Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGỌN NẾN ĂN NĂN





          ĐI BAN MÊ THUỘT


T heo khoa tử vi, tôi mạng thủy, mà làng tôi thì ở giữa những cánh đồng chiêm trũng. Mùa nước lớn, từ xa nhìn, như một cù lao ở giữa biển nước mênh mông, ở đó nổi lên một ngọn tháp chuông cao vút, như thể ngọn hải đăng. Ngày còn bé, gặp mùa nước lớn, tôi đi nhà thờ trong giờ kinh chiều. Trước cửa sân nhà thờ là một biển nước, gần ngập cả đường đi, nhưng vẫn lộ rõ những bậc gạch đỏ au, mòn trũng ở giữa. Giáo dân vẫn xuống rửa chân trước khi vào nhà thờ. Tôi vừa bước xuống thì trượt chân, chìm trong nước. Nước đã đưa tôi ra xa. Hai tay tôi giơ lên cao, đập đập xuống nước. Và tôi được cứu. Người cứu tôi là một thanh niên, nhà ở trên một khu đất cao, ngay trước đường đi và cũng gần cổng nhà thờ. Thân mẫu anh là trưởng nữ (chi thứ nhất) họ Nguyễn, tức cụ Mừng. Anh là Phạm Văn Thì, con thứ hai của cụ. Sau này tôi biết anh mắc bệnh “động kinh” và đã chết năm 1952 khi ra ruộng làm việc.


   Tôi suýt chết đuối. Người cứu sống tôi cũng đã chết. Đó là hai sự kiện đầu tiên trong đời, vẫn ở trong tâm tôi.

   Có lẽ vì vậy mà tôi chán sông nước, chán cuộc sống trên chiếc tàu Như Long., trở lại Sài-Gòn. Tuy nhiên, hình như nó cũng bắt nguồn từ tâm tư tôi qua một buổi chiều cuối năm, tàu bỏ neo ở bến Tân An. Tôi lại ra đầu tầu câu cá, như một cách tốt nhất để nhớ về quê nhà. Cũng vừa lúc đó, tại một quán giải khát ở trên bến, vang xa tới chỗ tôi đang ngồi một bài hát quen thuộc, đầm ấm, ray rứt và cũng rất ngọt ngào, xót xa. Đó là bài Quê Mẹ.

   …Nơi xa xăm kia tôi say nhìn quê cũ dấu yêu. Ôi tình quê hương nơi chốn xưa có người mẹ hiền. Tóc màu hoa bạc chiều chiều mắt hoen mờ vì con. Ra đi con dâng đời cho gió mưa, quê người ngồi nhớ đến ngày vui qua…

   Bản nhạc vừa cất lên đã làm tôi ngậm ngùi. Rồi khóc. Chiếc phao của dây câu động đậy và đã chìm từ lúc nào, tôi không biết. Cả đêm hôm đó tôi thao thức, trằn trọc mãi không ngủ. Tôi bỏ chỗ nằm ra đứng ở đầu tàu, nhìn lên bầu trời đêm, dõi tìm ngôi sao Bắc đẩu, vì quê nhà yêu dấu của tôi ở miền đó, nay đã cách xa, thật xa.

   Tôi rời Sài-Gòn đi Ban Mê Thuột vào năm 1957, năm Sài-Gòn bắt đầu bị phe Cộng sản mở đầu chiến dịch khủng bố, mục tiêu là một cơ quan Mỹ, ngày 22 tháng 10.

   Ngôi trường tôi dạy học là một căn nhà rộng rãi, ông hiệu trưởng dành cho tôi một góc để ở tạm lúc đầu. Về sau, mở thêm lớp Anh văn và luyện thi tiểu học cho những người đã có tuổi, muốn thi lấy cái bằng Tiểu học, nên tôi ra ngoài thuê nhà ở.

   Bên cạnh nhà trọ là một nghĩa trang nhỏ, có lẽ của một đơn vị quân đội đóng ở gần đó. Trước nhà là một con đường đất, lính tráng đi qua đi lại, thưa thớt. Họ lên phố hay đi chợ. Bên dưới con đường này là một thung lũng, người Ra-đê ở. Thỉnh thoảng về đêm, tôi lại nghe văng vẳng tiếng khèn của người thiểu số từ dưới vọng lên, lọt qua vách nhà bằng phên tre. Tôi có cảm giác là mình đang lạc vào một cõi khác với cuộc sống ban ngày ở trên phố. Ít lâu sau tôi quen với nó, nên lại ưa thích bối cảnh về chiều và ban đêm ở đây.

   Thời gian đầu khi còn ở trường học, tôi cũng đã “ngơ ngẩn” vì tiếng rao phở về khuya, từ một chiếc xe đẩy qua các đường phố. Những đêm đầu tiên nghe nó, tôi chưa nhận ra là tiếng rao phở bán rong, mà chỉ nghĩ đó là tiếng gọi của rừng thiêng, của một “xứ buồn muôn thuở”. Tôi sợ ! Cái tiếng rao vang lên thật cao và thật xa, giữa một khung trời yên lặng mênh mang, dư âm của nó dội lại và hình như chỉ dừng nơi ngôi trường của tôi, đọng lại trong tôi cho mãi đến bây giờ.

   Cảnh trời về chiều ở Ban Mê Thuột là một nét huyền nhiệm của một nơi gọi là “xứ buồn muôn thuở”. Gọi như thế, chắc hẳn nó có nhiều yếu tố, trong đó cảnh về chiều không thể thiếu. Tôi không rõ cái mỹ danh này do ai tặng cho nó, từ bao giờ và dựa vào những điểm nào mà gọi vậy. Tuy nhiên, theo tôi, không gian về chiều của nó là một yếu tố quan trọng hàng đầu.

   Cảnh chiều Ban Mê Thuột còn là một tiếng gọi từ trên cao và từ trong lòng tôi vốn vẫn ở đó từ bao giờ, tôi không biết, nhưng khi thời gian như ngừng lại ở cái khoảnh khắc mà từ nơi xa xa một làn sương mong manh, một làn gió mát êm dịu mang mùi hương của hoa trái núi rừng về phố thị, thì tôi lại đến nhà thờ dự lễ chiều.

   Thánh lễ trong một cảnh trí về chiều như thế, nhuốm đầy mầu sắc huyền nhiệm, thánh thiêng và ân sủng. Tất cả, nhập vào hồn tôi, đưa tôi vào hoài niệm những hình bóng của quê nhà yêu dấu, chưa xa xôi gì, chưa bị che phủ bụi phong trần.

   Nơi quê nhà yêu dấu đó, cũng có một không gian và những buổi kinh lễ chiều hôm, đã trở thành máu thịt tôi, một nửa mình tôi. Quê tôi, vùng chiêm trũng thuộc Đồng Bằng Sông Hồng, không có khói sương và mùi hương của cây cỏ núi rừng Cao nguyên Ban Mê Thuột, theo làn gió nhẹ tỏa bay về phố thị, nhập vào Cung thánh và làm nên những tà áo mỏng như tơ lụa trên tháp chuông cao. Từ đây, mỗi khi tiếng chuông cất lên, thì những tà áo mỏng của hương hoa rừng lại theo tiếng chuông ngân vang mang hương thơm này đến từng con người trong dân gian phố thị, bất kể họ là ai. Vì đấy là món quà của thiên nhiên, của chúa tạo vật.

   Nhưng quê nhà tôi ngày xưa đó, có tiếng gió thì thầm trong lũy tre xanh, có mùi hương và sắc trắng của hoa soan, hoa cau, hoa bưởi; có màu sắc đỏ tươi của hoa dâm bụt và màu vàng của dây tơ hồng nằm vắt ngang hay buông dài xuống trên các hàng rào khắp thôn làng. Quê tôi còn có hoa cà tím trong các mảnh vườn, hoa gạo đỏ và hoa bèo lục bình nổi trôi trên các ao hồ.

   Nơi quê hương đó, tôi còn lặng lẽ chứng kiến giây phút giao thoa giữa ngày và đêm, cuộc bàn giao tuyệt diệu và huyền ảo của đất trời. Tôi là con người, thành tố thứ ba trong cuộc tạo thành của Tạo hóa, được chứng kiến giây phút kỳ diệu đó. Trong khoảnh khắc của giây phút thiêng liêng này, tôi lờ mờ nhận ra mình sống ở giữa cõi đời, có mà như không. Mang thân phận con người, tôi không hoàn toàn thuộc về trần thế mà cũng không thuộc hẳn về cõi trời. Phận người xô đẩy tôi vào trong cuộc chiến giữa bóng tối và ánh sáng, giữa tội lỗi và ân sủng. Thách đố này tôi sẽ không thắng được nếu không có thánh ân.

   Trong giây phút giao thoa giữa ngày và đêm, tôi gọi lên một hồi chuông tắt lửa, báo hiệu cho mọi tín hữu trong làng biết giờ “tắt lửa”, giờ của đêm tối đã bắt đầu.

   Tiếng chuông từ tháp cao lan tỏa xuống trên mọi mái nhà tranh, mọi gia đình, mọi cỏ cây và lũy tre, nhất là nó đi vào cõi lòng của con người. Cả một không gian êm ả được bao phủ bởi phúc âm, lửa mến và an bình.

   Quả thật, Đấng Tạo hóa đã dò xét và hiểu thấu tâm can của một kẻ dại khờ và ngu ngơ như tôi, nên đã dẫn tôi đến chốn quê nhà yêu dấu này và cái “xứ buồn muôn thuở” Ban-mê-thuột, để ở những nơi đây, tôi nhận ra Ngài, cả trong những điều vi trần. Ngài đã hóa thân nên máu thịt tôi, tâm tư tôi. Tôi đã sống trọn vẹn, uống cạn chén hồng ân mà Ngài ban cho tôi qua những buổi kinh chiều tại quê nhà và những thánh lễ trong chiều hôm ở Ban Mê Thuột.

   Ban Mê Thuột còn có cà-phê rất ngon, nguyên chất. Chủ quán cà phê ở đây thường cũng là chủ đồn điền cà phê, nên chỉ bán cà phê nguyên chất để đãi khách quen hoặc từ Sài-Gòn lên. Trong số này, có cả nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia nghệ thuật. Họ tới Ban Mê Thuột thăm bạn bè dăm ba ngày và cũng đi thăm cảnh vật ở đây cho mục đích sáng tác của họ.

   Tôi không ghiền cà phê như người ghiền thuốc lá, trong túi có mấy đồng bạc, nhịn ăn sáng để mua mấy điếu thuốc.Nhưng sống trong một không gian u tịch, lắng đọng, êm ả và thoảng đưa gió núi rừng về heo hút, se lạnh, thì ngay lúc này, tuổi đã già, nhưng bất chợt có một buổi sáng mai hay chiều tối nào đó, trời Sài-Gòn như được hưởng một làn khí lạnh từ miền Bắc xuống, mà không gian và cảnh nhà im ắng, thì đấy là một cám dỗ để tôi thưởng thức một ly cà phê đậm đà tự tay mình, huống chi là với Ban Mê Thuột ngày xa xưa ấy.

   Vì vậy, thường thì sau hồi chuông tắt lửa, các cửa trong nhà thờ đóng lại, tôi lặng lẽ ra về, chậm rãi rời khỏi sân nhà thờ, tới một quán cà phê ngồi.

   Nhắc đến Ban Mê Thuột, tôi không sao quên được ông Hiệu trưởng Trường Thăng Long, tuy là một ngôi trường nhỏ, nhưng có uy tín, nằm trên đường Y Zút, số 7. Đây là con đường trung tâm của Ban Mê Thuột, tập trung sinh hoạt của thành phố Cao nguyên này. Nó có chợ, có những tiệm tạp hóa, tiệm chụp hình, tiệm sách báo, rạp chiếu bóng, tiệm phở ngon v.v…

   Ông Hiệu trưởng trường Thăng Long, Trần Ngọc Hiệp, là một nhà giáo, đã dạy tôi khi còn trong Hà Đông, trường Minh Tân, do Linh mục Mt Trần Trinh Khiết làm hiệu trưởng, sau khi ngài du học ở Pháp về. Ông là một chủng sinh Trường La-tinh Hoàng Nguyên, cùng lớp với người anh họ của tôi. Hai người này đều về nhà bởi những biến cố của đất nước, những biến động trong trường, khi Việt Minh nổi lên, nhất là trong biến cố họ “cướp” chính quyền.Người anh họ tôi có tài hội họa, còn ông Trần Ngọc Hiệp thì để lại trong tôi tiếng đàn viôlông.Thỉnh thoảng sau giờ tan học buổi chiều, tôi tới nhà trọ của ông ở phố Quang Trung, để được nghe tiếng đàn của ông. Tôi cũng rất thích cái phong cách khi chơi đàn của ông, một nghệ sĩ. Có lúc tay ông lướt nhẹ trên dây đàn, nhanh đến nỗi tưởng như mấy ngón tay của ông bay nhẹ nhàng trên đó. Những lúc như thế, tôi mơ hồ nghĩ đến những dây đàn sẽ không bền vững, trước nỗi lòng của ông, đang trong tình trạng hoài niệm về mái trường La-tinh xưa, quá dỗi ray rứt, có lúc thì lại dồn dập, mạnh mẽ, da diết như cơn gió ùa vào vách nhà bằng phên tre tôi trọ khi ở Ban Mê Thuột. Không biết vì tiếng đàn của ông hay trong tôi đã ẩn khuất những khúc nhạc từ đồng nội của quê nhà phát xuất từ những buổi chiều, những buổi ban mai trời vào thu hay mùa đông sương mù, mà tôi đâm ra mê tiếng đàn viôlông, muốn học nó mà không có điều kiện học.Đây là sự tiếc nuối duy nhất trong đời tôi.

   Khi thầy Hiệp cưới vợ, một thiếu nữ xinh đẹp ở Hải Phòng, thì tôi ra Hà Nội ở tạm trong Nhà chung. Từ đây tôi vào Sài-Gòn, tháng 8/1954.

   Một chiều thứ bảy nọ, sau mấy năm trên đất Sài-Gòn, như mọi chiều thứ bảy khác, tôi đều tới đền Chúa Cứu thế trên đường Kỳ Đồng, quận 3, tham dự giờ chầu Thánh Thể. Tại đây, thầy trò tôi gặp nhau. Ông cho biết đang mở trường dạy học trên Ban Mê Thuột, ông cho tôi địa chỉ của trường, nói khi nào muốn lên đó thì cứ biên thư cho ông. Không lâu sau đó, tôi đã biên thư cho ông thật, khi tôi ở vào ngõ cụt của cuộc sống. Đó là vào năm 1957. Khoảng hai tuần lễ sau tôi gửi thư đi, tôi nhận được một thư bảo đảm của thày Hiệp, kèm theo một vé xe đò đã trả tiền rồi. Khi nào đi tôi cứ ra bến xe đó, đưa vé là đi. Tôi nhớ không lầm thì hình như đó là hãng xe Đại Nam. Trong thư, thầy Hiệp viết cho tôi vài lời rất cảm động. Ông khuyên tôi cứ lên với ông, cùng sống với nhau. Tôi mừng không sao kể xiết. Thế là tôi lặng lẽ xách va-ly đựng mấy bộ quần áo, mấy cuốn triết Đông phương và cây đàn cũ kỹ do người bạn tặng khi biết tôi bỏ học, lên Ban Mê Thuột. Tôi ra bến xe, tìm hãng xe đã bán vé cho tôi, đưa vé và được mời lên xe.

   Xe vào đến Ban Mê Thuột thì đã chiều tối. Tôi lên một xe xích lô về trường Thăng Long, theo địa chỉ trong thư. Chỉ một lát sau, xe dừng bánh trước cửa trường. Nhìn lên tấm bảng hiệu trên cao, tôi xúc động và cảm thấy yên lòng. Đây là nơi tôi sẽ sống.Vợ chồng thầy Hiệp nghe tiếng gõ cửa, đã ra đón tôi, với nụ cười rất tươi rồi dẫn vào nhà.Hai ông bà, lúc này đã có một cậu con trai đầu lòng, 4,5 tuổi. Ngồi nói chuyện một lúc, thầy Hiệp dẫn tôi sang một phòng nhỏ đã dọn sẵn cho tôi, không quên nói rằng tôi mới lên thì cứ nghỉ vài ngày cho khỏe. Cơm nước thì ăn chung với gia đình thầy.

   Đời tôi nhiều gian nan, trải dài suốt 40 năm (từ năm 18 đến 58 tuổi). Bốn mươi năm trong dòng thác cuộc đời này, có lúc tôi liên tưởng đến dân tộc Do Thái đi 40 năm trong sa mạc, nghĩ đến 40 đêm ngày của tiên tri Êlia đến núi của Thiên Chúa là Khoreb (Sách Các Vua 1 (19,8) và 40 ngày đêm trên núi của Môsê (Xh 24,18). Suy nghĩ về những sự kiện này, không phải để kiêu ngạo, dám ví mình như dân Do Thái đi qua Biển đỏ hay vào sa mạc, coi mình như Êlia hay như Môsê. Kinh thánh không dạy mình điều ngớ ngẩn và khờ dại này, song dạy mình sự vâng phục, niềm tin và nhất là nhận ra tình yêu của Thiên Chúa. Vì vậy, có những lúc tôi hoàn toàn bế tắc, không biết đi về đâu, sống thế nào đây. Nhưng, bao giờ cũng thế, những lúc như thế, tôi lại gặp được những vị ân nhân. Thiên Chúa đã ra tay cứu thoát tôi, qua những ân nhân mà tôi gọi là “thiên thần”, không phải chỉ có một lần, mà những 5,7 lần khác nhau, những giai đoạn nghiệt ngã trong cuộc đời tôi.

   Khi bước vào tuổi 50, tôi thường trở về dĩ vãng, đốt lên một “ngọn nến” nơi tiềm thức để nhìn rõ những lỗi lầm, những dại khờ, những vấp váp và thái độ trong cuộc sống trong tương quan với người khác, trong kinh nguyện, trong thờ phượng và trong việc làm cũng như để cảm tạ, tri ân. Người thực dụng thì bảo, đối với quá khứ thì hãy ngả mũ chào. Nói như thế là một thái độ không trung thực với cõi lòng mình. Một lúc nào đó, ở đâu đó sâu thẳm lắm, nó sẽ trỗi dậy, sẽ đòi được ra khỏi đó. Mỗi lần như thế, tôi không quên được những “thiên thần” của tôi, hay ngược lại, có khi nhớ đến họ trước rồi những sự kiện về họ liền nối nhau trở dậy trong lòng tôi.

   Tôi sống và làm việc với thầy Hiệp được 3 năm, đến năm 1960, tôi mắc bệnh lao phổi nên xin nghỉ. Buổi chia tay, ông đưa cho tôi một phong bì tiền, song tôi một mực không nhận, chỉ cảm ơn ông về nghĩa cử này. Tuy vậy, ông đã gửi tiền về Sài-Gòn cho tôi, qua bưu điện. Tôi không còn nhớ số tiền này là bao nhiêu, chỉ biết nó khá lớn để tôi sống và chữa bệnh.


@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 24.6.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn