Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Đền Đồng Cổ Thanh Hóa





ĐI THĂM THANH HÓA




           Không Gian Văn Hóa xã Hoằng Ngọc
         
Trong chương trình đi thăm Thanh Hóa, điểm đầu tiên mà tôi đến là xã Hoằng Ngọc huyện Hoằng Hóa
Đây là một xã trong tám xã ven biển, ở vào thế ngày đêm đối mặt với biển, thu lợi từ biển và đôi khi chịu những trận bão biển dữ dội, người dân Hoằng Ngọc đã tìm mọi cách lấn biển để cuộc sống ngày một thay đổi.
Ông Bùi Minh Kính bí thư Đảng ủy xã cho biết Hoằng Ngọc gồm 5 thôn là Hồng Đô, Nhân Ngọc, Đức Tiến, Yên Tập và Đa Văn.. Tổng số đất đai cả xã là 528, 23 ha đất, trong đó đất canh tác là 390 ha,  Dân số toàn xã có 1120 hộ, 6812 người, trong 5 thôn, có một thôn được công nhận là Làng Văn Hóa
Người dân Hoằng Ngọc hiện nay đã có sự đổi mới về nhận thức kinh tế, 54% làm nông nghiệp, thương nghiệp dịch vụ có 30%,  ngoài ra là các ngành nghề khác.
Chúng tôi chưa đến các thôn Nhân Ngọc, Đa Văn, Đức Tiến và Yên Tập, nhưng tại thôn Hồng Đô cũng tìm được nhiều điều lý thú.  Trong cái màu xanh ngút ngàn của dừa và tre, các mái nhà trong thôn đều lợp ngói, Đa số vẫn là kiến trúc truyền thống : ngôi nhà lớn hướng về phía Nam, cuối sân có ngôi nhà ngang bố trí vuông góc với nhà lớn. Những nhà này trang trí còn đơn giản, chưa có trang trí cầu kỳ.
Đôi chỗ tại các ngã tư giao thông đã có ngôi nhà kiến trúc đẹp.  Suy ra có thể biết người dân trong xã nắm được thời cơ. Mỗi thôn tuy sự phát triển kinh tế khác nhau, nhưng chung nét giữ gìn bản sắc văn hóa.
Ông Bùi Minh KÍnh kể với tôi câu hò dân gian của quê hương : Cách nay đã hơn mấy chục năm, máy bay Mỹ đánh phá Hoằng Hóa rất ác liệt, thế mà trai giái các thôn vẫn hát đối đáp với nhau. Đó là những tiếng hát giao duyên , hoặc bày tỏ nỗi lòng. chọn bạn trăm năm
Dưới ánh trăng, trai gái không thấy mặt nhau , họ chỉ nghe câu hò, giọng hát để đoán định, không có mối mai mà ưng ý trọn đời. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết :

Đêm khuya một tiếng bầu, tiếng trúc.
Một câu hò cũng động trong tim

Ban đêm, người trai nghe người con gái cất lên giọng hò, bâng khuâng tìm bạn, thế là dù anh ta đã nằm trong màn cũng  không sao ngủ yên được. Anh lắng tai nghe xem trong thôn xóm có ai trả lời câu hò đó, nếu lâu lâu không nghe tiếng hò trả lời, thế là anh ta vùng dậy ra khỏi mái nhà cao giọng hò đáp lại. Cứ như thế, anh - ả  hò thâu đêm, mặc cho trăng lên, trăng xế , trăng tà vẫn chưa thôi bởi chưa tỏ hết tình , hết nghĩa cùng nhau.
Kể đến đây  ông Bùi Minh Kính cất giọng hò cho tôi nghe mấy câu đối đáp của trai gái miền quê Hoằng Hóa.  Thật là vui, khi người đàn ông 47 tuổi, mà chất giọng vẫn trong trẻo, ngân dài. 

Bên nữ hò
Ơi hò…Ta về bẻ lá cắm đây
Ngày mai ta lại chốn này ta chơi
Bên nam hò
Ơi hò…Tây nâng chén rượu Kim bôi
Tay gạt nước mắt : “em ơi đừng về
Người về …ta chẳng cho về
Ta túm vạt  áo, ta đề bài thơ…”
 
 
          Người dân xã Hoằng Ngọc đều là dân sông nước, họ hát hò để tìm bạn trăm năm. Ở đây nhiều khi cha mẹ đã làm cố vấn, tham gia “vận vần” cho trai gái đối đáp. Các bậc cao tuổi khi đó, thủng thẳng ăn trầu, hút thuốc lắng nghe câu hò của đối phương để xác định người này tính tình hành trạng ra sao mà toan tính chọn dâu rể trong nhà
          Đi thăm Hồng Đô, tôi ngạc nhiên thấy việc dân làng nhiệt tình sửa chữa các di tích. Xưa thôn nào cũng có các di tích nhưng bom đạn phá hủy nhiều, nay hòa bình nên làng nhớ đến người xưa.
          Làng Nhân Ngọc thờ ông Đỗ Hạnh, một tướng giỏi thời Trần từng lập chiến công bắt sống Ô Mã nhi, Phàn Tiếp trên sông Bạch Đằng.  Làng Yên Tập thờ quốc mẫu Bảo Anh , vợ của vua Lê Hiến Tông (1497- 1504) theo chồng đi chinh chiến phương Nam đã chết, được thờ tại đây.  Làng Đa Vân thờ cụ Bùi Nhân Minh, nguyên Tri phủ Hưng An có công đưa dân về khai hoang lập ấp.
          Làng Hồng Đô có dòng họ Lê Trung, 3 thế hệ đều là công thần dưới triều Lê Trung hưng, góp công khôi phục nhà Lê, góp phàn an cư nhiều xứ sở
Hồng Đô tên nôm là làng Đò, tên cũ là Đô Du tiếp giáp các làng Lương Hà (đông), Sông Cung (tây) Hoằng Đông (nam) và Nhân Ngọc. Trong làng có 7 họ cùng cư trú là các họ Lê Trung, Lê Văn, họ Chu, họ Nguyễn v.v. nhưng họ Lê Trung là đông dân hơn, chiếm tới 1000/2000khẩu
Với số dân đông như vậy, ta có thể ước định rằng từ xa xưa dòng họ Lê là người đã đến đây vừa làm ruộng, vừa đánh cá biển, rồi sau đó tách thành hai chi Lê Trung và Lê Văn.
  
Gia phả họ Lê cho biết cuối thời Lê sơ có người con trong họ Lê trung húy là Giang , thụy là Quảng Xuyên là một thanh niên khỏe mạnh, giỏi vật được tôn là Đô Thông. Khi ông đến tuổi trưởng thành gập lúc Triều Lê đổ nát xã hội rối ren,  bọn du thủ du thực họp nhau đi cướp của dân lành. Thấy tình hình như vậy, ông liền triệu tập trai tráng trong làng rèn vũ khí, tập võ nghệ đánh đuổi bọn cướp bảo vệ dân lành.
Nghe tin các cận thần nhà Lê như An Thành hầu Nguyễn Kim Lý Quốc công Trịnh Duy Thuận … chiêu mộ quân sĩ nổi lên giúp vua Trang Tông đánh lại nhà Mạc ông liền đưa quân bản bộ đến xin gia nhập Năm đó là năm 1533. Từ đó, ông Lê Trung Giang chiến đấu trải 4 đời vua trung hưng nhà Lê (Lê Trang Tông, Lê Trung Tông, Lê Anh Tông và Lê Thế Tông) phục vụ trong quân ngũ 66 năm giúp triều đình nhà Lê. Từ thuở cầm quân chống lại Mạc Kính Điển ở cửa Hới Lạch Trường đến lúc cùng Trịnh Tùng giải phóng Thăng Long, phò vua Lê Thế Tông về kinh đô xưa, ông làm đến Phụ quốc Thượng tướng quân, đô đốc Tĩnh quận công.
          Ngoài thời gian chiến trận, ông là người chú ý tới việc đắp đê ngăn mặn , khai phá ruộng đất, biến bãi hoang sơ thành vùng dân cư đông đúc, tiếng hát, tiếng hò lan tỏa quê hương từ thuở ấy.                    
          Theo gương người anh, em ông là  Lê Trung Hải phù Lê làm đến Hộ bộ Tả thị lang, làm quan trải các đời vua  Lê Trung tông, Lê Anh tông, và Lê Thế tông.
          Con trai cả của Lê Trung Giang là Lê Trọng Diễn cũng có công tôn phò, được phong Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân .
          Cháu nội là Lê Trung Thiện cũng được phong võ tướng.
          Một gia tộc trung thần, làm văn cũng giỏi, làm võ cũng giỏi xứng đáng được coi là “Khải Văn Võ Đường”
Một người đã dành cả đời rèn cập cho em, rèn cập con, cháu hết long trung nghĩa phù Lê diệt Mạc đáng là nơi huân nghiệp được nhà Hậu Lê coi là Khai quốc công thần. Với công tích ấy khi ông mất đã được vua Lê phong là Thành hoàng làng Đô Du (tên cũ của Hồng Đô) Ông được dân tôn phong lập đền thờ làm phúc thần, dân làng kính tặng ông bức hoành phi “Dân Thụ Kỳ Tứ”
Các triều vua Lê Trung hưng rất ân sủng đối với Lê Trung Giang, vua Lê Thế Tông đã ban tặng ông 4 chữ “Khải Văn Nõ Đường” và tặng 4 đôi đũa ngà làm đồ thờ.
Thông thường trong dân gian có di tích ắt có lễ hội, để giữ gìn và phát huy những nét đẹp của di tích.
Làng Đô Du xưa sống theo nếp làng, hang năm tổ chức lễ hội với nhiều nét đặc trưng của văn hóa vùng ven biển,    
          Trải qua nhiều năm chiến tranh và hoàn cảnh xã hội, đình làng bị tàn phá, lễ hội không tổ chức được, nhiều nghi thức bị quên      Nay ông Lê Trung Tân- nhà giáo hưu trí- hiện nay tham gia nghiên cứu lịch sử huyện Hoằng Hóa kể cho biết :
Theo lệ cũ,  hằng năm vào ngày 20 tháng Giêng, làng Đô Du mở hội Kỳ Phúc. Trước ngày đó các phe giáp trong làng đã họp nhau củ soát mọi việc chuẩn bị cho ngày lễ.
Có một tục lệ còn lưu tới bây giờ là các hộ trong làng đều theo nếp nuôi quân ngày xưa , chuẩn bị gạo trắng nước trong đợi đến giờ Dần ngày 20 tháng Giêng nấu cơm. Mang ra đình dâng cúng Thánh. Nồi cơm chỉ nấu 2 kg nhưng phải chọn lựa củi, gạo, cẩn thận  Nếu không may cơm bị sém, bị khê, thì số “lương thực” đó không dâng cúng được mà gia đình nấu kém bị phạt, bị kém phát đạt trong năm.
Sau khi dâng cơm nuôi quân làng Đô Du bắt đầu tổ chức rước. Đám rước có  kiệu thờ ông Lê Phụng Hiểu , một võ quan đời Lý được vua phong ăn lộc vùng Hoằng Hóa, dân gọi là Thánh Bung. Thế là trong đám rước có kiệu của hai vị Thành hoàng :một vị là Thành hoàng huyện Hoằng Hóa, một vị là Thành hoàng làng Đô Du
Bởi cả hai vị Thành hoàng đều là công thần nên nghi lễ nghiêm túc lắm , Mọi việc đều theo quy định, không được thêm bớt chi tiết nào.
Riêng làng Đô Du quê ông Lê Trung Giang vốn là đất võ nổi tiếng nên có hội vật kéo dài, lôi kéo người ở Bung, ở Phù Khê về dự
Thường thì các võ sinh đóng khố, cởi trần vào sới vật.  Nhưng làng Đô Du lại có lệ : Mặc quần dài chấm gót trong lúc vật, để khi vật phô diễn nhũng miếng võ điêu luyện. Hạ được đối phương mà võ sinh thần thái vẫn ung dung , không bẩn quần áo mới là chiến thắng
Đây là một thế vật bí truyền , chỉ được nghe kể lại mà không làm được, ngày nay các đô vật đang tìm cách ôn lại.
          Cũng trong lễ hội này, có tục tế nữ quan do 12 người vùa làm lễ vừa múa “sanh ngô” trình diễn trước ban thờ. Theo mô tả của các cụ thì người múa “sanh ngô” mặc áo dài rộng tay, hai tay cầm hai cái quạt vải rông (hay là cái vả) khi vũ lộng, người và quạt quấn lấy nhau trông phiêu diêu như tiên giáng trần.
          Một di chỉ dù trải qua nhiều biến cố, nhưng long dân đây, nếp sinh hoạt văn hóa của bao đời truyền lại đã thành tục lệ , sẽ tồn tại và sống mãi trong long dân ..
     
                                                                       CỔNG  ĐỀN  ĐỒNG  CỔ
 
          Cổng vào thăm đền Đồng Cổ ở Thanh Hóa có những phiến đá hình chữ nhật 50 x 60cm xếp liền nhau tạo thành chiều sâu 3 mét. Trên nóc cổng có nhà gác,  Tại đây có câu đối
                                                                 Sơn trĩ tam thai vân tụ tán
                                                          Hồ loan bán nguyệt thủy thăng trầm.
          Đi vào trong, gập mấy người dân, họ đọc cho biết câu vè :
                                                                 Đan Nê tốt đất cao nền
                                                          Nào ai đi đến thì quên cửa nhà
          Tư liệu nói rằng đền xây giữa tam thai, có dông Mã chảy qua núi. Lưng đền dựa vào cách núi, trong thời kỳ chống Pháp đã dùng khu này đặt công binh xưởng, đến phong trào bài phong người dân lại phá đền. Trước kia, lễ hội ở đền Đồng Cổ vào ngày 15 tháng Ba, nhưng chính quyền lại đưa về ngày 30/4 và ngày 1/5
          Từ đền Đồng Cổ Đan Nê sang thành nhà Hồ cách 6km, ở Vĩnh Lộc có dền thờ tướng Trần Khát Chân. Đền Trần Khát Chân có kiến trúc chữ Nhị, có đôi câu đối :  

                                                       Thiết thạch nhất tâm triêu nhật nguyệt
                                                      Cương thường vạn cổ đặng càn khôn
 
Ban Quản lý Di tích Lịch sử - Danh thắng đền Đồng Cổ  đã trao cho tôi một tờ rơi , trên đó ghi rõ :
“ Núi và đền Đồng Cổ làng Đan Nê xã Yên Thọ năm 1993 được Sở VH-TT Thanh Hóa ra quyết định công nhận là Di tích Lịch sử - Danh thắng. Cuối năm 2001 Bộ VH-TT ra Quyết định công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia.
Từ trung tâm thành phố Thanh Hóa đi theo đường quốc lộ 45 khoảng 38km là đến Phố Kiểu. Rẽ trái ngược đê sông Mã 3 km là đến Trung tâm Khu Di tích “Núi và Đền Đồng Cổ”
Hoặc có thể đi bằng đường thủy từ cầu Hàm Rồng ngược sông Mã  quãng 35 km qua cầu Kiểu về đến núi Đồng Cổ.
Núi Trống đông, Đền Trống Đồng phiên âm chữ Hán là “Đồng Cổ Sơn và Đồng Cổ từ”  cùng với tên làng cổ phiên âm ra tiếng Hán là Khả Lao Thôn (Nay đổi gọi làng Đan Nê xã Tên Thọ) đã trải qua quãng đời mấy ngàn năm, cũng như đất nước Việt Nam đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử
Thời Vua Hùng thứ nhất (năm 2569 trước Công nguyên) nhà vua đi dẹp loạn Chiêm Thành xâm lược ở phương Nam. Đại quân theo đường núi tiến đến chân núi Khả Lao nghỉ quân ở đó. Đêm đến nhà vua mộng gập thần núi này xin có trống đồng, dùi đồng giúp nhà vua đánh thắng giặc. Nhà vua tỉnh dậy làm theo lời. Khi đối trận với giặc nghe âm vang trên không tiếng trống đồng, tiếng kiếm, kích. Người Chiêm sợ hãi bỏ chạy. Quân ta thắng trận trở về. Nhà vua phong cho thần núi Khả Lao là“Đồng Cổ Đại Vương”  lập đền thờ
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí phần nói về tỉnh Thanh Hóa viết về Núi và Đền này: “ Núi Đồng Cổ có tên là núi Khả Lao, núi nổi thành ba ngọn cao thấp liền nhau như ba vì sao nên gọi là Tam Thai. phía Tả núi có Đền thần, trong đền có một cái trống đồng nặng 100 cân , đường kính khoảng 2 thước 1 tấc, chiều cao khoảng 1 thước 5 tấc
Tương truyền cái trống này chế từ thời Hùng Vương
Đầu thiên niên kỷ thứ II, Thái tử Lý Phật Mã con vua Thái Tổ Lý Công Uẩn vâng mệnh vua cha trên đường đi đánh giặc Chiêm ở phương Nam, qua núi này nghỉ đêm ở bến Trường Châu , bên chân núi Khả Lao. Canh ba đêm đó, Thái tử mộng gập thần núi khoác chiến bào, tay cầm kiếm nói “ Tôi là thần núi Đồng Cổ biết Ngài đi dẹp loạn ở phương Nam xin cho giúp sức”. Thai tử vui vẻ y cho, khi giao chiến quả nhiên thắng trận . Trên đường thắng trận trở về Thái tử đến Đền Đồng Cổ để tạ ơn thần thì thần lại báo mộng “nhà Vua về ngay Thăng Long ở nhà có loạn” Thái tử vâng lời cùng tùy tùng cấp tốc về Kinh. Quả nhiên như thần đã báo mộng , ba vị vương em làm loạn tranh ngôi. Nhà vua kịp ngăn chặn được bạo loan
Sau đó Nhà Vua cho rước Thần Đồng Cổ từ Đan Nê về lập đền thờ ở Bắc thành Thăng Long. Phong cho thần Đồng Cổ là Thiên hạ minh chủ (người chủ lời thề trong thiên hạ), cho lập đàn thề, đọc câu thề : “Làm con mà trái đạo Hiếu, làm bầy tôi mà trái đạo Trung thì thần giết chết”
Từ đó cứ đến ngày 4 tháng Tư âm lịch hằng năm ở đền Đồng Cổ
thuộc phường Bưởi quận Tây Hồ - Hà Nội có Hội thề Trung Hiếu.
 Trong đền Đồng Cổ xã Yên Thọ  ngày nay còn lưu truyền câu đối :
                                        Thiên vi anh, địa vi linh, tất mã giang tây thanh miếu cổ.
                               Thần đương trung, tử đương hiếu, Thăng Long thành Bắc thệ đàn cao              
          Ngày nay, chủ tịch Hồ Chí Minh dựa theo ý xưa đã nói : “Quân đội ta, Trung với Đảng, Hiếu với Dân nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”
(Nhân dân cho biết Hội làng thường mở vào ngày 15 tháng Ba âm lịch, sau 1975 chính quyền đổi là ngày 30/4 và 1/5 dương lịch)
          Khu di tích Núi và Đền Đồng Cổ trước đây vốn nổi tiếng linh thiêng , Quanh Đèn cây cối sầm uất um tùm. Đứng trên ngọi núi cao nhất nơi có quán Triều Thiên thả tầm mắt về hướng Bắc ta bắt gập thành nhà Hồ.  Chính diện hướng Đông là chùa Dáng, phía Nam là động Hồ Công, một phong cảnh đẹp của huyện Vĩnh Lộc
          Dưới quán Triều Thiên là chùa Thanh Nguyên đã từng được ghi trong Thanh Hóa Kỳ thắng  “ quán Triều Thiên sánh với Quần Thiên”
          Đứng đây nhìn xuống chân núi có dòng song quấn quýt chảy quanh, bong người hái củi dọi xuống dòng sông có chiếc thuyền nhẹ buông câu khi ẩn, khi hiện . Dõi mắt nhìn bốn bề, như một bức tranh .
Có thơ rằng :

Ba ngọn non dăng, ngất giữa trời.
Trèo non tưởng tượng bước thang mây
Sườn mây thảm lục rêu xanh phủ
Núi Dáng phơi hồng ánh đỏ vây
Cây cỏ um tùm tràn bóng rọi
Gió thêm phảng phất nức hồ đầy.
Đất thiêng thu góp non sông đẹp
Phong cảnh đẹp sao khó tả lời.  
 
          Trong lòng ba quả núi có các hang động kỳ thú, động Ích Minh xuyên núi ra sông Mã, Mùa hè, trong động nhiệt độ thấp hơn bên ngoài khiến ta dễ chịu. Phía hữu có hang Nội mát không kém. Phía Tây có cửa vòm bằng những phiến đá. Lại có hồ bán nguyệt nằm trong thung lũng núi Tam Thai quanh năm gợ sóng lăn tăn
          Có câu đối khen rằng

                                                           Hồ bán nguyệt lung linh hổ phách
                                                             Ấn tam thai giữ mạch long bài        
 
Trên vach núi trước mặt hồ có hai tấm bia liền nhau : 1 bia khắc chữ Hán, 1 bia khắc chữ Pháp. Nội dung bia miêu tả cảnh đẹp của núi và đèn , vừa hiểm trở lại có nhiều hang động . Trước năm 1945 nơi đây là cơ sở cách mạng. Đây là điểm xuất phát đốt đuốc tiễn thanh niên lên đường giết giặc trong 2 cuộc kháng chiến
          Năm 1948 Ủy Ban Kháng chiến tỉnh Thanh Hóa chọn đây là điểm Hội chợ Trường Cao Đẳng Giao thông công chính về đây giảng dậy .   Năm 1949 Binh Công Xưởng Nguyễn Công Cậy về đây sản xuất vũ khí phục vụ kháng chiến
          Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nhà máy điện Tĩnh Gia Thanh Hóa đã sơ tán về đây sản xuất điện phục vụ chiến tranh. Bởi vậy khu di tích luôn là điểm đánh phá của kẻ thù.
          Trải mấy ngàn năm, biết bao cảnh biển dâu biến đổi, nhưng huyền thoại Thần Núi Trống Đồng ứng mộng trong quân vẫn được lưu truyền, cùng với cảnh đẹp núi sông làng Khả Lao xưa, một dẫy núi cao thấp ba tầng mà tài tử văn nhân gọi là núi Tam Thai vẫn sừng sững hiên ngang. Dòng sông Mã uốn khúc quanh co. Ngai Khánh đá trên núi Triều Thiên của xóm bằng những phiến đá hồ tang nửa vách, bia đá cheo leo trên cao giữa sườn núi vẫn còn đó.
          Cảnh đẹp thiên nhiên của núi Trống Đồng vẫn được lưu truyền trong các tác phẩm “Việt Điện U Linh “ “Lĩnh Nam Chích Quái” “ Đại Việt sử ký toàn thư” “Thanh Hoa chư thần lục” , trong bia đá do Tiến sĩ Nguyễn Văn Giai chấp bút, trong kiệt tác của Bảng nhãn Lê Quý Đôn, trong Dư Địa Chí của nhà bác học Phan Huy Chú, trong bài viết “Tam thai sơn Linh tích” của Lam Kiều Nguyễn Dật Sản …khiến ta nghĩ rằng Núi và Đền Đồng Cổ là một thắng cảnh nổi tiếng, đồng thời là một di tích lịch sử - văn hóa có giá trị về tinh thần, truyền thống dân tộc suốt mấy nghìn năm qua.
          Nhờ có ánh sáng văn hóa của nhà nưóc mang lại trong công cuộc đổi mới. Thể theo nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân trong xã và bà con xa quê. Nhân dân đã tụ tâm công đức bước đầu mới trùng tu được 3 gian hậu cung và một số công trình khác làm nơi phụng thờ. Nhưng so với những gì mà Núi và Đền Đồng Cổ có trước đây mới chỉ là phần rất nhỏ.  Công trình này có ý nghĩa rất lớn vì sâu 6 thập kỷ bị lãng quên , từ đây các thế hệ tiếp nối sẽ từng bước trùng tu khu di tích này xứng đáng với tầm cỡ của nó, trở thành một điểm du lịch hấp dẫn phía Bắc tỉnh Thanh Hóa.
          Kính cáo các nhà hảo tâm công đức được biết để khu di tích  lịch sử Núi và Đền Đồng Cổ ngày càng đẹp hơn
 
                                                           BAN QUẢN LÝ DI TÍCH
 
Ghi chú :
Trong tư liệu này, phần nói về lịch sử của Thái tử Lý Phật Mã và loạn Tam vương các tác giả Thanh Hóa đã viết không đúng ĐVSKTT. 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 02.6.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn