Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGỌN NẾN ĂN NĂN





LỜI MỞ


Một phần chuyện kể là hư cấu, chỉ diễn ra chung quanh ba người bạn lâu năm với nhau. Họ đều đã nhập cuộc tranh đấu, đồng thời cũng là những người chứng của một giai đoạn rối ren, những bất ổn và xáo trộn của đất nước trong những thập niên cuối cùng của miền Nam.


     Tác giả, trong liên đới và phản kháng, đã đi gần trọn cuộc hành trình mà vận nước đã xô đẩy. Lẻ loi, nhưng không bị đánh gục và mất niềm tin. Đó đã là một ân sủng mà Thiên Chúa ban tặng cho một kẻ tự vác thập giá của bản thân, lầm lũi đi trên một quê hương, một xứ sở, một đất nước trong những thời kỳ đau thương nhất của lịch sử ngàn năm.

     Sách có năm chương.

     Chương một, từ một bài thơ trữ tình sau 49 năm, nay mới công bố. Tưởng như là một sự thật, nhưng không khác chi một “huyền thoại”, vì vẫn chưa biết tác giả đích thực của nó là ai. Tuy nhiên, trong bài thơ có bốn câu, tác giả như đã đặt người nhận nó vào trong chính bối cảnh của một thời đảo điên, lắm kẻ gian hùng. Trong bốn câu này, có hai câu phác vẽ chuẩn xác về thời kỳ này, và hai câu hỏi cho người nhận : đời loạn đấy, người có trôi theo giòng ? và : đời lường đao đấy, người có ngược giòng không ?

     Chương hai: Thời loạn. Tác giả nhập cuộc tranh đấu, bằng báo chí và “nổi loạn” qua cuộc “Hành quân Nguyễn Huệ” xảy ra ngày 19/2/1965 tại Sài-Gòn, nhằm đẩy Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng VNCH, kiêm Tổng tư lệnh, kiêm Tổng tham mưu trưởng QLVNCH, là Đại tướng Nguyễn Khánh, rời khỏi quyền lực.

     Chương ba: Theo mệnh nước nổi trôi, chương ba và chương hai là hai chương chủ yếu, suốt một giai đoạn trên hai mươi năm đi theo một tiếng gọi của lương tri và trách nhiệm, giữa một hiện thực khổ lụy, tan nát, vô vọng. Tuy thế, tác giả có lúc như đã lạc vào chuyện huyền thoại bởi cái tâm chí thành của mình.Nhưng chính vì thế mà có ngộ nhận, một ngộ nhận có thể dẫn tới đoạn cùng của số phận.Đấy là cái mâu thuẫn phi lý, song lại là thực, hoàn toàn thực của một cái ngã, một “người ôm mặt khóc”. Trong tập thơ đầu tay mang tựa đề này, bên cạnh những bài thơ chất chứa “những suy tư, những dằn vặt về thân phận - thân phận của một con người trong những hệ lụy đau thương của thực tại - tiếng thơ trở thành nỗi cơ hàn rướm máu, như môt dẫy duồng trong phản kháng” (Cao Thế Dung: Văn học hiện đại – Thi ca và Thi nhân, Quần Chúng xuất bản, Sài-Gòn 1969), còn có ba bài thơ khiến một nhà văn, nhà báo lão thành thời trước, sau khi đọc, đã ngạc nhiên thốt lên với tôi: Anh là Công giáo, mà lại làm mấy bài thơ thiền! Một phần của Chương ba này được coi như một hồi ký, vì tác giả đã ghi lại ở một tập bút ký khác, năm 1997-1999. Đặc biệt, tác giả nhìn lại việc biên soạn và phổ biến cuốn sách Công giáo miền Nam Việt Nam sau ngày 30-4-1975, do Cơ sở Dân Chúa xuất bản ở Hoa Kỳ ấn hành năm 1988, năm Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II phong 117 Chân phúc tử đạo Việt Nam lên bậc hiển thánh. Dịp này, cuốn sách trên đây của tác giả cũng được Đức Giáo Hoàng ban phép lành (có hình trong sách, sau lời nói đầu) Riêng đoạn về thăm quê, được tách ra, làm thành chương bốn.

     Chương bốn: Về thăm quê nhà. Đây là chương đã được viết từ năm 1997-1999, sau lần tác giả về thăm nhà lần thứ hai, dưới dạng bút ký. Ở đây, bút ký này được viết lại, có đoạn rút ngắn, có đoạn bổ sung sau gần 20 năm. Cuối chương bốn, tác giả đưa vào một ý tưởng mà trước đó không có. Đó là: “Các tiên tri của thời mới”, mô tả một vài nhân vật tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh, phản kháng “bất bạo động”, như Mahatma Gandhi. Martin Luther King, Chân phước Mẹ Têrêxa Calcutta, Cha Pierre ở Paris, cha Nguyễn Văn Vinh, Hà Nội, các tu sĩ chiêm niệm và các tu sĩ phục vụ bệnh nhân phong, bệnh nhân ma túy ở thời kỳ cuối, những người già bị bỏ rơi v.v… Đây là những con người “kỳ lạ”, những con người của cái “Đẹp” trong tâm hồn, xuất hiện trong một thế giới tục hóa, vô thần, một thế giới mà quyền lực văn minh muốn “xóa sổ” Thiên Chúa ra khỏi trái đất này. Phận người nghèo như “con sâu”, “cái kiến” hoặc như cái rẻ rách dưới chân. Vậy mà, những “tiên tri của thời mới” này đã được ơn gọi, họ quên mình nhưng yêu thương những người khốn khổ. Họ làm chứng trước một thế giới văn minh cơ tâm: Thiên Chúa có thực! Nhà văn Trần Thanh Mại, một lần đến thăm mộ Hàn Mạc Tử ở đất thánh Qui Hòa, để tìm hiểu thêm về thi sĩ này. Ông được Bà phó giám đốc bệnh viện Qui Hòa đưa ông đi quan chiêm ngôi mộ nhà thi sĩ trong một ngày đầu thu năm 1940. Bà phó giám đốc bệnh viện Qui Hòa ngày ấy là Nữ tu người Pháp, tên là Marie de Saint-Venant. Nhà văn Trần Thanh Mại đã viết về Nữ tu này như sau: “Nơi bà ấy, mà chúng ta không còn có phép khêu gợi cái sắc đẹp và cái tuổi trẻ hiện thời vẫn đang lộng lẫy, nơi bà ấy chỉ là dịu dàng, chỉ là trong sạch, chỉ là nguồn Đạo Hạnh hoàn toàn, - một nàng Tiên”. (Trần Thanh Mại – Hàn Mạc Tử (1912-1940), in lần thứ ba. Tủ sách Những mảnh gương Tân Việt, trang 200). Sau đó, Nữ tu này đã nói với Trần Thanh Mại về Hàn Mạc Tử: “con người nhỏ nhoi làm sao, lễ phép làm sao và chí thành làm sao” ấy (il était si petit, si poli et si bon chrétien).

     Chương năm: Lều tranh - một sáng mùa Thu, là một tư tưởng đột khởi, không có trong bản thảo đầu tiên. Bối cảnh của lều tranh và những giờ khắc cầu nguyện chỉ diễn ra trong một tập thể rất giới hạn, là một chọn lựa trước những trung tâm đô thị đầy ắp người không cá tính, không nhân bản và một thành phần không nhỏ tại những nơi này không được tôn trọng phẩm giá của mình. Họ bị che phủ bởi những tiện nghi vật chất nhằm phục vụ thân xác, đưa thân xác lên đỉnh cao, vượt xa tầm tinh thần, trong khi chính tinh thần mới là mức độ đánh giá cuộc tiến hóa của con người thì lại bị đưa xuống hàng thứ yếu trong bậc thang giá trị làm người. Ngoài ra, sinh hoạt tôn giáo diễn ra tại lều tranh là một chọn lựa, một cách thể hiện niềm tin của một số ít người nơi đây, trước một tình trạng đông đúc, xô bồ tại những cộng đoàn tín hữu ở nhiều địa phương trong các buổi lễ lớn, long trọng, nhưng lại thiếu tinh thần của một buổi lễ tôn giáo.

     Chương năm này mô tả cuộc sống dung dị, không có các tiện nghi của văn minh. Nó hoàn toàn xa lạ với đời sống của con người tại các thành thị bây giờ. Nó cũng chẳng giống một Đan viện, hay một Thiền viện nào. Vì mấy nhân vật ở lều tranh cũng có cung cách khác thường. Họ là những kẻ, trước khi đến lều tranh, đã nhập cuộc đấu tranh. Trong số họ, có một lữ hành. Ở cuối đời, ông muốn đi vào một khu rừng mùa thu đầy lá vàng, đợi ở đó, chết ở đó với hy vọng tác giả bài thơ Ân Nghĩa, một nữ tu, sẽ tìm đến và kết một vòng hoa rừng đặt lên đầu ông. Chỉ là một mộng mơ, một “hồn bướm mơ tiên” biểu hiện tinh thần phản kháng một thứ tình cảm chiếm hữu, một thực tại trục vật của thời hiện tại.

     Đấy là một ý tưởng nhằm nói lên nỗi chán chường của tác giả trước một thực tại xã hội nhơ nhớp. Nhưng tôi vẫn còn niềm tin ở tôn giáo mặc khải và phổ quát. Chính vì thế mà tôn giáo có một vị trí quan trọng trong toàn chuyện kể..

     Tác Giả


CHƯƠNG MỘT

     ĐI LÍNH

Giấy tờ tùy thân của tôi từ sau năm 1954, ghi tôi sinh năm 1939, nên năm 1965 đã 26 tuổi. Nếu chiến tranh không mở rộng và không có lệnh tổng động viên, thì tôi đã không vào quân đội. Tính theo tuổi phải đi quân dịch thì tôi đã phải đi từ những năm 1958 hay 1959 rồi, lúc đó tôi đang ở trên Ban Mê Thuột, chính quyền không gọi đến tôi. Nhưng nay, sau khi nghỉ việc ở Bộ Thanh Niên, tôi không có con đường nào khác, nên phải vào lính. Lúc này tôi đang ở quận 3, nên vào một buổi sáng, tôi lặng lẽ đi bộ từ nhà trên đường Nguyễn Thông (nối dài) lên tòa Hành chánh quận 3, góc ngã tư đường Phan Thanh Giản với Nguyễn Thông, để trình diện nhập ngũ. Tôi vừa từ bên này đường qua bên kia đường, trước mặt là Tòa Hành chánh quận 3, thì nghe có tiếng người gọi phía sau. Tôi quay người lại, nhận ra người gọi, đang ngồi trên yên xe máy, ngay chỗ tôi vừa đứng đó để đi qua bên này. Cậu thanh niên này chạy xe về phía tôi.Hỏi :
-Anh đi đâu thế ?
-Trình diện để đi lính, tổng động viên mà.
-Anh về nhà em chơi đã, chuyện lính tính sau.

Tôi không do dự, lên xe để cậu ta chở về nhà, dưới ngã tư Bảy Hiền, đối diện với nhà thương Vì Dân (nay là Thống Nhất), ở lại gần một ngày.

Tôi không biết gì nhiều về gia đình này. Chỉ thỉnh thoảng đến thăm một nhà văn, đang ở đó. Nhờ vậy, tôi biết chủ nhà, Ông Phạm Quang Huyến, là thân phụ của cậu thanh niên vừa rồi. Mỗi lần đến chơi, chủ và khách uống trà, trao đổi vài câu chuyện thời sự, người lính Mỹ và chiến cuộc bùng nổ. Có lẽ cậu con trai của chủ nhà chỉ hiểu lờ mờ về tôi qua những buổi chuyện vãn với cụ thân sinh của mình như thế, hoặc chỉ vì tôi là bạn của một nhà văn nổi tiếng, đang ở trong nhà cậu. Vì vậy, bất ngờ gặp tôi ngoài đường và khi nghe tôi nói là “đi trình diện” nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, nên cậu đã mời tôi về nhà. Cho nên khi về tới nhà, cậu nói với tôi mà cũng có ý nói cho cả nhà nghe, việc tôi đi lính là không được. Người anh bé nhỏ mà lại ốm yếu như thế này thì sẽ chết ngay tại quân trường chứ đừng nói đợi lúc ra trận mạc.

Tôi chưa bao giờ nghĩ, việc gặp cậu thanh niên này là chuyện tình cờ, hay là chuyện ngẫu nhiên. Vì nếu tôi bước vào trong sân Tòa Hành chánh quận 3, trước vài phút thôi, và giả như cậu thanh niên đi qua lúc đó mà không nhìn sang bên này, thì không có việc chúng tôi gặp nhau.

Tôi gặp ở đây tư tưởng của một nhà khoa học, P. Lecomte du Nouy, tác giả quyển Định mệnh con người, là một trong hai hay ba cuốn sách quan trọng và thâm trầm nhất của thế kỷ 20, xuất bản năm 1946 tại Mỹ và năm 1947 tại Pháp. Ông cho rằng không thể dựa vào ngẫu nhịên tuyệt đối, nghĩa là vào khoa học hiện thời mà giải thích sự xuất hiện của sinh vật được nữa. Tôi cũng có thể mượn câu này để giải thích việc tôi gặp cậu thanh niên nói trên đây. Nó không thể là ngẫu nhiên, cho dù việc hai chúng tôi gặp nhau không phải là một hiện tượng khoa học. Nhưng người ta vẫn có thể đứng ở phạm trù siêu hình mà giải nghĩa việc này. Đơn giản thì đó là “duyên”.Vì như P.Lecomte du Nouy, trước đó đã viết : “chúng ta dự định đặt nền tảng tất cả các luận chứng của chúng ta, trên những phương pháp khoa học và toán học, chủ ý minh cứ : những phương pháp này nhất thiết dẫn tới chỗ phải thừa nhận sự can thiệp của một động lực siêu việt, mới trông giải nghĩa nổi cuộc sinh tồn.” (Bản Việt ngữ của Trần Kim Tuyến,Tinh Việt xuất bản, 1953, chương II tr.40). Hai chúng tôi cũng vậy, không có “duyên” với nhau, chính xác hơn, không có sự can thiệp của một Chủ thể “ Siêu việt” thì không có sự gặp gỡ của hai người. Đặc biệt, cuộc gặp gỡ này dẫn tôi đến một con đường hoàn toàn khác với con đường tôi đi trình diện để nhập ngũ ngay hôm đó. Thiên Chúa biết tôi đi con đường nào thì phù hợp với sinh mệnh của tôi. Vì “Thiên Chúa là tình yêu.” (1Ga. 4,8)

Đây là lần thứ hai hay thứ ba gì đó, khi tôi ở vào một tình thế khó khăn, tự mình bất lực, thì có “ân nhân” (tôi thường nghĩ về những người này như những “thiên thần”) trợ giúp. Chẳng hạn, như việc tôi lên Ban Mê Thuột dạy học mấy năm, việc dự cuộc tuyển chọn cán bộ giảng huấn thuộc Bộ Thanh Niên, việc thi tuyển vào Biên tập viên, HSQ đồng hóa thuộc BTL/KQ, mấy tháng sau, ngày tôi tới Tòa Hành chánh quận Ba để “tình nguyện” nhập ngũ theo lệnh tổng động viên. Mặc dù ở đâu thì cũng chỉ là lính. Nhưng khác nhau hoàn toàn. Ở Không quân, tôi không phải qua mấy tháng trong quân trường, học tác chiến, tôi lại được sắp xếp công tác theo khả năng. Chỉ điều này thôi cũng là tốt đẹp lắm đối với một người lính như tôi trong thời chiến, chưa nói đến cuộc sinh hoạt hàng ngày tại đơn vị cũng như bên ngoài, liên quan đến báo chí.

Vì thế, tôi không bao giờ nghĩ đến vấn đề ngẫu nhiên, mà chỉ suy nghĩ về lãnh vực tinh thần, có Đấng siêu việt làm chủ đời tôi. Chính Người đã cứu tôi khỏi vòng tù tội do những kẻ muốn lập công, tố cáo tôi có tư tưởng chống đối, Người cũng đã mấy lần cứu gia đình tôi thoát khỏi những tại họa về củi lửa trong đêm khuya và lúc tôi không có mặt ở nhà. Cho nên, bây giờ đối với tôi tất cả là một dòng chảy không ngưng nghỉ: “TẠ ƠN THIÊN CHÚA”

Trở lại việc tôi gặp người thanh niên trước cửa Tòa Hành chính quận ba, bỏ việc trình diện đi lính, theo cậu ta về nhà. Sau ngày này, tôi không nghĩ tới việc lính tráng nữa. Nhưng một người bạn đã giới thiệu tôi với ông Phan Ngô, Hiệu trưởng Trường Trung học Văn Hiến, ở Đa Kao, quận 1 Sài-Gòn. Ông Hiệu trưởng đã dành cho tôi mấy giờ trong tuần môn tiếng Anh, lớp Đệ Ngũ. Học sinh lớp này chọn Anh văn là ngoại ngữ phụ.Tôi chỉ dạy ở Văn Hiến có một năm, vì một người bạn lâu năm với Đỗ Tất Phú, muốn giúp tôi vào lính Không Quân. Chiến trận đã lan rộng ra Bắc. Mỹ dùng máy bay B.52 ném bom vùng ngoại ô Hà Nội.

Trong khi đó, Phật giáo và sinh viên nổi dậy ở Huế và Đà Nẵng, bàn thờ Phật được đưa xuống đường, chống lại chế độ mà họ gọi là quân phiệt (tháng 5/1966).Tướng Nguyễn Chánh Thi, kéo theo cả Quân đoàn I vào cuộc.Bạo động xảy ra.Thư viện và Trung tâm Văn hóa Phòng thông tin Mỹ (USIS) ở Huế bị đốt (26/5/1966), Lãnh sự quán và cơ quan Mỹ ở Huế bị đốt (31/5/1966). Đã xảy ra những va chạm giữa phe nổi loạn và Công giáo. Hai nơi Thanh Bồ, Đức Lợi ở Đà Nẵng bị đốt. Phe chống đối bất mãn vì “thành quả” của việc lật đổ Ngô Đình Diệm, đã không lọt vào tay họ và những nhà sư ôm mộng ngông cuồng muốn nhóm Phật giáo cực đoan trong bàn tay “phù thủy” của họ trở thành “quốc giáo”. Theo bài báo của Lý Đại Nguyên và Uyên Thao, chúng tôi đã nói đến ở Chương Hai, thì người Mỹ đã đẩy cuộc chống đối này lên cao để lấy cớ dẹp. Và họ đã làm thế.

Trước bối cảnh của đất nước như vậy, tôi chấp nhận để người anh em của Phú giúp tôi vào Không quân.

Người anh em của Phú này là Trần Quốc Minh, thuộc Không đoàn 33, căn cứ ở Tân Sơn Nhất. Khi Không quân trang bị những loại máy bay phản lực, như F.5, quân số cũng được tăng lên, thì Không đoàn 33 nâng lên thành Sư đoàn 5 Không quân. Các cấp bậc trong quân ngũ cũng được nâng lên. Vì vậy, lúc tôi vào Không quân là năm 1967, Trần Quốc Minh là Trung úy, phụ trách ban lương của đơn vị. Mấy năm sau lên Trung tá.

Một buổi tối, ông Trần Quốc Minh đến chỗ tôi ở, nói cho tôi biết Bộ Tư lệnh Không quân sẽ tuyển một số Biên Tập viên, HSQ đồng hóa, để ra một tờ báo. Ông biết tôi đang trong tình trạng quân dịch, nên bảo tôi đưa cho ông giấy khai sinh, để ông lập hồ sơ xin thi tuyển. Tôi cứ ở nhà, ông sẽ mang cho tôi giấy biên nhận hồ sơ và hẹn ngày vào căn cứ Tân Sơn Nhất thi. Có tờ biên nhận này, tôi mới vào được TSN. Cuộc thi tuyển mở ra sau đó ít lâu, vào một buổi chiều. Đề thi gồm hai đề tài, một là văn chương, gồm truyện ngắn hoặc tùy bút, tùy thí sinh chọn. Đề tài 2 về thời sự và chiến tranh Việt Nam ngày đó.

Số người dự thi có khoảng hai mươi người, có 5 người trúng tuyển, gồm một chuyên viên ấn loát, một ca kịch sĩ, còn 3 người kia là biên tập viên, cấp bậc Trung sĩ. Tôi là một trong số 3 biên tâp viên này. Số quân của tôi là : 59/600.661.

Như vậy là tôi trở thành một quân nhân thuộc Quân chủng Không Quân. Đơn vị công tác là Bộ Tư Lệnh, nằm trong địa bàn của SĐ 5 KQ, căn cứ TSN, từ tháng 2 năm 1967 đến cuối tháng 4 năm 1975. Tính ra được 8 năm 2 tháng. Công việc chính của tôi là viết bài cho tờ Lý Tưởng, ra hàng tháng. Nội dung chính là thời sự, tin tức về các đơn vị, đặc biệt là các phi vụ tác chiến, phóng sự về các mặt sinh hoạt của các đơn vị. Mảng văn nghệ cũng được chăm nom kỹ. Lý Tưởng có mặt tại khắp các đơn vị Không Quân. Từ bài vở đến hình ảnh in đẹp, nên hầu hết từ người lính đến các cấp sĩ quan, đều trân trọng và thích Lý Tưởng. Mấy năm sau, ra tiếp tập san Chính Huấn, xuất bản ba tháng một lần. Tôi cũng có bài trên báo này. Chính Huấn chuyên về mặt lý luận và chính trị. Báo này in hạn chế, không phân phát cho lính, chỉ phân phối cho các ban, ngành trong Không Quân. Cho nên, Chính Huấn không được đón tiếp nhiều bằng tờ Lý Tưởng. Nhất là, tờ này lan cả ra ngoài. Ban biên tập cũng mời được một số nhà văn tên tuổi ở Sài-Gòn, những nhà văn dân sự và những nhà văn của các đơn vị quân đội khác, cộng tác viết bài.

Không Quân có được điều này, một phần do tinh thần truyền thống văn nghệ. Tướng Tư lệnh Không Quân Trần Văn Minh, là tác giả hai tập truyện ngắn : Chết Non và Trong Đục. Trưởng phòng Tâm Lý chiến, thuộc BTL Không Quân, là Trung tá Hoàng Song Liêm, làm thơ từ thời trước năm 1954 ở Hà Nội. Một số phi công lái trực thăng cũng như máy bay chiến đấu, cũng là những nhà văn viết cho Lý Tưởng. Vì vậy, chính tờ Lý Tưởng đã gợi cảm hứng văn nghệ cho những người lính ở rải rác tại các đơn vị khác của Không Quân. Điều này làm tăng sự phong phú và sức lôi cuốn của tờ báo. Cái thời tôi làm tờ Nhật báo Dân Việt, tôi đã đọc Đời phi công của Toàn Phong, tức Đại tá Nguyễn Xuân Vinh, Tư lệnh Không Quân thời Ngô Đình Diệm. Ở thời này, hầu như học sinh nam hay nữ cũng đều đọc Đời phi công. Ngoài ra, còn có một Chuyến bay đêm của nhà văn Pháp, Saint Exupery cũng được giới độc giả trẻ của Sài-Gòn ngày đó ưa thích. Cho nên, khi tôi trở thành một biên tập viên của tờ Lý Tưởng và biết được trong Không Quân có nhiều nhà văn, tôi đã nghĩ đến một truyền thống viết văn (có lẽ thế) trong Quân chủng này thật đồi dào. Đây là một yếu tố (có lẽ thế) làm cho các quan hệ giữa các cấp bậc trong Không Quân trở nên thân tình, không nguyên tắc lắm. Không Quân nói chung, được nổi danh là “hào hoa”.

Nói đến một tờ báo, không thể bỏ qua những tên tuổi của một Ban biên tập. Khuôn mặt của họ trong đời cầm bút như thế nào thì làm nên giá trị của tờ báo như vậy. Như tôi vừa nói đến trên đây, Không Quân có một truyền thống văn nghệ khá lâu đời. Ngoài mấy người chúng tôi, lần lượt trước sau, gồm những nhà thơ nhà văn được tuyển dụng từ bên ngoài như : Thế Phong, Hồ Phong, Kiêm Thêm, Phạm Hồ, Thanh Chương, Khải Triều; còn có Dương Hùng Cường, Nguyễn Đình Thiều, Minh Triệu, Phan Lạc Giang Đông, Đinh Sinh Long, Lê Văn Trước, Chu Tấn, tức Trần Như Huỳnh, Huy Sơn Dương Quang Thuận. Một sĩ quan trẻ khác là Trần Ngọc Tự, từ Trường Võ bị Thủ Đức qua. Không kể Ngọc Tự, thì những người vừa nói đến là những cây bút, mà khi chúng tôi vào Không Quân thì họ đã có mặt rồi (ngoại trừ đại úy Huy Sơn Dương Quang Thuận, trông coi tờ Phụng Sự thuộc Tâm lý chiến chuyển qua Không Quân sau đợt có cuộc thi tuyển).Chúng tôi là những người vào sau do tình hình căng thẳng của cuộc chiến. Cũng do chiến cuộc lan rộng ra Bắc Việt, một phòng báo chí được mở ra sau này, tuy hơi muộn, do một sĩ quan cấp tá là Thiếu tá Đặng Trần Dưỡng, bên cạnh ông có mấy sĩ quan trẻ, như Trung úy Chu Văn Hải, Trung úy Đào Hiếu Thảo, Trung úy Hà Minh Đức. Ngoài ra, thật là thiếu sót nếu tôi không nhớ đến những nhà văn đã đóng góp rất nhiều vào truyền thống Văn nghệ Không Quân thời VNCH, như vậy cũng có nghĩa họ đã nâng cao tầm giá trị tinh thần yêu văn nghệ và các quan hệ tình cảm giữa con người với nhau trong Quân chủng này, sự cách biệt giữa quan và lính có phần giảm trừ rất nhiều. Đồng thời họ cũng nâng cao giá trị của tờ Lý Tưởng mà họ đã đóng góp bài vở. Đặc biết, một năm trước ngày đất nước đau thương, những nhà văn chiến đấu ở rải rác khắp các đơn vị của Quân chủng đã hội tụ đầy đủ trong Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến, do Vàng Son, Sài-Gòn, xuất bản, 12.1974. Ngoài Khải Triều ra, những nhà văn được tuyển dụng ở thời kỳ chúng tôi và những nhà văn gốc Không Quân, đã nói đến trên đây, trong số này, có người một thời là phi công, và một số chiến sĩ phi công viết văn khác, đều đã có mặt trong tập thơ truyện này. Tất cả đều là những sĩ quan từ cấp đại úy đến cấp tá, có cả cấp Tướng : Cung Trầm Tưởng, Trần Văn Minh, Đào Vũ Anh Hùng, M.Y.K, Zô Ta, Phùng Ngọc Ẩn, Lê Bá Định, Nhân Hậu, Võ Ý, Võ Quang Thẩm, Kha Lăng Đa, Vũ Ngô, Trần Tam Tiệp, Đặng Văn Âu (tức Bằng Phong), Nguyễn Cao Nguyên, Mây Trời, Huy Quang, Trần Viễn Phương, Toàn Phong. Có mấy nhà văn bên ngoài, như: Nguyễn Mạnh Côn, Phan Nhật Nam, Hoàng Hương Trang, Mai Thảo.

Trong 8 năm cộng 2 tháng, tôi làm lính Không Quân, có một sự việc liên quan đến tôi và một chuyện cười về một người bạn văn nghệ. Xin nói đến anh trước :

Vào một buổi sáng thứ hai, sau khi chào Quốc kỳ ở ngoài sân cờ BTL, trong lúc những người lính và hạ sĩ quan chúng tôi, phải tập trung ở văn phòng, để một Thượng sĩ già phụ trách kỷ luật nhắc nhở một vài điều thì một người bạn văn nghệ, vào sau tôi vài tháng, từ ngoài bước vào phòng. Đây là buổi anh phải trình diện Thượng sĩ kỷ luật của đơn vị văn phòng chúng tôi đầu tiên. Vừa bước vào, chiếc mũ caki đang đội trên đầu, anh vội bỏ xuống, hai tay ôm nó trước ngực, rồi cúi đầu chào ông Thượng sĩ. Tất cả chúng tôi đang đứng xếp hàng, đều không thể nhịn cười.

Người trí thức “lạc” giữa “ba quân”.

Còn chuyện của tôi, đáng bị trách cứ và phải kỷ luật, vì tôi phạm quân kỷ chốn công khai, trước một hàng tướng tá và binh sĩ. Chuyện thế này : Tôi tới phiên trực của cấp hạ sĩ quan tại Bộ tư lệnh vào tối Chủ nhật, ngày hôm sau là sáng thứ hai có lễ chào Quốc kỳ tại sân Bộ Tư Lệnh. Theo thông lệ, hạ sĩ quan trực phải đứng trước hàng quân. Trước khi chào cờ, tướng Tư lệnh được một sĩ quan trực tháp tùng, đi duyệt hàng quân. Khi Tư lệnh đến gần hàng quân, theo quân cách, tôi phải đưa tay lên chào. Song tôi đã không chào, mặc dù vị sĩ quan tháp tùng Tư lệnh hôm đó đã ra hiệu cho tôi, ý nói tôi hãy đưa tay lên chào. Vậy mà tôi cứ đứng trơ ra đó. Sau lễ chào cờ, chúng tôi trở về phòng. Ông thượng sĩ kỷ luật, vốn có tiếng nói sang sảng, thấy sự việc xảy ra ở sân cờ liên quan đến tôi, ông giận, nên tiếng nói của ông còn mạnh mẽ hơn nhiều. Ông bảo tôi ỷ thế, ông tướng đi qua mình mà không chào.

Ông thượng sĩ kỷ luật mắng tôi là đúng. Tôi và mọi người trong phòng đều không nói gì. Một không khí lặng lẽ ít thấy ở đây hình như là dấu hiệu người ta chờ một tin tức không hay cho tôi, xuống từ Bộ tư lệnh hay ít ra từ sĩ quan Trưởng phòng Tâm lý chiến là Trung úy Hoàng Song Liêm, hoặc từ sĩ quan Trưởng phòng Chính huấn là Trung úy Bùi Hoàng Khải, sĩ quan trực tiếp của tôi. Hai phòng này đều nằm trong Khối Chiến tranh Chính trị, do một sĩ quan cấp tá làm Trưởng. Nhưng, không có một tin xấu nào cả đến với tôi. Những ngày sau cũng thế, tình hình vẫn bình thường. Song, ông thượng sĩ trưởng ban kỷ luật bảo tôi ỷ thế, thì tôi không biết ông muốn ám chỉ tôi ỷ thế ai ở đây ? Tôi vào Không Quân là qua một cuộc thi tuyển. Như vậy là bằng cửa chính. Tôi đã lặng lẽ đi đến trước cửa Tòa Hành chánh quận 3, từ hai năm trước, để trình diện đi lính. Vừa lúc đó thì có tiếng gọi tôi phía sau. Tôi dừng chân quay người lại thì nhận ra đó là cậu con trai của ông Phạm Quang Huyến. Cậu mời tôi về nhà, chuyện lính tính sau. Và bây giờ thì tôi ở đây, Bộ Tư lệnh Không Quân. Tôi coi đây là một sự can thiệp của Thiên Chúa. Khi tôi tự mình đi trình diện nhập ngũ trong lúc chiến trường đang sôi động và đang cần rất nhiều tay súng ra trận, là tôi kể như đây là con đường cuối cùng của đời tôi. Sống hay chết, tôi không nghĩ tới. Nhưng, chỉ trong khoảng vài giây đồng hồ thôi ngày hôm đó, Thiên Chúa đã can thiệp và thay đổi hướng đi của tôi. Đấy là Thánh ý của Ngài, không phải của tôi.

Trong hơn tám năm sống đời một Biên tập viên thời chiến, ngoài công việc chính là viết bài cho tờ nguyệt san Lý Tưởng và tập san Chính Huấn, tôi còn được cử đến hầu khắp các đơn vị thuộc Quân chủng Không Quân, có khi cùng với Ban Văn nghệ do Trần Ngọc Tự dẫn dắt, có khi một sĩ quan nào đó được phái đi tới một đơn vị để thanh tra một việc, họ lại mời tôi đi theo. Những lần như thế này, tôi phải làm hai công việc : viết một ký sự của chuyến đi và có chuyến đóng cả vai người truyền tải một đề tài chính trị nào đó, trước một tập thể quân nhân đông đảo của đơn vị mà chúng tôi đi đến. Những đề tài này đều do cấp trên đưa xuống.

Công việc như vậy, nên hằng năm, đoàn công tác chúng tôi phải đi đến hết các đơn vị của Không Quân, như : Biên Hòa, Nha Trang, Pleiku, Đà Nẵng, Cần Thơ, Sóc Trăng. Mỗi lần đi như thế, kéo dài cả tuần lễ. Nơi nào có thắng cảnh và bãi biển, sau giờ công tác, đoàn lại đi thăm những nơi đó. Như ở Nha Trang thì có bãi biển, có Tháp Bà; Pleiku có Biển Hồ; Phù Cát ở Bình Định và Phan Rang thì có Tháp Chàm; Đà Nẵng có Ngũ Hành Sơn, có Chùa Non Nước. Cũng có chuyến từ Đà Nẵng, chúng tôi ra Huế, thăm Chùa Thiên Mụ, vào thành nội và đi nhà thờ Phủ Cam. Miền Tây thì có Cần Thơ với bến Ninh Kiều thấp thoáng tà áo bà ba chân quê, hai tay đưa nhẹ con đò trên sông. Ngồi trên bến uống ly cà phê trước bối cảnh êm ả của một buổi chiều, sau những giờ công tác trong đơn vị, tôi thấy chiến tranh như ở rất xa…

Có một lần, cũng tại bến Ninh Kiều này, tôi nghe có tiếng hát của Thái Thanh qua bài Tình hoài hương, vọng ra từ một quán giải khát trên bờ. Càng hát, tiếng danh ca huyền thoại này càng da diết, thấm sâu mãi vào lòng khách ly hương. Hắn nghe mà hồn như lạc về cố quận với áng mây chiều…


@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 15.6.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn