Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Thành Nhà Hồ Thanh Hóa





ĐI THĂM THANH HÓA




                                                                          ĐI THĂM THÀNH NHÀ HỒ

Thành Tây đô còn gọi là thành Nhà Hồ tồn tại từ nhà Hồ đến nay, xây bằng đá xanh khối vuông, mỗi viên nặng 7 tấn đến 25 tấn. Tòa thành xây trong 3 tháng trên đất An Tôn
Trong lịch sử kiến trúc không có công trình nào hơn Tây Đô, đắp đất bên trong và ốp đá bên ngoài. Những viên đá ốp này thường dài 5m, 7m chiếm tới 20.000m3
Trong điều kiện thô sơ, chưa ai hình dung nổi người dân năm xưa vận chuyển đá, cắt đá như thế nào để trong 3 tháng có thể xây xong thành.
Thành có trục Nam Bắc dài 900mét, Đông Tây dài 500mét . Đây là tòa thành cực kỳ kiên cố, đẹp nhất Việt Nam
Thành được ghép bằng các khối đá, đẽo gọt cẩn thận. Các viên đá xếp chồng lên nhau không có chất kết dính.
Thành có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Cửa nào cũng có vòm cuốn, tính ra các cửa Bắc, Đông, Tây mỗi cửa có 1 vòm cuốn, trong khi đó tại cửa Nam có 3 vòm cuốn, Các vòm cuốn ghép đá cắt gọt múi cam, không dùng chất kết dính, thế mà trải bao biến động địa chất không hề suy chuyển
Độ cao của thành từ 5 đến 6 mét. Ngoài thành phía Tây ngày xưa có trồng tre gai dầy đặc, lệnh cấm bẻ măng tre, ai phạm bị xử tử.
Trong khuôn viên thành Tây đô, năm xưa đào được đôi rồng đá (bị mất đầu)
Câu chuyện xây thành An Tôn vẫn là điều bí ẩn. Dấu tích đã tìm được là bia đá, đàn Nam Giao,
Hồ Quý Ly là người khởi xướng cải cách kinh tế.
Hồ Nguyên Trừng là người chế ra súng thần công
Cho đến nay, tính sơ thấy thời nào họ Hồ cũng có thiên tài :
            - Hồ Thơm tức Nguyễn Huệ
            - Nữ sĩ Hồ Xuân Hương
            - Ngày nay họ Hồ có người là viện sĩ Viện Hàn lâm Hoa Kỳ.
            - CCB Hồ Huy về lập Công ty xe Taxi Mai Linh.
      Vĩnh Lộc và Tây Đô đã hình thành một nơi có nền văn hóa nổi tiếng
      Thời nay có Lê Dũng Tráng là Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Pháp
      Tại thành nhà Hồ đã tìm thấy vết tích đàn Nam Giao, Thành nhà Hồ có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Riêng cửa Nam có 3 cổng

                                                     ĐỀN THỜ TƯỚNG QUÂN TRẦN KHÁT CHÂN


Tại gần thành nhà Hồ có đền thờ Trần Khát Chân , bên đền có cây quéo đã 600 tuổi
Nhân dịp đến Vĩnh Lộc tôi đến thăm đền thờ Thượng tướng quân Trần Khát Chân lập tại Đốn Sơn xã Vĩnh Thành huyện Vĩnh Lộc
Ban QLDT Đền đã sưu tầm tư liệu, viết nên Tài liệu “Đốn Sơn linh từ với Thượng tưóng quân Trần Khát Chân 1366-1399” kính biếu khách thập phương. Toàn văn nghư sau :
- Thượng tướng Trần Khát Chân sinh năm Bính Tuất 1366 . con bà Nguyễn Thị Điểm ở vùng Đông Sơn Thanh Hóa, Ông vốn là hậu duệ Lê Hoàn (tức vua Lê Đại Hành) nhà truyền ba đời là bậc khanh tướng. Năm 21 tuổi, Trần Khát Chân làm quan đến chức Tam công trật Nội hầu, giúp vua Trần Nhuệ Tông , Trần Thuận Tông trong việc trị nước an dân.
Khi còn nhỏ, ông mang họ Lê tới thời vua Trần Khải Tông ông được mang họ Trần và được phong Thái ấp ở làng Hà Lăng, huyện Vĩnh Ninh (tức huyện Vĩnh Lộc ngày nay)
Khi Trần Khát Chân thành niên thì Trần triều không còn lớn mạnh như những tháng năm kháng chiến chống quân Nguyên. Vua quan bắt đầu sống sa đọa, trong nước giặc nổi ở các nơi, phía Bắc thì giặc Minh nhòm ngó, phía Nam thì quân Chiêm Thành do Chế Bồng Nga đem quân vượt qua biên giới tiến đánh Đại Việt nhiều lần.
Năm Quang Thái thứ hai (1389) vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga lại đem quân đánh Đại Việt, Hồ Quý Ly đem quân đi cự chiến bị thua, phải rút chạy về Đông Đô/
Tức giận trước sự xâm lược của ngoại bang, Trần Khát Chân đã xin với vua Nghệ Tông đem quân ra chặn giặc, thề quyết đánh tan giặc. Vua Nghệ Tông ưng cho
Với tinh thần dũng cẩm, dùng mưu cao, Trần Khát Chân cùng cận thần giả danh làm chài lưới, trinh sát biết rõ nơi đậu chiến thuyền của Chế Bồng Nga nên đã dùng hỏa công bắn trúng, vua Chiêm thành là Chế Bồng Nga chết tại chỗ, quân Chiêm tan tác rút về nước.
Thắng trận, Trần Khát Chân mang thủ cấp Chế Bồng Nga về dâng vua tại bến Bình Than. Do có công lớn nên Ngài được phong lên hàm Thượng tướng và cấp đất tại Hoàng Mai (Hà Nội) Năm đó, Trần Khát Chân mới 20 tuổi.
Trần triều tiếp tục suy thoái, lợi dụng địa vị là bố đẻ hoàng hậu nhà Trần, Hồ Quý Ly ngày càng lấn át vua, mọi công việc trong triều đều lọt vào tay họ Hồ,
Năm Quang Thái thứ 10, Hồ Quý Ly cho dời đô về Vĩnh Lộc Thanh Hóa, đồng thờ ép vua Thuận Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần An và đi tu ở cung Bảo Thanh (Hà Trung Thanh Hóa) rồi sau ép vua phải chết. Con vua là Trần Thiếu đế lên ngôi lúc ba tuổi, mọi quyền lực đều do tay Hồ Quý Ly
Trước tình hình đó, con cháu dòng họ nhà Trần đều muốn lật đỏ Hồ Quý Ly .
Mùa hạ năm 1399, Hồ Quý Ly lập đàn tế tại phía Tây Nam Đốn Sơn. Đây là hội tế đầu tiên trong lịch sử nhà Hồ, Đại lễ có trống dong, cờ mở, gươm giáo rợp trời, Nhân cơ hội này các quan tướng trung thành với nhà Trần tổ chức tạo phản. Song công việc bại lộ, Hồ Quý Ly ra lệnh bắt các tướng Trần Khát Chân, Trần Nhật Đôn, Phạm Ông Thiện vv cùng với các quan thân thích Trần triều tất cả là 370 người đem hành quyết dưới chân núi Đốn Sơn . Đó cũng là ngày hội tế đẫm máu nhất trong lịch sử.
Tương truyền sau khi bị hành quyết, tướng quân Trần Khát Chân còn phi ngựa lên đỉnh núi Đốn Sơn dõng dạc thét to ba lần , khiến cho Trời Đất đang nắng bỗng tối sầm lại. Ngài chết rồi mà ba ngày sau sắc mặt vẫn không thay đổi.
Ngày các vị tôi trung nhà Trần bị hành quyết là ngày 24 / Tư/ Kỷ Mão 1399. năm ấy Ngài mới 33 tuổi
Nhân dân trong vùng vô cùng thương tiếc và khâm phục tấm lòng của bề tôi trung, nên đã lập đền thờ ông trên núi Đốn Sơn vào đầu thế kỷ 16 và tôn ông là Thành Hoàng của ba Tổng là Tổng Bình, Tổng Cao, Tổng Hồ (tức Quang Hiểu, Cao Mật, Hồ Nam ngày nay) thuộc huyện Vĩnh Lộc Thanh Hóa,
Tương truyền ông là người có công chỉ đạo xây thành Tây Đô, ông còn có thuật dút đường, dút đất, Từ xưa nhân dân trong vùng Vĩnh Lộc có lệ khi hạn hán kéo dài thì làm lễ cầu đảo, Ngày làm lễ, nhân dân địa phương tổ chức rước bài vị của Ngài ra bờ sông Mã để cầu đảo. Ngay trong đêm tối hôm ấy, trời đã đổ mưa, cứu dân .
Đền Đốn Sơn được xây dựng ngay trên mảnh đất Ông đã ngã xuống, Mặt tiền của đền hướng về thành Tây giai, trong đền còn thờ các tướng sĩ nhà Trần như Trần Thái Bảo, Trần Nguyên Hãng, Trụ quốc Trần Nhật Đôn,
Đền Đốn Sơn có nhiều tên gọi : Đền thánh Lưỡng, hay Thánh Lãng, (vì quê Ngài ở làng Hà Lưỡng, Hà Lãng xưa)
Bẩy thế kỷ đã qua, các triều đại phong kiến như Hậu Lê , Nguyễn, đã tôn vinh ông là vị Thánh (Thánh Lưỡng bất diệt)
Nơi đây , người xưa đã tạo hình một khu đền thiêng chữ Môn dưới tán một quần thể các cây đại thụ
Tháng 12 năm 2001 Bộ VHTT đã cấp băng DTLS cấp quốc gia


                                               HỌ TRỊNH Ở LÀNG BỒNG -THANH HÓA

Đường đi tiếp tục qua nơi sinh ra dòng họ Trịnh . Tại Phố Bầu xã Vĩnh Hùng có một ngôi nhà 12 gian, là nơi thờ họ Trịnh, kiến trúc kiểu chữ Đinh, người làng gọi đây là Nghè Vẹt, Hai bên chia 8 gian, thờ 8 bài vị, ở gian giữa rộng hơn thờ 3 bài vị. Tất cả là 11 đời chúa Trịnh. Ngày hội là ngày 14 /11/âm
Tại xã Vĩnh Hùng huyện Vĩnh Lộc Thanh Hóa có phủ Trịnh và lăng mộ các chúa Trịnh tồn tại đã 500 năm qua.
Đát Vĩnh Lộc sinh ra Trịnh Kiểm, dựng nên cơ nghiệp họ Trịnh hình thành chế độ Vua Lê - Chúa Trịnh 200 năm. Có Phủ Trịnh *còn gọi là Nghè Vẹt)
Xã Vính Hùng, tên cũ là làng Bồng. Tại làng Bồng chia ra Bồng Thượng, Bồng Trung, Bồng Hạ. Tục truyền xưa ở vùng này có câu sấm chỉ về họ Trịnh rằng : “Chẳng đế, chẳng bá, Quyền nghiêng thiên hạ, Truyền được 8 đời, Trong nhà dấy vạ”
Đát Bồng Thượng có làng Sóc Sơn là nơi Trịnh Kiểm sống và nuôi mẹ chí hiếu, được Nguyễn Kim nuôi và gả con gái cho. Từ đó, họ Trịnh theo nghĩa quân đánh nhà Mạc, khôi phục triều Lê. Cũng từ những năm đó, thời cuộc xoay vân hai họ Trịnh Nguyễn đánh nhau, suốt mấy trăm năm, rồi chia ra Nam, Bắc lấy sông Gianh làm phân giới.
Họ Trịnh ở làng Bồng xứ Thanh Hoa, tồn tại 200 năm cùng họ Lê, Có nhiều người cống hiến cho dân tộc như Trịnh Tùng, Trịnh Doanh, Trịnh Cương. Trong chế độ vua Lê chúa Trịnh thì ngôi vị chúa ngang với thủ tướng chính phủ lập hiến bây giờ.
Dòng dõi chúa Trịnh kéo dài từ 1545-1786 có các chúa sau đây :

           1. Thế tổ Minh khang Thái vương Trịnh Kiểm. (1545-1570)
           2. Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng (1570-1623)
           3. Văn tổ Nghị vương Trịnh Tráng (1623 – 1652)
           4. Hoằng tổ Dương vương Trịnh Tạc ( 1653 – 1682)
           5. Chiêu tổ Khang vương Trịnh Căn (1682 – 1709)
           6. Hy tổ Nhân vương Trịnh Cương ( 1709 – 1729 )
           7. Dụ tổ Thuận vương Trịnh Giang ( 1729 – 1740
           8. Nghị tổ Ân vương Trịnh Doanh ( 1740 – 1767
           9. Thánh tổ Thịnh vương Trịnh Sâm (1767 – 1782)
          10- Đoan Nam Vương Trịnh Tông ( 1782 – 1786 )
           11- Án đô vương Trịnh Bồng ( từ 9/1786 đến 9/1787)

Làng Vĩnh Thịnh có chùa Hoa Long mang nét văn hóa Chàm

                                                                          LAM KINH

Lam Kinh là nơi yên nghỉ của các vua nhà Lê, đã hơn măm nay không tiếp khách vì còn bận tu sửa, Ông chủ nhiệm dự án cho biết :
      Khu DTLS Lam Kinh được chính phủ đầu tư yêu cầu hoàn thành giai đoạn 1 vào năm 2005, nhưng đến hôm nay vẫn chưa hoàn thành . Nhiều đề án còn chờ duyệt, Can bộ lãnh đạo có thể sẽ thay đổi, nên từ 2003 chúng tôi dừng tiếp khách đến tham quan
      Khu DTLS này lấy đèn thờ Lê Lai làm tâm, có 8 vệ tinh, Cách Lam Kinh 10km có đền thờ Lê Hoàn, Di tích Lam Kinh gồm 2 xã, 1 thị trấn, các lăng mộ phần lớn tập trung ở Ngọc Lặc
     Hiện tại đang thi công khu Hồ Tây, xe vận chuyển đất đào đi lại suốt ngày nên khách chỉ có thể tham quan bia Vĩnh Lăng. Tại khu di tích có 20.000 hiện vật thu được sau 7 đợt khai quật.
     Thanh Hóa là nơi có 1600 di tích, là nơi có 3 vua, 2 chúa.
     Thanh Hóa cách khu di tích 56 km .
   Ta đi qua cầu Bạch Ngọc đến sân điện Kính Thiên, Thái Miếu rồi vào nơi Lăng mộ

                                                                        HỒN THIÊNG XỨ LAM SƠN

    Nhân ngày giỗ của tướng quân Lê Trung Giang, một đoàn cán bộ khoa học lịch sử và con cháu dòng họ Lê Trung đã về xã Hoằng Ngọc huyện Hoằng Hóa làm lễ , sau lễ kỵ ở Hoằng Ngọc, chúng tôi về đát Lam 1Sơn viếng mộ bà Thần phi Trịnh thị Ngọc Lữ, vợ cả của vua Lê Lợi .
    Truyền thuyết dân gian kể rằng bà là người dân tộc Mường quê ở trang Bái Đô huyện Lôi dương tỉnh Thanh hóa. Truyện kể rằng có một lần bố Ngọc Lữ đi rừng bị một con hổ dữ bất thình lình nhảy ra vồ, mặc dù ông là người con của núi rừng, lại có võ nghệ , nhưng trong lúc bất ngờ, ông lâm vào thế bí, không sao phòng ngự được, mười phần chết chín. Trong lúc người và hổ đang vờn nhau thì chợt có tiếng thét :”Súc sinh không được vô lễ”, con hổ giật mình quay đầu nhìn sang, phơi bộ ngực hứng trọn một mũi lao từ xa phóng đến mạnh như xé gió . Thú dữ trúng thương, hung dữ đánh nhau với võ sĩ, quần nát cả đám cỏ cây trước khi giãy chết, ông Mường đã thoát chết. Cảm phục vì tài nghệ và lòng quả cảm của võ sĩ ôngt thân thiết mời chàng về trang trại để nghỉ và ... giới thiệu với gia đình.
    Trại chủ có một người con gái đẹp nghiêng trời sắc nước còn treo giá ngọc, chưa gá nghĩa cùng ai, thấy cha giới thiệu chàng dũng sĩ cô trộm ngắm thấy chàng dung nhan tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, mồm rộng bước đi oai vệ như rồng hổ khiến cô xao xuyến trong lòng, ngày đêm mơ ước. Trại chủ biết ý con gái, ông nói với nàng :”Người đó là Lê Lợi, một tráng sĩ đất Lam Sơn, có chí phục quốc diệt Minh , nếu con gái ta mà để lọt mắt xanh, đó là điều vui đấy ”
    Rồi lễ ăn hỏi và đám cưới Lê Lợi- Ngọc Lữ theo đúng phong tục Mường Kinh . năm đó bà Trịnh Thị Ngọc Lữ 19 tuổi.. Là người vợ từ thuở hàn vi, cùng chồng mưu đại sự, bà đã tỏ ra là một vị chủ mẫu có tài quán xuyến công việc hậu cần giúp cho nghĩa quân đánh giặc.
    Tại vùng Lam Sơn, có người phường chầi là Lê Thuận ba lần quăng chầi đều thu về một lưỡi gươm báu, sáng ngời ánh thép, trên thân gươm có khắc chữ “thuận thiên”, ông đã dâng lên Lê Lợi, nhưng chuôi gươm lại do chính bà Trịnh thị Ngọc Lữ phát hiện tại một gốc cây đa già. Mang chuôi gươm đó, lắp vào lưỡi gươm thấy rất vừa vặn, không thể tháo ra được nữa. Đặc biệt tại chuôi gươm khắc hình mãnh hổ vờn long, có hai chữ :”Thanh Thúy”.cũng trong thời gian đó, khi cuốc đất làm nương bà Ngọc Lữ lại tìm thấy một quả ấn vàng , có khắc 4 chữ “Thuận thiên Lê Lợi .Theo ý trời đã định, Lê Lợi khởi nghĩa chông lại quân Minh, bà Ngọc Lữ lo việc hạu cần giúp sức cho chồng.
    Rất đáng tiếc là trong lúc nghĩa quân đánh đâu thắng đấy, có một tên phản quốc đến bàn kế với tướng Minh là Mã Kỳ rằng :”Thưa đại nhân, nhiều đêm dò theo chúa Lam Sơn , tôi đã tìm ra chỗ ở của gia quyến hắn , nếu ta tổ chức đánh úp thì có thể tiêu diệt được Lê Lợi” . Mã Kỳ đã nghe theo, đem quân đánh úp vào doanh trại , nhưng không hạ được Lê Lợi , giặc bắt được bà chủ mẫu Trịnh thị Ngọc Lữ, bọn giặc Minh còn đào huyệt thân phụ Lê Lợi lấy hài cốt mang về doanh trại, hòng tìm cách ép buộc Lê Lợi vì hiếu, vì tình mà đầu hàng quân Minh
Chúa Lam Sơn lúc đó vừa thù cha, vừa thương vợ đã bí mật cử các nghĩa sĩ lọt vào khu đóng quân của Mã Kỳ để tìm kiếm hài cốt cha và giải cứu cho vợ. Các nghĩa sĩ đã mang được hài cốt thân phụ Lê Lợi về, nhưng còn bà Ngọc Lữ thì không cứu được. Vì trong cuộc chiến với quân Minh, bà đã bị thương nặng, nay dù các nghĩa sĩ năn nỉ, bà đã không muốn vì mình mà vướng bận việc quân , nên đã nhờ Trịnh Khả, Bùi Dị đưa hài cốt bố chồng về Lam Sơn , còn mình thì tự vẫn. Hôm đó là ngầy 9 tháng 5 ăm 1418.
   Truyền thuyết còn nhắc lại lời trăng trối của bà :

                               Ta là lệnh nữ
                               khi ta về trời
                               không hòn tên mà chẳng mũi đạn
                               không bởi gươm đao của quỷ dữ ở đời
                              chỉ cần một chén rượu thôi
                              ta về một nơi trăng thanh gió mát.

    Người vợ “tấm cám”, người vợ “tao khang chi thê” của Lê Lợi, người mẹ của Quốc vương Tư Tề , người chủ mẫu trong lúc nghĩa quân non trẻ đã hy sinh để lại tấm gương liệt nữ chói ngời. Nhưng rất tiếc khi chúng tôi vào thăm Thái Miếu họ Lê ở Thanh hóa không có ban thờ của Bà. Phải chăng sau này do “lỗi” của con trai bà là Tư Tề đã không đánh dẹp được giặc Đào Cát Hãn (1432) , rồi nhân đó do lời hứa của vua Lê Thái Tổ với hậu phi họ Phạm , nhà vua đã giáng Tư Tề làm Quận Vương,rồi sau đó giáng làm thứ dân. đưa Lê Nguyên Long con thứ lên ngôi Thái tử . Vì lỗi của con, nên bà Trịnh thị Ngọc Lữ không đuợc thờ trong thái miếu, mồ mả của bà cũng không ai tìm đến.
    Năm 2003, một đoàn con cháu họ Lê đã về bãi mía vùng Châm thuộc khu vực Nhà Máy đường Lam Sơn quản lý và tìm thấy ngôi mộ của bà . Cac cụ trong họ Lê bảo với tôi :”Hơn 570 năm đã qua , người đời ai nấy đều xot xa cho thân phận của bà, họ tôn trọng bà và cố công tìm về chiến trưòng xưa, giao cảm với tâm linh để mong được lời chỉ dẫn. Và đến nay các cụ họ Lê đã thành công ” Tại góc sân nhà ông Đỗ huy Phòng có một ngôi mộ xây 5 cấp . Mộ hình bát giác. Tục truyền rằng ngôi mộ được xây trên hình thể ngôi mộ thiên táng (mối đùn) nơi bà Trịnh thị Ngọc Lữ ngã xuống. Không biết từ bao giờ, mà trên mộ đã có một tấm mộ chí đơn sơ bằng đá , viết răng :”Lê triều Thần phi Trịnh thị Ngọc Lữ”. Trước bia, có một bát hương bằng đá chạm , chân hương ngời ngời . Con cháu dòng họ Lê từ khi tìm được mộ Thần phi, hàng năm về Lam Sơn đều tìm đến đây thắp hương tưởng niệm
   Giữa đồng mía bạt ngàn của vùng Lam Sơn . tôi như thấy hiện lên bóng dáng Thần phi , một phụ nữ có dung nhan hiền hậu đang xé mảnh thắt lưng cắn ngón tay lấy máu viết lời trăng trối, rồi buộc vào con gái, đưa cho các tướng, còn bản thân bà thanh thản nâng chén rươụ độc nhẹ nhàng lìa trần, giữ vững khí tiết, chung thủy với chồng, với nghiã quân Lam Sơn
   Nay bà đã có mộ chí , có nơi gìn giữ khí tiết, có nơi để người đời hương khói, lạy Bà xin hãy phù hộ cho đất nước trưòng tồn mãi mãi.

                                                                          ĐẾN VÙNG ĐẢO NGHI SƠN

    Chúng tôi đi qua núi Nhồi về phía biển. Trên núi Nhồi có Hòn Vọng phu cao khoảng 25 mét, mang dáng hình người thiếu phụ bồng con. Bên cạnh có hòn đá cắm cờ
    Đặc điểm của đá núi Nhồi là có thể tách mảng đẻ tạc tượng, tạc bia. Có một câu chuyện dân gian ở đây kể rằng : Khi tạc tượng vua Lê Lơi để đặt tại quảng trường thành phố, không tìm được mảng đá nào đủ tạo nên đầu và thân. Các vị lãnh đạo đã đến Núi Nhồi làm lễ xin đá, Lễ xong, một tiếng nổ lớn xảy ra, núi Nhồi bật ra một tảng đá tạc đầu và cai Lê Lợi đủ khớp.
    Chiều 11-12-2004 chúng tôi đến xã Nghi Sơn Con đường đến Nghi Sơn phải qua chui một cầu chuyển thành phẩm từ nhà máy xi măng ra cảng. có chiều dài khoảng 3000 mét. Đường lên đảo lại qua một quãng chênh vênh, chúng tôi phải xuống xe đi bộ cho được an toàn.
    Khi vào đến Nghi Sơn, có con đường nhựa chạy sâu vào phía trong. Có nhà xây cao san sát, đừng tưởng là Nghi Sơn nghèo.
    Từ đời vua Bảo Đại có đưa một viên thái giám ra trông coi, nhưng thật ra từ đời vua Quang Trung tại đây đã có đồn binh trấn giữ. Tại Nghi sơn phía sau các tòa nhà, chúng tôi tìm được một quãng thành cổ, bên cửa thành có một khẩu thần công bằng gang nằm bên tường.
    Theo lời kể của dân thì từ thời Trịnh đã có một đạo quân đi qua đảo để xuống phía Nam, đến thời Quang Trung sau khi đánh quân Thanh, cũng xây dựng đồn biên phòng ở đây. Khi vua Quang Trung mất, dân trên đảo lập đền thờ. Vua Gia Long lên lại phá đền. phá tượng, Nay dân đảo khôi phục lại
    Nghi Sơn có 15 xóm, lập thành 4 thôn. Chúng tôi đến thăm đền, tại đây có ban thờ Tứ vị Hồng nương, nhưng tên đền lại đề là Quang Trung điện.
    Chúng tôi đến đền, các pho tượng đá đều đã bị chém cụt đầu, không biết đó là tượng của ai nhưng nhân dân đều mang về trân trọng thờ cúng.
Hàng năm, Nghi Sơn vào hội ngày 5 tháng Giêng.
Trong lễ hội có bơi thuyền, mỗi thuyền 16 tay bơi, Các thôn Bắc sơn, Nam sơn, Trung sơn và Thanh sơn thi với nhau
    Ông Tôn Thất Cơ một người trong dòng tộc đã ra đây trấn thủ, ông đặt tên nơi này là Đất Biện
    Ngày nay, Thanh Hóa đang có kế hoạch đưa vùng Nghi Sơn lên thành vùng công nghiệp, nâng cao dời sống nhân dân nên các công trường được mở khắp nơi.

    Trước năm 1945, triều Nguyễn cử một viên quan trong tôn thất là ông Tôn Thất Cơ ra trấn thủ tại một vùng đảo nhô ra biển thuộc huyện Tĩnh Gia. Thuở đó, ở Thanh Hóa có câu ví “Nhất Xương nhì Gia” để chỉ hai huyện nghèo nhất tỉnh. Ta đến vùng đẩo đó, ông Tôn Thất Cơ đặt tên là Cù Lao Biện (ý muốn ví với đất Biện trong sử Trung Quôc) và mộ dân ra đảo khai khẩn, đánh cá.
Trong chuyến đi Thanh Hóa, chúng tôi đã đến cù lao Biện và được đại diện chính quyền địa phương tiếp đón nồng nhiệt . Ông cho biết diện tích canh tác của đảo chỉ có 1 km2 nên dân đảo tập trung ở ven biển tới 7000 hộ, sống chen chúc quanh khu vực trồng lúa và cửa biển. Cù lao Biện nay đổi tên là xã Nghi Sơn với 4 thôn là Bắc Sơn, Trung Sơn, Nam Sơn, và Thanh Sơn . Trên đường liên thôn có dãy phố, với nhiều nhà cao tầng như biệt thự nghỉ mát và con đường rộng trải nhựa nối với bến xe . Người dân trong đất liền theo xe ra đây mua cá biển đem về chợ trong đất liền để bấn. . Phần bên kia đảo, là những dãy núi đá già, bao quanh một vụng nước sâu còn chưa được khai thác.
Ông kể chuyện ngày xưa, thời chúa Nguyễn mở mang đất đai về phía Nam thì cù lao này là nơi quân đội thường trú , mỗi khi gập sóng gió, các thuyền lương cũng tránh bão ở đây Đến thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã chú ý tới vị trí hiểm yếu của cù lao, Ngài đã cho đặt đồn binh, và mộ dân ra khai khẩn. Nhưng công cuộc của ngài chưa đuợc bao lâu thì nhà vua đã mất, dân trên đảo thương tiếc Ngầi đã lập nên một ngôi đền tên là “Quang Trung từ”, có tượng đá , bia đá thờ Ngài.
Khi vua Gia Long lên ngôi, với chính sách trả thù nhà Tây Sơn, nhà vua đã cho phá đổ đền thờ vua Quang Trung, đập vỡ các bia đá và chém đầu các pho tượng thờ.
Bây giờ, đến Quang Trung từ chúng tôi đã tận mắt trông thấy các pho tượng thờ bị cụt đầu, các bia đá bị vỡ nhưng được đân trên đảo trang trọng dựng lại
Ngôi đền mới do dân đảo dựng nên vẫn mang tên “Quang Trung từ” nhưng có kiến trúc to đẹp chắc chắn hơn xưa, mạt tiền hướng ra biển như một ngọn hải đăng để người ra khơi lấy hướng tìm về. Theo tín ngưỡng vùng biển, các cư dân trên đảo còn phối thờ Tứ Phủ gồm các vị Ngọc Hòang, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn .
Chúng tôi đến thăm thôn Thanh Sơn là thôn ở sát bờ biển, dân ở rất đông , các ngôi nhà xây sát nhau, tại đây còn lưu giữ một đoạn thành cổ , cổng thành xây cuốn bằng gạch , dưới chân cổng thành, có một khẩu thần công đúc bằng gang kiểu thế kỷ XVIII thường bố trí trong các nơi đồn trú. Thứ súng này khi bắn, nguời pháo thủ nạp chặt thuốc ở đuôi súng, rồi mới nhồi đạn gang hình tròn từ đầu nòng vào. Trên thân súng, có một lỗ để tra ngòi pháo, khi bắn, người pháo thủ đốt ngòi pháo, thuốc nổ cháy, bắn viên đạn về phía quân thù. Loại súng này , chúng ta thường gọi là “thần công đốt đít” So với vũ khí của châu Âu hồi đó thì vũ khí của ta sức sát thương kém hơn, nhưng cũng là một vũ khí phòng thủ lợi hại lúc bấy giờ
Sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, cù lao Biện đổi tên là xã Nghi Sơn, đồng thời cũng đổi đời cho dân đảo. Người trên đảo tổ chức đánh cá, canh tác nông nghiệp, Sau ngày đổi mới , nhận ra vị trí kinh tế của Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia đã cho đắp một con đưòng nối từ đát liền tới đảo, xây dựng đảo thành khu kinh tế . Tại đây có nhà máy xi măng Nghi Sơn của liên doanh Viêt- Nhật . Đi trên con đường của đảo, ngắm nhìn các tầu cá ra vào trong vụng, hoặc neo đậu trước đền Quang Trung , phía đất liền có một đường băng chuyển sản phẩm xi măng từ nhà máy rót thẳng xuống các tầu vào cảng ăn hàng.
Bây giờ đã đổi đời, nhưng cư dân trên đảo không quên ơn vua Quang Trung, hàng năm họ tổ chức ngày hội làng là ngày 5 tháng Giêng- ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh-
Trong ngày hội làng, ngoài nghi thức tế lễ, xã còn tổ chức thi bơi thuyền giữa 4 thôn. Sự rèn luyện sóng nước đã làm cho đội thuyền Nghi Sơn nổi tiếng trong những ngày Thanh Hóa mở hội đua thuyền.
Chúng tôi rời đảo Nghi Sơn, thủy triều đã xuống, những chiếc tàu đánh cá đã về bến, đang bán cá cho các lái buôn, họ hối hả chia cá với nhau, rồi tất tả ra xe để về chợ huyện Tĩnh Gia Bãi biển trở nên rộng lớn , nhiều cụ già thanh thản ngồi ngắm biển, và thanh niên hò hét chạy dưới bãi chơi bóng đá. Đúng là Cù lao Biện đã khác xưa.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 09.6.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn