Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


- Minh Lệ -

Làng Mang Tên

Huyền Thoại Một Tình Yêu





Sau nhiều năm xa cách, tôi trở về thăm quê hương Minh Lệ - một làng quê mang tên huyền thoại ngót 400 năm. Quê tôi, cái làng quê bình dị uốn mình theo một nguồn nước sông Gianh, nơi mang nhiều dấu tích lịch sử một thời... Về quê, cái cảm giác nao nao ấp ủ bấy lâu, bây giờ mới đến. Lần đầu tiên tất cả 6 anh em trai chúng tôi sau ngót nửa thế kỷ xa quê, ly tán khắp nơi mới có dịp cùng về thăm quê cũ. Con sông Gianh vốn hiều hoà xanh biếc, vào những ngày này bỗng trở nên đục ngầu, cuộn sóng. Đợt lũ đầu tháng 11 làm mực nước sông dâng cao, đứng ở Ba Đồn nhìn ra Cửa Hác chẳng khác gì một vịnh biển bao la. Ba nguồn sông tụ hội về đây làm cho con sông trở nên quá sâu, quá rộng. Bởi lẽ đó mà bao thế hệ vẫn hằng mơ bắc được chiếc cầu. Ước mơ đó bây giờ cũng chỉ đang hiện dần thành sự thật. Ai đã một lần qua sông Gianh chắc chẳng thể nào quên, càng không thể quên một miền quê đầy gió Laò, cát trắng! Cảnh vật đang thay đổi. Thị trấn Ba Đồn nay như một thị xã với những con đường, dãy phố khang trang, "những dáng dấp thị thành" hiện rõ. Chiếc xuồng máy đưa chúng tôi vượt qua Cửa Hác, vòng xuống phía cầu Gianh (đang thi công) rồi ngược lên Rào Nan để về Minh Lệ. Sóng lớn, nước đục ngầu làm cho tôi cảm thấy như đang đi trên cửa sông ngoài Cát Hải (Hải Phòng). Nhiều người ngồi trong khoang, nhưng tôi vẫn đứng. Đứng để nhìn lại những cảnh vật thân quen mà mình đã nhiều năm xa cách. Tôi chạnh nhớ một câu thơ mà tôi đã viết trong một lần về thăm quê trước đây:

Con thuyền nhỏ bơi ngược dòng ký ức
Trái bần xanh còn chát một thời xa...

Nếu ai đã một lần ăn trái bần chắc không thể nào quên được. Hai bờ sông Gianh có rất nhiều cây bần mọc đầm mình dưới nước. Đó là một loại cây sống vùng nước mặn. Trái bần chín ăn chua dịu, nhắc đến ai cũng phải thèm. Trái bần xanh thì vừa chua vừa chát! Tuổi ấu thơ tôi đã nhiều lần phải ăn cả trái bần xanh! Tôi đi qua nhiều nơi, sống nhiều miền nhưng lâu lắm rồi chưa được nếm lại vị chát chua của trái cây quen thuộc. Nhưng đâu phải chỉ là vị trái cây? Quê hương đâu chỉ có ngọt bùi, mà còn có chua, có chát. Hơn bốn chục năm trước đây tôi đã rời quê trong vị chát chua của trái bần xanh. Nhưng dù chát dù chua, quê hương vẫn là niềm yêu thương khôn xiết, vẫn nỗi nhớ vô cùng của những đứa con phiêu bạt...
Sông Gianh có ba nguồn chính. Rào Nan là nguồn ở giữa, lại là nguồn mà một thuở hai họ Trịnh Nguyễn làm ranh giới phân chia. Làng Minh Lệ trải dài theo dọc nguồn Nan ở bên bờ bắc. Từ những xóm mới lập cho tới đầu làng dài trên 5 cây số là những khóm tre, hàng cau xanh mướt. Dưới mép nước bờ sông vẫn là những cây bần đầm mình trong nước để khoe sắc xanh mơ. Bần đang mùa ra trái, những trái xanh dạng hình con quay đung đưa trước gió, trông rất đẹp mắt nhưng chắc là rất chua, rất chát. Nhìn trái bần mà lòng thấy nôn nao. Cái làng dọc sông ấy đối với tôi thật thân thiết biết bao. Tuy gia đình tôi đã phân tán nhiều phương nhưng cha mẹ tôi, anh cả tôi vẫn còn nằm lại bên sông. Cầm chiếc camera trong tay mà mắt tôi nhoè đi không còn thấy những gì mà mình đang ghi lại. Những trái bần xanh, tuổi ấu thơ của tôi vẫn còn lơ lửng đó đây!
Một huyền thoại từ xa xưa kể lại và đã được xác minh khi người ta khai quật một mộ táng trong vùng, nói rằng thời Trịnh Nguyễn phân tranh có một ông quan tài giỏi và đức độ tên là Nguyễn Khắc Minh(*) trấn giữ vùng này. Ông Minh là một tướng có tài có đức được dân trong vùng yêu mến. Ông Minh có một người vợ tên là Nguyễn Thị Lệ cũng rất tài giỏi, thường giúp chồng bàn việc quân cơ. Hai vợ chồng ông thường chọn một tảng đá trên ngọn đồi nhỏ (mà ở đây người ta quen gọi là Lòi) ngay trên bờ sông để luận bàn việc trấn giữ và phát triển vùng Bắc Bố Chính này. Họ thật là một đôi vợ chồng tâm đầu ý hợp, một tình yêu trọn thuỷ vẹn chung. Sau khi bà Lệ mất, ông Minh đã mai táng rất cẩn thận và chính nhờ ngôi mộ này mà bây giờ nhiều chứng tích lịch sử đã được xác minh. Từ thời đó, dân địa phương đã lấy tên ghép của 2 ông bà để đặt cho ngôi làng - nơi mà ông bà thường ngồi bàn việc quân cơ, chính sự, là làng Minh Lệ. Minh Lệ - tên làng là tên của một huyền thoại tình yêu! Nếu bạn có dịp đi tàu thống nhất qua đất Quảng Bình, cách Hà Nội gần 500 cây số, bạn sẽ thấy tên ga Minh Lệ, ngay cạnh chân đồi, nơi mà ông Minh bà Lệ đã một thời ngồi quan sát bờ nam, bàn việc quân cơ, giãi bày tâm sự...
Chúng tôi về đến làng thì chiều gần tắt. Xóm nhỏ dưới chân đồi, ngay trên mép nước. Nhà tôi trước kia ở ngoài cánh đồng, nhưng đầu những năm 80 theo phong trào Quỳnh Lưu, dồn làng lấy đất canh tác, cả xóm đã chuyển vào đây. Xóm nhỏ yên ắng bỗng trở nên náo nhiệt. Tôi thật sự trở về với tuổi ấu thơ xưa. Người nắm tay, người giật áo, có người còn cọ cả 2 má lởm chởm râu lên khắp mặt tôi. Có nhiều người tôi không còn nhận ra, nhưng họ lại nhớ rất rõ về tôi thuở bé. Tất cả đèn đều được bật sáng và dưới ánh nêông tôi cố tìm lại những hình nét xa xưa. Có người bảo tôi già đi nhiều, có người lại bảo là quá trẻ so với bạn bè cùng trang lứa. Duy có điều là ai cũng khen tôi tuy đi xa lâu ngày mà vẫn giữ được giọng nói quê hương. Tôi biết dân quê tôi rất ghét những ai mới ra tỉnh ít lâu đã bỏ mất tiếng cha sinh mẹ đẻ. Họ coi đó như một dấu hiệu quên hết ông bà, tổ tiên, làng xóm. Tôi tha phương nhưng chưa bao giờ quên nguồn cội, chưa bao giờ quên nghĩ đến quê hương.
Ngày hôm sau trời mưa gió liên miên. Cơn áp thấp thật là tai hại. Mấy anh em chúng tôi lòng như lửa đốt. Về quê rồi mà chưa ra viếng mộ tổ tiên ông bà, cha mẹ thì dạ không thể nào yên. Nghĩa địa nằm trên một khu gò ở phía bên kia sông. Nước to, sóng lớn, mưa tầm tã, đò rất khó qua. Mãi đến giữa chiều chúng tôi mới qua viếng mộ được. Khu mộ quá đơn sơ bình dị, bình dị đến nao lòng! Vùng quê tôi còn nghèo quá, không thể xây cất một cách đàng hoàng, quá chênh lệch với xung quanh. Thắp nén hương mà lòng tôi quặn thắt, nước mắt nhỏ xuống hàng bia. Ông tổ lâu đời của chúng tôi vốn là hoàng tử, một tướng quân thuộc dòng tộc nhà Mạc, có công đánh Chiêm Thành nhưng cùng với sự thất thế của nhà Mạc đành phải đổi họ thay tên. Ông là người đã khai phá vùng này, mộ ông vẫn còn nguyên vẹn cho tới những năm gần đây do yêu cầu làm thuỷ lợi nên mới phải di dời qua nơi khác. Bây giờ họ hàng dòng tộc từ cụ tổ cho đến cha mẹ tôi, anh cả tôi đều đã qui tụ về một chốn. Cha tôi là một nhà nho có 7 người con trai đều theo kháng chiến. Hôm nay 6 người con trai còn lại, sau gần 50 năm ly tán lần đầu tiên cùng sum họp trước nấm mộ của tổ tiên, ông bà, cha mẹ để thắp nén tâm hương bái tạ các bậc sinh thành đã góp công dưỡng dục. Trong 6 anh em chúng tôi, 5 anh trai tôi đã từng "cùng tiến vào 5 cửa ô" trong ngày giải phóng thủ đô mà vừa qua một số báo, đài truyền hình và đài phát thanh đã từng giới thiệu. Tôi là em út khi đó còn đang học ở ở quê, tự nuôi thân bằng củ khoai củ sắn ngày ngày đi mót lượm. Tôi làm sao quên được cái thời mà quanh năm hầu như không biết đến hạt cơm? Quê tôi rất nghèo, chỉ có "khoai khoai là khoai" mà bản thân gia đình tôi lúc đó lại thuộc loại nghèo nhất, nghèo vì cha mẹ tôi và các anh tôi đã từ bỏ tất cả để đi theo cách mạng, để tham gia cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc. Sự hy sinh ấy ngày nay đã được bù đắp bởi sự thành đạt mà anh em chúng tôi có được. Phải chăng đó chính là do phúc ấm tổ tiên mà đôi câu đối gia truyền của dòng tộc từng có từ mấy trăm năm truyền lại:

Tổ công tông đức bách thế bất thiên
Tử hiếu tôn từ vạn đại như kiến.

Sang ngày thứ 3 trời mới ngớt mưa. Tôi háo hức đi thăm lại những nơi mà dấu ấn cuộc đời khắc mãi trong tôi. Ga Minh Lệ khiêm nhường nép mình sau những tán bàng xanh tốt. Nơi đây đã 2 lần tôi suýt bỏ mạng vì bom đạn từ hồi kháng chiến chống Pháp. Chỉ một chút xíu thôi thì tôi và một người bạn bị bom vùi dưới lòng sâu của giếng nước nhà ga. Cũng chỉ một xíu thôi thì tôi đã nát thân khi một chiếc máy bay lao xuống bắn xối xả vào những luống khoai gần kề nhà ga mà tôi đang bò dưới rãnh. Ngọn đồi bên ga, nơi ông Minh bà Lệ từng ngồi trò chuyện, cũng là nơi một thời bọn học sinh chúng tôi ngày ngày thay nhau canh chừng ca nô địch khi chúng xuất hiện ở cuối dòng sông. Tôi cố lê cái chân tập tễnh của mình lên tận đỉnh đồi để nhìn rõ bốn phương tám hướng. Hùng vĩ và thơ mộng cùng hoà chung trong một cảnh sắc diệu kỳ! Bao đôi lứa ở làng tôi đã lấy nơi đây làm nơi hò hẹn, lấy nơi đây làm chỗ chia tay lên đường đánh giặc. Cô em họ tôi cũng tự nơi đây thẳng đến chiến trường để trở thành mẫu người thực của cuốn phim "Rừng O Thắm". Hàng trăm chàng trai cô gái đã từ đây đi tới mọi phương trời để rồi còn được bao người trở lại? Một nghìn rưỡi dân làng đã có ai thoát được vành trắng khăn tang trong 2 lần kháng chiến? Họ là cháu con của ông Minh bà Lệ đầy tình yêu thương nhưng cũng biết căm thù...
Ai đã đặt cho làng tôi cái tên mang đầy kỷ niệm, đầy sự biết ơn và cũng đầy thi vị? Huyền thoại xưa như vẫn còn tiếp nối hôm nay...
Nhìn qua ruộng đồng, nhà cửa làng tôi đã có nhiều biến đổi, một biến đổi đi lên cùng cả nước. Đường điện cao thế 500kv chạy vắt qua làng, vượt nguồn Nan để vào với miền Nam. Mái ngói đã chiếm đa phần, có cả nhà tầng khang trang và thấp thoáng dưới các rặng cau là những cần ăngten thu hình ẩn hiện. Nhưng đây đó vẫn còn những túp nhà tranh cũ nát, những gia đình còn khoai độn, ngô bung... Dấu vết chiến tranh đâu dễ đã phai mờ! Làng xóm ruộng đồng đều khác xa không nhận ra được nữa. Con đường ô tô từ ga về huyện đã bị phá nát từ hồi kháng chiến nay không còn dấu tích. Nhưng như lời anh Tuynh – một lãnh đạo huyện, hôm đón chúng tôi có nói "chỉ đến cuối năm sau là xe con của các anh có thể về tới tận nhà". Và cũng theo lời anh Tuynh thì tuyến đường thuỷ vào động Phong Nha kỳ ảo cũng sẽ được khai trương. Khi đó chắc làng tôi sẽ trở thành một nơi du lịch hội tụ đủ 3 con đường: sắt, thuỷ, bộ. Cái đồi mà ông Minh bà Lệ đã từng ngồi chắc sẽ là một nơi hấp dẫn khách tự bốn phương về thưởng ngoạn. Chiếc camera trong tay tôi quay lướt mấy vòng rồi mà vẫn không muốn nghỉ. Tôi như mới khám phá một miền quê!
Cùng mấy chị dâu và các cháu, 6 anh em trai chúng tôi đã thực hiện được cuộc hội ngộ sau ngót nửa thế kỷ ly tán với bao niềm da diết, với bao nỗi chờ mong. Cha tôi đã từng mong ước:

"Hôm sớm sân Lai thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo".

thì nay đã thành sự thật, chỉ tiếc là người đã đi xa. Chúng tôi từng chia xa, cũng vì quê hương và trở về đoàn tụ cũng vì 2 tiếng "quê hương" ấy. Đất mẹ có bao giờ quên những đứa con yêu, và những đứa con hiếu nghĩa càng không bao giờ quên đất mẹ. Từ nơi xa chúng tôi vẫn luôn hướng về đất mẹ, luôn gắng sức góp phần nhỏ bé cho quê hương. Cơn áp thấp và mưa lũ đã thử thách cuộc hành hương của chúng tôi nhưng đã không ngăn được những đứa con trở về đoàn tụ.
Nước sông Gianh vẫn dâng cao, vẫn mênh mông như biển cả, nhưng gió đã yên, sóng đã trở lại dịu dàng đưa tiễn chúng tôi...

Tháng 11-1996

*Nguyễn Khắc Minh (1553 – 1637) quê gốc ở Hà Đông (Hà Nội) là Thượng tướng quân, được vua Lê phong tước Nghiêm Quận Công.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 15.6.2014.