống ngoại xâm hàng ngàn năm từ phương Bắc – nay lại tới phiên phương Bắc. Lịch sử luôn tái hiện.

    Đừng để cả thế giới phải nguyền rũa nhục nhã :”Chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành vẫn cứ đi”.


. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 29.6.2014.