Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHƯ ÁNG MÂY TRÔI





ĐÔI LỜI TÂM SỰ

Tôi đang bước vào tuổi 67, cái tuổi chưa quá già - mà cũng không còn trẻ nữa! Người ta thường có suy nghĩ, viét “Hồi Ký” là chỉ dành cho người già? Tôi không nghĩ vậy. Viết về đời mình mà cũng quy định “già/trẻ” sao? Điều quan trọng là mình có “thích viết” hay không, có gì cần ôn nhớ lại hay không, và sau cùng là nên “viết như thế nào”? Nếu thấy “thích”, thì hãy cứ viết… Có sao đâu?

Có một người bạn rất thân, đã nói với tôi: “Thời đại ngày nay - trong xã hội luôn quý trọng phương tiện khoa học kỹ thuật làm nền tảng cho đời sống, người ta đánh giá sự thành đạt, vinh hiển, đáng nhớ, là ở sự giàu sang, danh vọng! Kẻ không giàu có, là “phó thường dân hạng bét” (chữ của nhà thơ Trần Huiền Ân), lại nghèo nữa, thì được xem là kẻ bất tài, kém cỏi; sẽ chẳng được ai nể trọng cả, nếu không muốn nói là sẽ bị khinh rẻ, thấm chí xa lánh; thì viết Hồi Ký để làm gì, ai thèm dọc?”

Cũng có bạn bảo: “Viết Hòi Ký chỉ để dành cho danh nhân, thiên tài (vvv), chứ “vô danh tiểu tốt” như ta, thì viết làm chi?”

Lại một người bạn thân thiết nữa góp ý: “Viết hồi ký, là viết về “mình”, về “cái ta” (cái “ngã” đáng ghét), sao tránh khỏi chủ quan, sao tránh được lời người cho là mình tự “tô hồng” cho cá nhân, tự đề cao, tự mãn (và rất nhiều cái “tự” khó ưa khác)?”

Chỉ vừa mới nhắc qua ba nhận xét “đơn giản” thôi, tôi cảm thấy (và tự xét), mình là người không đủ “điều kiện”, và khả năng viết Hồi Ký theo “quan điểm”… thông thường ấy được rồi!

Lời người đời là vậy, nhưng tôi lại có cái nghĩ riêng cho mình, để làm việc tôi “thích”: Tôi viết cho những giờ phút cô dộc, phiền muộn đã và dang bước qua đời sống tôi, một cách trống rổng, vô vị; để chia sẻ “đôi điều” đã trải nghiệm, cùng người thân, bạn bè! Tôi xem từng trang viết là một “phút thư giãn”, để an ủi và xoa dịu cuộc sống tôi, như bao “trò chơi” khác mà con người đang ham thích như mê làm giàu, ham danh vọng, chơi cây kiểng, đá gà, cờ tướng (vvv). Chỉ giản dị có vậy thôi.

Từ rất lâu, tôi có suy nghĩ: Đời người là một chuỗi dài nhân duyên huyền vi, linh hoạt, biến chuyển không ngừng, mãi cho đến ngày kết thúc (và lại tiếp tục…). Duyên khởt trùng trùng, nhưng không vô tình, mà chính là do duyên nghiệp mầu nhiệm kết tụ. Nếu không là bậc cao tăng đắc đạo, thì không có ai có thể “nghĩ bàn” (hay biết trước) về dòng nhân duyên từng sát-na ngày đêm trôi chảy qua đời mình…

Có lẽ mỗi người là một chiếc lá trên dòng nước cuộc đời chảy xiết, một áng mây lửng lơ trên nền cao vời vợi của cõi trầm luân, không hẹn trước sẽ tấp vào bến bờ ghềnh thác nào, hay sẽ tan rã giữa xanh thẳm vô biên cõi tạm nào!

Ở gần vào tuổi “xưa nay hiếm”, tôi lại cảm thấy dòng thời gian trôi qua đời mình chậm - rất chậm! Thời gian không ồ ạt cuồn cuộn như thuở thanh xuân; cũng không rộn ràng, réo gọi như thời trung niên năm mươi nữa; mà dòng thời gian tháng năm gần cuối đời như ngày càng lơ lửng, nhẹ nhàng, chậm chạp hơn!

Trong cái “lắng đọng” của thời gian ở tuổi gần 70, đã trải qua bao thăng trầm lận đận, tôi chợt nhận ra cuộc đời tôi đã từng có bao “duyên lành” linh nhiệm dẫn dắt, che chở, và đưa tôi từng bước đi vào đời cho đến hôm nay (và cả mai sau): Tôi muốn ôn nhớ lại, ghi lại - cho dù chưa thật trọn vẹn, bởi thời gian trải dài trên mấy chục năm lận đận, trí nhớ cũng dần hao mòn vì bao nỗi khổ phải lo toan, phải đối diện thường trực với những biến cố thúc giục hằng ngày, và nhiều lý do “nhạy cảm” khác…

Bởi vậy, tôi đã tự dặn mình khi đặt bút viết những dòng đầu tiên: “Hãy viết với tấm lòng thành, với sự trong sáng vô cầu, với ước mong nhỏ nhoi là chia sẻ đôi chút tâm tình của mình, cho người đọc trong những giờ phút được thư thả, cho vui!”

Và tôi nghĩ tiếp: “Rồi thời gian sẽ cứ thản nhiên trôi qua, cuộc đời cứ lần bước vào bóng tối của sự hủy diệt; tất cả chỉ là một hồi kịch, một trang tiểu thuyết, mà mình đã từng là một “nhân vật”, hay một diễn viên - không hơn!”

Tóm lại, tôi viết “Như Áng Mây Trôi” - tập hồi ký ngắn ngủi nầy, là cốt ghi nhận vài biến đổi không bao giờ quên, những kỷ niệm một thời đau buồn hay hạnh phúc, đôi chặng đời thăng trầm mà tôi đã phải trải qua; để “tiêu xài” những giờ phút được nhàn rỗi, khi “ngồi mà nhớ lại” - mong tự an ủi mình, tự vui với những hoài niệm; tuyệt nhiên không có tham vọng mong cầu gì lớn lao khác! Có thể tập Hồi Ký nầy, sẽ cùng theo tôi về với lòng đất một ngày nào?

Và cũng có thể, nếu “đủ duyên”- nó sẽ đến tay bạn, như một lần ghé thăm…

Xin có đôi lời “thưa gởi”- rất mong sẽ được tất cả hỷ xả cho những thiếu sót, những “chủ quan” (chứ không phải tự mãn, không thể tránh hết, dầu đã rất hạn chế, cẩn trọng!) đã chân thành (và vô tình) được nhắc kể. ở đây!

Trân trọng cám ơn!

Quê nhà, ngày Mồng 1, tháng Ba, Canh Dần
        (ngày 14 tháng 4 năm 2010)


         Huệ Thành
         MANG VIÊN LONG


XII

ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ & TẬP BẢN THẢO “NHẬT KÝ THƠ”


Năm 1961, Đặng Tấn Tới và tôi đang học lớp Đệ tứ trường Trung học Cường Đễ, là bạn cùng thôn Hưng ĐỊnh, lại học cùng nhau từ tiểu học, nên rất gần gũi, thân thiết! Cha mẹ Tới rất thương tôi, nên hai chúng tôi có dịp gặp nhau luôn. Hai chúng tôi đều có chung niềm đam mê thơ văn từ năm học Đệ thất (1958), nên thường “bàn chuyện” thơ văn; thường “làm thơ”, chia sẻ niềm vui mỗi lần có bài được đăng báo (dù là báo văn nghệ Học sinh, hay trang thơ của vài tạp chí, nhật báo, xuất bản ở Saigon). Đặng Tấn Tới, đầu tiên lấy bút danh Thy Uyên, sau là Vũ Thúy Thụy Ca… Còn tôi, ghép tên của cha mẹ, bút danh là Huyền Linh, rồi Hoài Huyền Tiên. Năm 61 – hai chúng tôi đồng ký đơn gởi Ty Thông Tin Bình Định xin thành lập một thi văn đoàn với điều lệ hoạt động hẳn hoi…

Đơn gởi đi được một tuần, đang giờ học, hai chúng tôi nhận được “giấy mời” của Ông Hiệu trưởng Tôn Thất Ngạc, lên phòng riêng của ông để “có chuyện cần gấp”! Gặp nhau ở hành lang trước khi cùng vào gặp ông hiệu trưởng, hai chúng tôi cũng đoán biết chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng chưa biết “cát/hung” thế nào?
Sau khi “mời” chúng tôi ngồi vào ghế đối diện - ông Hiệu Trưởng nghiêm giọng: “Thầy vừa nhận được thư trả lời của Ty Thông Tin Bình Định về việc xin thành lập Thi Văn đoàn của hai em…”
Ông cúi xuống nhìn vào tấm giấy một lúc, ngẩng lên - vẫn một giọng ôn tồn: “Theo thư trả lời, và theo ý của thầy, hai em chưa đủ tuổi để được phép thành lập Thi Văn đoàn. Các em hãy gắng học cho giỏi đi. Mai kia. lớn rồi, muốn… làm gì cũng được thôi!”
Chúng tôi nhìn nhau, im lặng.
Ông hỏi: “Các em nghĩ thế nào?”
Tôi khẽ cười, e ngại: “Cám ơn lời dạy của Thầy…”
Ông nhìn chúng tôi với ánh mắt thiện cảm, thoáng chút ngạc nhiên: “Vậy các em hãy về lớp học đi!”
Cuối năm ấy, Đặng Tấn Tới cho xuất bản tập thơ đầu tay có tựa là “Lễ Tấn Phong Tình Yêu”, bút danh là Vũ Thúy Thụy Ca. Phần trình bày bìa, nội dung, Tới tự lo hết; bởi Tới có năng khiếu riêng về hội họa và trình bày từ thời tiểu học và đang theo học hàm thụ lớp hội họa của Họa sư Vương Quốc Đạt từ Đà lạt.
Từ năm Đệ tam, chúng tôi đã “trao đổi” với nhau về khả năng riêng của mỗi đứa; Tới quyết định chọn Thơ - còn tôi, cảm thấy rất “thích hợp” với Văn vì cuộc đời quá bất hạnh của mình…
Tuy là “tâm sự” với nhau vậy, nhưng thỉnh thoảng Tới vẫn viết tạp bút, còn tôi vẫn lai rai làm thơ chơi! Năm 1968, Đặng Tấn Tới xuất bản tập thơ thứ hai, là “Mưa Mắt Tình”- chính thức lấy tên thật ĐTT làm bút hiệu từ đó. Sau MMT là “Tâm Thu Kinh” (1970), “Tuyệt Huyết Ca” (1972), “Thi Thiên” (1973), “Trúc Biếc” (1974). Từ dạo ấy, những lúc buồn và thấy “nhớ”, nhưng thời gian không thể ngồi yên lâu, tôi thường viết những bài thơ cho riêng mình. Trước 1975, trong tập san Sư Phạm QN (1966) có bài thơ của tôi, và sau dó, hai lần được “xuất hiện” ở tạp chí Bách Khoa (Bài đầu “Thơ Cho Con Đầu Lòng” (1971), bài thứ hai “Những Dãy Hành Lang Buồn Bã” (1973), nhưng bài nầy đã bị sở Phồi Hợp Nghệ Thuật đề nghị cắt bỏ, mới cho báo phát hành, dù đã in trong “mục lục”!). Thời gian về dạy học ở Tuy Hòa (1966- 1978), tôi dành nhiều thời gian cho truyện ngắn và tạp bút, không còn “nhớ nàng thơ” nhiều nữa! (từ năm 1967 đến 1973, tôi xuất bản được 4 tập truyện ngắn và một tập tùy bút). Sau 1975, lúc đang ở chùa Phi Lai (và ngay cả sau nầy), tôi có thơ đăng thường xuyên ở Nguyệt san (rồi bán nguyệt san và tuần báo) Giác Ngộ. Đó là những xúc cảm rất chân thật, rất thiết tha với Đạo, với đời sống quanh tôi. Tôi không nghĩ là “làm thơ” mà là để “tự an ủi mình và chia sẻ” cùng bạn Đạo mà thôi…
Một thời gian dài, tôi lang bạt đó đây - với chiếc xách tay nhẹ tênh kinh sách, tôi đã “trở lại” với thơ như niềm vui còn lại trên bước đường phiêu bạt, nhưng không lưu giữ kỹ. Phần nhiều bị thất lạc, hay đã gởi chia sẻ cùng bạn bè, trong đó có chị Diệu Thuần (chị Nguyễn Thị Tẩu, chị ruột nhà văn Y Uyên). Chị DT đã “chịu khó” gom lại - đánh vi tính, In thành tập, gởi cho tôi vài tập đọc chơi! Tập thơ bản thảo ấy, hiện nay tôi cũng không còn!
Thời gian sau, tôi tìm một tập vở dày 300 trang, mang theo bên mình mỗi chuyến di xa, nên còn giữ lại được khoảng 150 bài thơ. Tôi đã nhờ chỗ dịch vụ vi tính, in cho 5 bản, lấy tên là “Nhật Ký Thơ”, dày 250 trang. Tôi đã gởi tặng cho ân sư Thích Thiện Đạo, người bạn văn thân thiết Trần Huiền Ân, và hai người bạn văn nữa giữ để “làm kỷ niệm”.
Ở đây, vì nghĩ rằng, sẽ không bao giờ tôi có dịp xuất bản tập “Nhật Ký Thơ” trong hoàn cảnh đang còn nhiều khó khăn nầy, nên muốn “ghi lại đôi điều” về nó – để nhớ một thời đã qua không thể nào quên trong cuộc đời phù du truân chuyên của mình…
Với riêng tôi, đọc lại bài nào (với ngày tháng đã qua như một dấu ấn hằn sâu trong tâm khảm mình), tôi cũng đều thấy cần chia sẻ, nhưng - có lẽ, chỉ nên ghi lại nơi đây đôi bài cho vui thôi!
Ngày “lập” được Lập Tâm tịnh thất, tôi có viết:
Nhà tôi bướm lượn ra vào
Có con chim đậu hiên đầu gọi nhau
Gió lùa mát rượi chái sau
Nửa đêm trăng rọi đỉnh đầu nằm mơ
Có rừng núi, có suối thơ
Ngày đêm nghe vọng dôi bờ nhân duyên
Măc đời tính chuyện đảo điên
Tịnh tâm ngó vách, an nhiên tháng ngày”
(Tịnh Thất –tháng 12/1993)
Ngày Phật đản PL 2540, tôi viết bài nầy tặng cho “Phi Lai tịnh sĩ” (tức Thượng Tọa Thích Thiện Đạo):
Trong cơn mưa bão mịt mù
Giữa sương tuyết lạnh thâm u chốn này
Một bông hoa lạ phơi bầy
Tuyết sương dông bão cũng tày như không”
(Kỳ Hoa)
Mùa mưa năm 1993, tôi đang lang thang ở Saigon, một buổi sáng sớm ngồi ở quán café vỉa hè nhìn Saigon thức dậy - tôi viết mấy câu gởi tặng chị Diệu Thuần Nguyễn Thị Tẩu (Gò vấp):
Ngày bắt đầu rất sớm
Khi sương mờ chưa tan
Người lo toan rất sớm
Khi lòng còn hoang mang”
(Sáng Saigon)
Năm 1998, đang ở quê nhà - ngồi nhìn trăng thu, tôi rất nhớ Tuy Hòa với những mùa trăng một thời thương yêu thơ mộng. Tôi viết bài thơ gởi tặng cho người bạn Đạo (cũng là đồng nghiệp lúc dạy ở Nguyễn Huệ, Tuy Hòa) là anh Tâm Cảnh – Hoàng Văn Trí:
Ta đã trải bao mùa trăng tuổi trẻ
Trăng miệt mài trong giấc ngủ cô miên
Sao chẳng nhớ trăng nơi nầy chốn nọ
Mà Tuy Hòa trăng lồng lộng thâu đêm?
Trăng phố thị dễ thương từng ngõ hẹp
Bàng bạc hàng dương, lấp lánh biển gần
Ta đã uống café đường Số Sáu
Ăn ly chè Cây Phượng mát tình thâm

Trăng ở Hội Sơn trăng trên gác thượng
Trăng ngợp về Phường Bốn ngát mầu xanh
Và những hồi chuông lay động lá cành
Chuông sám hối, chuông gọi hồn mê lạc

Trăng xuôi Hòa Thịnh, trăng ngự Phi Lai
Vằng vặc trăng soi trắng xoá giậu Lài
Mấy chú đọc kinh, mõ chuông vội vã
Hết kinh rồi, ra ngõ đón trăng chơi

Nay ở Lập Tâm, trăng vàng phố chợ
Nhớ Tuy Hòa trăng cũng chếch trời Đông
Cũng Trăng ấy - mấy ngàn năm rồi nhỉ?
Mà đêm nay sao nghe thấm tận lồng?”
(Đón Trăng Thu, Nhớ Tuy Hòa)
Tháng 9 năm 1998, ngồi ở hiên chờ khách đến - tôi bỗng nhớ các bạn Tuy Hòa khôn xiết. Thay vì viết thư cho từng người, tôi viết bài thơ “gởi chung” cho quý vị ấy: Trần Huiền Ân, Đỗ Chu Thăng, Đàm Khánh Hạ, Khánh Linh, Lê Tăng Mính, Phan Tiên Hương, Hoàng Văn Trí…
Lâu nay tớ ngại viết thư
Thư dài cũng chẳng bằng “thư không lời”
Viết gì? Quanh quẩn chuyện đời
Kể gì? Cũng chuyện buồn vui ấy mà
Chi bằng mặc chuyện can qua
Bữa hai sét chén tương cà Lập Tâm
Đôi khi nhớ Bạn bâng khuâng
Đôi khi cầm bút mà không nên lời
Nhớ nhau, chớ trách tớ hoài
Giận thương chi lắm nổi trôi khổ lòng

Hôm nay Thơ đến chẳng mong
Như dòng nước chảy, như bông đúng giờ
Vội ghi gởi Bạn bài thơ
Tri âm hồ dễ phai mờ thế ru?
(Thư Gởi Bạn Hiền)
Chia sẻ cùng hai người em của nhà văn Y Uyên là Thanh Vân và Nguyễn Văn Vượng về những lần ra đi của mình:
Một năm mấy chuyến ra đi
Mười năm mấy chục lần ghi nỗi buồn?
Sự đời cứ mãi trôi luôn
Điểm sương tóc dã phai hường tuổi xuân”
(Ra Đi, mùa hè 1996)
Một lần tôi tình cờ gặp lại cô bạn láng giềng thời trung học ở Qui Nhơn, nay đã là Sư cô Diệu Sơn - đang trụ trì một ngôi chùa có tên “Hoa Nghiêm”; Sư cô ngỏ ý mời tôi có dịp hãy ghé thăm chùa. Tôi chưa “đủ duyên” tìm đến HN, nhưng “đủ duyên” để viết hai bài thơ gởi tặng Diệu Sơn nhân dịp Xuân về (Nhớ Hoa Nghiêm & Hội Xuân Hoa Nghiêm). Xin ghi lại một bài:
Chỉ nghe kể về Hoa Nghiêm chốn ấy
Lòng bổng vui mơ ước gặp Hoa Nghiêm
Xin lễ Phật trước uy nghi chánh điện
Và nguyện cầu hoa nở đẹp tôn nghiêm

Xuân đã đến đất chùa xưa bỗng sáng
Bốn mươi năm tụ hội cả về đây
Duyên đã đủ như trăng Rằm đúng hẹn
Mọi nguồn tâm thấm ướt nước non nầy

Tôi nguyện đến, xin một lần hội ngộ
Để một lần, dầu nghe một lời kinh
Hoa Nghiêm đó, bốn mươi năm hò hẹn
Giữa dòng đời trôi nổi kiếp phù sinh

Tôi sẽ đến, kiếp nầy hay kiếp khác
Bóng chùa xưa dẫu sinh diệt vô thường
Hoa Nghiêm vẫn là chốn Tâm khơi mở
Để bao lòng tỏ ngộ Phật mười phương”
(Nhớ Hoa Nghiêm - 1997)
Lần đầu tiên đến Chùa Đây (Suối Đó) theo lời mời của nhà thơ Đinh Hồi Tưởng (Đại đức Thích Tấn Tuệ) - tôi đã ghi lại một số bài thơ gởi tặng cho ĐHT (tất cả đều đã được đăng ở GN), trong đó có bài:
Đêm nằm nghe núi hoang mang
Nghe rừng lá đập rộn ràng niềm đau
Nghe suối thở, nghe đá sầu
Nghe mình lãng đãng chìm sâu muộn phiền”
(Đêm Ở Suối Đó – 26 tháng 11/1998)
Và hai câu sau đây, bày tỏ cảm nhận của một kẻ “không nhà” (chữ “nhà” theo lời Phật dạy là “nghiệp”) trên bước đường thăng trầm của cõi tạm; đã được nhà thơ cho khắc vào ghế đá trong khuôn viên chùa:
Thênh thang đi giữa Ta bà
Vui sao một kiếp không nhà từ đây!
(Đường Trần)
Ngày 27 tháng 11 năm 1998, sau gần một tuần ghé thăm “Suối Đó - Chùa Đây” của Đại đức Thích Tấn Tuệ (Lagi Hàm Tân - Bình Thuận), Thầy Tấn Tuệ đã chở tôi trên chiếc Honda ghé thăm các chùa, tịnh thất ở Bà Rịa –Vũng Tàu, trên đường đưa tôi về lại Saigon. Tôi ghé thăm tịnh thất Bửu Lâm:
Trưa nghe vẳng tiếng tắc kè
Gió mơn man gọi bên hè Bửu Lâm
Sư cô đang phút tịnh tâm
Hay chăng ngoài cửa nở thầm nụ hoa?”
(Trưa Ở Tịnh Thất Bửu Lâm)
Thăm Chùa Phổ Hiền (Quận Bình Thạnh) và ngủ trưa ở dó:
Trải chiếu bên hiên chùa
Đặt lưng thềm đá lạnh
Bóng nắng in vách xưa
Soi rõ niềm cô quạnh

Chùa vắng lạc tiếng chim
Hương trầm xa gió thoảng
Thời gian vẫn êm đềm
Khẽ khàng luồng qua cửa!
(Ngủ Trưa Ở Chùa Phổ Hiền, 27 tháng 11/1998)
Tháng 6 năm 1997, nghe tin chồng chị Minh Quân mất ở Saigon, nhớ anh và thương chị - tôi đã viết mấy câu gởi tặng:
Cảnh vắng người đi thêm vắng vẻ
Tuổi già, thiếu bạn - biết cùng ai?
Năm canh trở giấc boa nhiêu mộng?
Mộng cũng như đời sao dễ phai!”
(Tứ Tuyệt)
Để ghi nhớ lời dạy của Lục Tổ, tôi tự ghi lại thành một bài thơ đơn giản, cho riêng mình:
Bỏ tâm tà
là Giới tánh
Lìa tâm mê
là Huệ tánh
Dứt tâm loạn
là Định tánh
Không thêm bớt
chính Kim cương
Thân đi về
nghĩa Tam muội
(Phật đản, Phật Lịch 2544)
Sau 1975, tôi trở thành một người thợ, lao dộng miệt mài mỗi ngày hơn tám giờ, dù là thời tiết thế nào. Một sáng, tuy mới 8 giờ - mà mồ hôi đã thấm ướt cả áo; vừa cởi áo phơi, vừa nghĩ mấy câu:
Cởi áo phơi nắng sớm
Cởi quần phơi nắng chiều
Hạt mồ hôi nhỏ xuống
Tận đáy lòng cô liêu”
(Thường Nhật – tháng 6 năm 1996)
Một đêm trăng ở quê:
Sân nhà rộng ánh trăng
Ngõ xa tiếng chuông gọi
Ta ngồi yên một mình
Trăng vàng từng gáo dội!”
(Trăng. 1996)
Và xin ghi lại thêm một bài được viết vào mùa Xuân năm 2004:
Xin một cành hoa
từ cây Vô ngã
Ngắt một nhánh lá
từ cội Từ bi
Hai tay búp sen
dâng lên Từ phụ
Mùa Xuân chợt nhú
hương ngợp cõi lòng
Thắm đượm thân tâm
ba ngàn thế giới

Đốt một nén hương
từ tâm vô ngại
Thắp một ngọn nến
từ cõi an nhiên
Hai tay búp sen
cúi đầu lạy Phật
Mùa Xuân có thật
sâu thẳm lòng nầy
Mấy vạn Xuân qua
hương Xuân đọng mãi…”
(Mùa Xuân Còn Mãi – Xuân 2004)
Trong 150 bài thơ gom lại trong tập “Nhật Ký Thơ” là những dấu ghi kỷ niệm từng tháng năm qua của một thời lận đận truân chuyên, nhưng cũng thấm đượm rất nhiều thi vị, đạo vị cho đời sống tôi; chỉ xin chia sẻ nơi đây một vài bài tiêu biểu cho vui. Sau đây là hai bài “cảm nhận” của Thầy Thích Thiện Đạo và anh Trần Huiền Ân đã viết cho tôi, sau khi đọc xong bản thảo tập thơ. Chân thành tri ân Thầy Thiện Đạo đã luôn nhiệt tình chia sẻ, góp ý cho tôi mọi điều trong lẽ Đạo tình đời. Cám ơn anh Trần Huiền Ân - người bạn văn thân thiết, người anh lớn chí tình, đã dành thời gian đọc bản thảo - cho dù, thơ tôi… “không giống ai”!


Ý NGHĨ THOÁNG GẶP BAN ĐẦU

Tôi đang lật từng trang NHẬT KÝ THƠ của Mang Viên Long.

Hồi giờ tôi vẫn nghĩ một bài thơ, cụ thể hơn là một câu thơ, một ý thơ đến với ta bằng sự rung động trực tiếp, ta chỉ cảm nhận, không nên và không cần phân tách, bình luận.

Tập thơ của MangViên Long có đến hơn 150 bài Thơ nói với mình, thơ truy niệm công ơn cha mẹ, về những chuyến đi xa viếng thăm ân Sư, bạn đạo, bạn đời; thơ tặng vợ con, bạn bè… Tập thơ là tập nhật ký, trải nhiều năm tháng, ghi chép qua nhiều góc độ lăng kính. Tuy có vẻ rất là đời thường, không nói chuyện cao siêu xa xôi gì hét, nhưng bàng bạc một không- khí-thiền vì Mang Viên Long viết từ “Lập Tâm tịnh thất”. Mà tôi thì … tuy có “cao tuổi” hơn Mang Viên Long, lại đang sống giữa bụi trần, lòng còn đầy những tham – sân, cho nên chỉ có thể nói chút cảm nhận trực tiếp thoáng gặp ban đầu.

Đôi khi tưởng Mang Viên Long đã đạt đạo:

Thênh thang đi giữa ta bà

Vui sao một kiếp không nhà từ đây.

(Đường trần)

Thế nhưng … Vào một buổi chiều cuối năm tác giả như ẩn mình đển nhìn ngắm :

Phố chợ đông người sao thấy vắng?

Hoa tươi khắp nẻo vẫn màu không

Ngó quanh đời cảm thương mây lạnh

Một tiếng cười khan ứa lệ hồng!

(Chiều cuối năm cảm tác)

Ứa lệ mà biết lệ màu hồng thì phải là thăng hoa tâm trạng mới biết được. Sự thăng hoa ấy là của một thi sĩ vẫn còn đắm chìm trong cõi nhân gian! Hai tiếng “lệ hồng” đã giúp người đời bắt mạch Mang Viên Long, cũng như đã bắt mạch Phạm Thái qua ba tiếng “nghẹn má hồng”.

Hoặc :

Em như cơn gió

Thoảng qua đời anh

Khổ đau còn lại

Mênh mang trời xanh.

(Cơn gió)

Trong đau khổ còn nhìn trời thấy mênh mang trời xanh thì cái đau khổ do cơn gió thoáng qua không quá nặng nề hay không còn nặng nề nữa đấy chứ?

Rồi khi lặng yên nghe tiếng chuông chùa và ngắm ánh trăng. Mang Viên Long thật tỉnh táo thấy ánh trăng như thong thả tiết chế từng gáo dội chứ không phải mênh mang tràn ngập:

Sân nhà rộng ánh trăng

Ngõ xa tiếng chuông gọi

Ta ngồi yên một mình

Trăng vàng từng gáo dội.

(Trăng)

Như thế là Mang Viên Long vẫn chưa thoát tục. Mang Viên Long vẫn là một người của đời thường, thật tình với chính bản thân:

Ngửi mùi hương lan

Thoảng trong gió lạnh

Cuộc đời gian nan

Chìm trong bất hạnh.

(Giây phút)

Và thông cảm với nỗi niềm của những người thân thuộc:

Cảnh vắng người đi thêm vắng vẻ…

Tuổi già thiếu bạn, biết cùng ai?

Năm canh trở giấc bao nhiêu mộng?

Mộng cũng như đời sao dễ phai?

(Tứ tuyệt)

Cho nên… đừng hỏi gì khi có lúc bắt gặp trong thơ tác giả nói như vậy, tưởng vậy… mà đôi khi chưa phải vậy. (Tôi muốn thử bắt chước một chút đạt đạo thoáng qua của Mang Viên Long…)

Tuy Hòa, 11/6/2006

Trần Huiền Ân

CON ĐƯỜNG TRÁI TIM

Huệ Thành – Mang Viên Long, cái tên vừa hay vừa ngộ. Anh vừa viết văn, vừa làm thơ, vừa lao động lấm lem cho cơm áo. Thơ của anh vừa ôm ấp cất giấu nỗi niềm riêng, vừa xinh xắn, nụ cười, vừa ngọt ngào lời ca tiếng hát trên từng bước chân đi.

Anh chân thành, cởi mở và tình cảm. Cuộc sống và tâm hồn anh có chút gì đó hơi nghịch chiều. Trong cuộc sống thường khó khăn, lận đận, thiếu trước hụt sau, niềm riêng khó nói, thì ngược lại tâm hồn anh, trài tim anh lúc nào cũng dạt dào hương vị tình người, tình đất, đậm đà thủy chung.

Thông thường chúng ta thấy đau là khổ, nghèo là khó. Nhưng ở anh, đau khổ là thuốc hay và nghèo khó là dinh dưỡng nuôi lớn tâm hồn. Có gần anh mới biết được anh, có biết được anh mới hiểu được anh, có hiểu được anh mới thật sự thông cảm và chúc mừng anh.

Chính từ sự đau khổ xé lòng, nỗi cô đơn thẳm sâu tưởng chừng như không có gì cứu vãn được, may mắn thay, anh đã tự đứng dậy và đã bước đi vững vàng hơn bao giờ hết. Sự mầu nhiệm này chính anh đã cảm nhận sâu sắc mà không phải ai cũng chia xẻ được.

Nếu thời gian có thể chia cắt phân đoạn theo từng khúc quanh đời người, thì mười năm trước đây là những năm tháng cay đắng cô đơn nhất đời anh để phải thở dài.

Ra đi cô quạnh một mình

Trần gian còn đọng chút tình nào chăng?

Vâng! Anh đã thật sự bơ vơ trên chính “sân chơi” của mình, để rồi như cây thông già cô liêu bên rừng chiều mịt mù thươngg nhớ:

Anh, một bóng cây rừng cô tịch

Đứng bên đời thương nhớ xa xôi.

Hình như nghiệp dĩ của nhà thơ là để người đời ca tụng, tôn vinh tác phẩm của mình, còn chính thân phận của nhà thơ lại hẩm hiu, trơ trọi:

Buồn vui ngày tháng âm thầm

Chết đem xuống mộ, trăm năm còn gì?

Bằng kinh nghiệm cay đắng tự thân, bằng tấm lòng chân tình tha thiết với mọi người, bằng nghị lực nội tâm biết tự vượt trên thân phận, anh đã tự mở cho mình một lối thoát. Thay vì đối đầu, trốn tránh hay hằn học cay đắng, thì anh đã nhẹ nhàng dang tay đón nhận, chung sống, mỉm cười và cảm ơn mọi cay đắng nghiệt ngã của cuộc đời, để rồi từ đó những bước chân anh đi nhẹ nhàng hơn, an lạc hơn và hòa nhịp hơn.

Nhờ em đã dạy cho anh

Để anh hiểu được ngọn ngành thương đau

Đời vẫn nặng với bao niềm khắc khoải

Và tương lai luôn mơ ước tinh khôi.

Trong nỗi cô đơn bạc phận của chính đời mình, anh hiểu ra nỗi cô đơn mênh mông lạnh lẽo của kiếp nhân sinh; và anh đã tìm nguồn an ủi – có lúc ngay với “Tâm sự cùng cây Mai chiếu thủy” (trang 134). “Tâm tình cùng kiềm, dũa, khoan” (trang 161) hay “Trò chuyện cùng bươm bướm” (trang 165):

Ta gọi bướm chuyện trò,

Tỏ đôi lời thân ái …

Bướm hồn nhiên vô ngại.

Đậu trên một nhành hoa!

Tâm hồn anh, thơ anh, cuộc sống của anh luôn gắn bó liên hoàn, chân thành chung thủy. Đọc thơ anh, ta như không cần phân tích, so đo mà dễ dàng cảm nhận tiếp sức.

Tập “Nhật Ký Thơ”, đứa con máu thịt của anh, như là mảnh vườn nhỏ bên hiên nhà, ở đó ta có thể bắt gặp hương thơm của nhiều loại hoa khác nhau, từ mộc mạc dễ thương, cho đến đài các phong lưu gai góc.

Từ một góc nhìn của một thân hữu đã từng cảm thông chia xẻ, tôi thật sự đồng cảm với anh qua từng trang từng chữ, nhưng không phải là tất cả.

Bây giờ, xin mời Bạn hãy đồng hành cùng tác giả, và xin được lắng nghe lời nhỏ to tự tình của các bạn.

Để kết thúc trang tản mạn này, ta hãy nghe tác giả tâm sự :

Gặp nhau một thoáng cuộc đời

Xin đừng oán trách, nặng lời khổ nhau!

Mai kia dầu tóc bạc đầu

Cũng còn một chút trước sau cõi này.


Tháng 6/2006

Lăng Già Tâm –TT. Thích Thiện Đạo

... CÒN TIẾP ...

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 28.6.2014.