Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Gành Sơn Bình Thuận




Nghề Đi Biển Xưa






Bình Thuận là vùng đất có ưu thế về lưu thông với bờ biển dài 192 km2 và một ngư trường giàu tiềm năng. Bước chân của cư dân lưu tán trong buổi đầu đi mở làng dựng nghiệp hầu như dựa vào lợi thế biển. Điều đó không lạ bởi trên 300 năm đã định hình chốn đô hội, phồn vinh đều nằm ở những quần cư làng chài không tách rời khỏi biển. Dấu thời gian ở những di tích dinh vạn thờ thần Nam Hải (Cá Ông) được coi là sớm nhất, vạn Thủy Tú ở Phan Thiết (1762), vạn An Thạnh ở Phú quý (1781)…

   Do yêu cầu phát triển, thuyền buồm chỉ đánh bắt vùng biển gần bờ nhưng để mở rộng giao thương, vận chuyển đưa sản phẩm nước mắm, cá khô và sản vật rừng đến các nơi xa hơn thì bị hạn chế. Trước khi đường thuộc địa số 1 (nay là QL.lA) thông thương nối với các tỉnh lân cận thì phương tiện giao thông bằng đường biển là chủ yếu. Lúc đó ngư dân xứ Quảng, miền Trung đã từng sử dụng loại ghe bầu, có trọng tải lớn vào ra buôn bán với Bình Thuận, rồi dần dần theo đó ngư dân địa phương sắm mới, đóng loại ghe này.
   Nguồn gốc ghe bầu là của người Chăm đã dùng từ trước, gọi là Prau. Ghe bầu lớn hơn loại ghe chài thường dùng rất nhiều, kích cở chiều dài đến 30 thước, thân ghe phình rộng, ba buồm hứng gió hình tứ giác hay cánh dơi, chở nặng khoảng 200 tấn, có thể đi xa dài ngày. Mùa thuận gió, từ Phan Thiết chở hàng cá, mắm đi Vũng Tàu mất một ngày một đêm. Ghe bầu đóng bằng gỗ sao, chò, bình linh… là loại lâm sản dễ tìm ở rừng Bình Thuận. Ghe lớn vậy nhưng đáy bằng nan tre được trét dầu chai chịu nước, bên trên là sàn lót ván. Bộ phận quan trọng nhất là bánh lái và lộng dọc ngang, cho nên người cầm lái rất có toàn quyền trên suốt hải trình. Nguồn hải sản Liên Hương, Phan Rí Cửa, Mũi Né, Phan Thiết, La Gi cần bán ra các nơi, nhất là Sài Gòn rất lớn với các loại đặc sản nổi tiếng mắm ruốc, mắm mòi, cá thu, cá thiều…. Đặc biệt cá mòi được chế biến làm mắm dùi và nước mắm có hương vị độc đáo. Sản lượng khai thác nhiều, nghề chế biến làm thùng lều phát triển, nhiều nhà hàm hộ, đầu nậu, chủ vừa bao thầu sản lượng ngay tại bến ghe. Theo một bài viết của Lê Hữu Lễ căn cứ số liệu của Sở Thống kê Đông Dương nghiên cứu về nước mắm thì khoảng thập niên 30 (thế kỷ 20), hàng năm Bình Thuận sản xuất 40 triệu lít nước mắm, tức cần đến 13 triệu tĩn, toàn tỉnh có 230 xưởng làm nước mắm. Tĩn làm từ lớp bùn non, nhuyễn được đun chín, hình bánh ú, có tác dụng ủ chín nước mắm càng lâu càng ngon, vận chuyển không bị bể vỡ. Đến năm 1912 có thêm tuyến đường sắt Sài Gòn -Phan Thiết và miền Trung cũng phải cần đến đường biển bằng ghe bầu, vừa tiện lợi bến bãi vừa giá rẻ.
   Những chuyến hải hành của ngư dân ngày xưa chịu lệ thuộc rất lớn vào thời tiết, thiên nhiên. Dự báo cơn bão sắp đến, hướng ghe vào bờ giữa biển khơi mù tít chỉ thấy chân trời và sao đêm. Nhưng bằng kinh nghiệm cha truyền con nối, họ lặn sâu dưới nước cũng xác định được luồng cá ở đâu, thấy chớp biển biết được mưa nguồn, nhìn sao mọc đủ để định hướng cho ghe vào bờ. Bài vè thủy trình xuất xứ từ đất Quảng, nơi sản sinh những câu hát, hò đối đáp bằng vần điệu, nghe điệu đàng và dễ nhớ. Bài vè thủy trình dọc dài các địa danh cử sông, bến đậu, làng chài, rạn ngầm…ven biển từ Nam Định vào đến Sài Gòn gồm 332 câu theo thể lục bát. Mở đầu bài vè: “Ghe bầu “các lái” đi buôn/ Đêm khuya ngồi buồn kể chuyện ngâm nga”. Những người làm nghề lái ghe bầu được gọi là “các lái”. Do nghề nghiệp, nhiều ghe bầu bị bão đánh chìm, xác người biệt tăm cho nên bên vạn, đình có một bàn thờ “các lái” để vong linh có nơi nương tựa.
   Ghe thuyền từ Bắc vào Nam, đến địa phận Bình Thuận bằng câu:
                             Lao Cao, Cà Ná là đây
                             Lòng Sông, Mũi Chọ thẳng ngay La Gàn
                             Ngó vô thuyền đậu nghênh ngang
                             Gành Son, Trại Lưới tiếng vang làm nghề
                             Cửa Duồng nay đã gần kề
                             Lạch kia Phan Rí ghe nghề xôn xao…
    Nhiều dị bản viết các địa danh mỗi khác, hoặc câu vè bị sai vận, sai từ nhưng người địa phương cũng dễ nhận ra như Lao Cao chính là đảo Cù Lao Câu…Ghe đi tiếp đến doạn Bắc Bình- Phan Thiết, thì:
                              Bãi Rạng, gành Trọc trong xa
                              Hòn Rơm, Mũi Né là đường vô ra
                              Trông xa mua dặm bán chừng
                              Phú Hài, Phan Thiết ấy là trạm trung…
    Rồi đến đoạn biển La Gi cuối tỉnh:
                              Khe Gà nay đã đến nơi
                              Anh em làm lễ một hồi ta qua
                              Nối lèo xây lái trở ra
                              Hòn Lan, Cửa Cạn ấy là Tam Tân…
   Nghĩ lại, với bài vè có tính chân chất, mộc mạc đã đi vào lòng người làm nghề biển ở một thời kỳ mà hoàn cảnh xã hội còn nhiều thiếu thốn, khắc nghiệt. Cuộc sống của ngư dân phải bằng ý chí mạnh mẽ, giàu sáng tạo để mà thích nghi, tồn tại.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhTuy ngày 26.5.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn