Việt Văn Mới
Việt Văn Mới







CÂU HÒ VÂN TIÊN






Chiếc ghe chài bành ky lững lờ trôi theo con nước lớn. Cả tháng nay, chưa khi nào công chuyện của những người bạn ghe nhẹ nhàng như bữa nay. Sông lớn, nước chảy chậm, tư bề ít ghe xuôi ngược, chuyện chèo chống chỉ giao cho hai người cầm sào đi dọc từ trước mũi ra sau lái rồi từ lái tới trước mũi sửa hướng cho ngay dòng. Chẳng bù với mấy bữa qua Vàm Nao, phá Đại Ngãi nước xoáy như thác đổ, bạn ghe người nào người nấy vật lộn với sóng, mồ hôi mồ kê như tắm, mệt té ho mà cái ghe cứ xà ninh xà nang lắc la lắc lư như ông tướng thầy ba lúc thầy pháp lên đàn.

Khỏi chợ Bến Lức đâu độ chừng ăn dập bã trầu, tới khoảng chợ Đệm Bình Điền thì trời chập tối. Lác đác trên trời mấy vì sao hôm thập thò nhấp nháy. Trời sập tối tựa như tấm màn đen được giăng sẵn đâu đó tuốt luốt trên trời đợi tới giờ rũ xuống để che phủ trần gian. Trăng hạ huyền đã mọc từ lâu phết một bệt sáng óng ánh. Cảnh vật êm đềm trong gió hiu hiu mát lạnh gợi nhớ người thân thuộc ở quê nhà. Phải lấy hết can đảm Lành mới theo má bước lên chiếc ghe bự xộn này để xin quá giang. Chuyện quá giang của đàn bà con gái trên ghe thương hồ chủ ghe đại kỵ. Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, trên ghe trên tàu thiếu gì người khuất mày khuất mặt. Chuyện đàn bà ngày tháng có thể làm cho người ta xúi quẩy mất nghiệp như chơi. Nhưng may quá, nhờ tiếng thơm của tía từ trước, ông bà chủ ghe đã vui vẻ nhận lời. Bây giờ mình chờ đợi những gì xảy ra ở xứ văn minh sẽ tới. Một mình mình. Ghe càng đi xa phong cảnh càng lạ, càng thấy nao nao nhớ nhà. Nhớ đám mía trước sân xào xạc tận bờ sông mỗi ngày giặt giũ, nhớ hàng lu nái im lìm giữa hai gian nhà, nước mưa chứa lâu ngày ngậm một ngụm cũng đủ mát rượi cổ họng mấy lúc trưa trời nắng chang chang. Nhớ má ưa lúc thúc dưới bếp làm chuyện này chuyện kia không hở tay. Nhớ những buổi tối má con hủ hỉ dưới yến sáng lờ mờ của cái đèn con cóc dầu mù u nho nhỏ. Bây giờ những thứ thân thiết đó mỗi lúc một biền biệt, biết bao giờ mới được gặp. Còn anh Hai nữa, cả tháng nay đi làm xâu vét kinh Ông Đốc đâu miệt Tân Châu – Hồng Ngự mà chớ hề nghe nhắn nhe tin tức gì về. Nghe nói mỗi ngày nhà nước cho lãnh hai vắt cơm, mấy hột muối cục với lại một miếng khô mực nhỏ bằng hai ngón tay tréo, trả có xu rưỡi không đủ mua một bánh thuốc rê mà phải hụp lặn dưới nước giầm mình múc sình xắn đất. Ở đó muỗi mòng, đỉa vắt. Mình đi đây kể như anh em cách biệt. Cực chẳng đã bỏ làng chứ thuở tía chưa bị bắt thì nhà đâu đến đỗi. Mắt Lành rưng rưng, muốn thút thít khóc như ở nhà mà sợ bạn ghe chộ nên phải dằn, phải nén. Nhưng sao như có cái gì trong lòng đẩy ra làm Lành buồn man mác như lúc nhỏ bị rầy oan. Lành ngó vô góc, chỗ lườn ghe được phân khoang chứa chén dĩa kiểu. Hàng hàng lớp lớp, chén dĩa nhận giữa đống trấu đầy ắp. Được vài chục dĩa Càn Long chia chắc đỡ khổ. Thứ này dân chợ họ chuộng lắm. Chánh cống bên Tàu. Mua về chưng trong tủ kiếng để thiên hạ trầm trồ cũng mát mày mát mặt. Bao nhiêu họ lại không thảy tiền ra bưng về. Lành chép miệng quay về thực tế. Nhưng mà người giàu nứt vách đổ tường, kẻ không có đồng xu dính túi. Họ cho đặt chưn lên ghe là may rồi. Nếu không biết đâu bây giờ mình còn lụi đụi đâu đó dưới miệt dưới. Quá giang từng chặng mệt hơn nhiều. Chắc sáng mai tới bến. Rồi lại còn chuyện lạ nước lạ cái, hỏng biết có gặp người bà con hông. Chỉ biết họ ở chỗ xóm Đạo Chợ Đũi, gần trường con gái Chợ Đũi, mà không biết chắc ở đâu. Để nữa lên đó cất công kiếm coi. Kiếm hỏng ra là phận gái bơ vơ quê người xứ lạ đó. Lành tặc lưỡi như thấy má mình vô lý kỳ cục. Khi khổng khi không cái bắt người ta đi khơi khơi. Rồi biết chuyện gì sẽ xảy ra. Ở quê nhà bữa rau bữa cháo nhưng hủ hỉ có mẹ có con. Lo gì mấy chuyện lặt vặt ăn uống. Có mắm ăn mắm, có muối ăn muối. Với lại chim trời cá nước thiếu gì, lấy lộp, lấy nò đặt một ăn cả ngày hỏng hết. Rau cỏ mọc lu bù sau vườn, lền khên thiếu điều muốn nhổ bỏ. Đói đâu mà sợ? Có lẽ má sợ tụi đầu trâu mặt ngựa trong xóm trong làng đang được thế được thần làm trời làm đất. Rồi Lành sụt sùi ngang, khóc ngon khóc ngọt. Nhớ tới lời dặn lúc chia tay càng thấy chuyện má con gặp lại mong manh như cánh chuốn chuồn. Chắc con biết chuyện người đàn bà có chồng con bị cọp ăn mà vẫn không dọn nhà đi nơi khác? Tại vì chỗ đó không có quan lại khắc nghiệt đó con. Hương chức hội tề địa phương ác độc nhũng lạm còn ác hơn cọp dữ. Bởi vậy ông bà mình mới nói: Tàn chính mãnh ư hổ. Con phải đi khỏi chỗ này để bảo vệ thân... Giọng má run run trong nước mắt. Thân gái xa nhà hiểm nguy nhưng đi được cứ đi. Ai cũng muốn xa chốn này. Thời cuộc làm mấy thứ lộn tùng phèo hết. Làng nước bây giờ có thuộc về mình nữa đâu. Thuộc về tụi nó. Mà tụi nó móc ngoéo nhau rễ chùm rễ mớ. Người dân như mình đành chịu cảnh thờn bơn thôi. Lép một bề. Sống tới ngày nào hay ngày nấy. Đợi chờ. Mấy cây rơm trước sân kia nếu biết đi đã đi mất từ lâu rồi...

Bây giờ mình ra khỏi vòng tay của má, tự đối phó với đời. May nhờ rủi chịu. Phải quyết định lấy, không còn chuyện mỗi chút mỗi “má ơi.”

Tiếng hai người bạn ghe kéo Lành ra khỏi giòng suy nghĩ triền miên.

“Tới Ba Cụm rồi đó. Anh biết bối Ba Cụm mà, lơ mơ nó cuỗm hàng hết bị nạo tróc da đầu đó. Với lại hai gói áo quần của tụi mình. Có bề gì có nước bận xà lỏn ra chợ.”

“Biết rồi, đừng làm tài khôn. Tụi nó thường đi trên ghe cui hay ghe vàm. Để cho thiên hạ tưởng đâu làm ăn chơn chất. Tụi bán vàm, bán rồi đi xuồng nhỏ xẹt qua xẹt lợi, coi trời ơi đất hỡi trái lại thiệt thà... Ở đời thiệt khó. Đâu ngờ.”

“Ừ. Cũng tại bị không ngờ mà hồi nẵm có chiếc ghe chài chở lúa, tụi bối xông nhang mê xúc cha nó gần hết ghe. Tom góp quần áo vàng vòng của bà chủ bộn bàng...”

“Xuỵt. Xuỵt. Kìa cái ghe cui ở đàng sau đương cặp theo ghe mình cà. Dám mấy chả lắm chứ hổng chơi đâu. Coi bộ dạng sanh nghi quá, cứ xôm xôm tới hoài.”

Lành lấy ống tay áo dụi nước mắt ngó về phía sau. Một chiếc ghe cui cũng đi theo dòng. Ghe bự bề ngang mà cụt đòn, coi quê kệt, loại ghe chở củi, chở tràm. Trong bóng tối, cái mui lở ngoài sau lái như một bệt đen in trên nền trời thưa thớt sao khuya. Trên đó thấp thoáng bóng hai người. Một điếu thuốc lâu lâu lóe sáng rực quơ lên quơ xuống, một cái đầu tóc khắc rõ nét trên nền trời mờ mờ tỏ tỏ xa xa. Trong bóng đêm, một giọng hò ngọt lịm lan truyền qua không khí tĩnh mịch đi thẳng vô từng lỗ chân lông người nghe. Ngọt hơn đường cát, mát hơn đường phèn. Lành rùng mình, chân tay nổi da gà. Tiếng hò quí phái như công tử ngày xưa dạo chợ, dịu nhĩu như con gái giã gạo chày đôi, chày ba hát hò dưới trăng.

Hò ơ... Có gió đông hung mới biết tùng bá cứng
Có ngọn lửa hồng mới biết thức vàng cao
Thuyền quyên sánh với anh hào
Đây không thả lá gieo đào như ai
Hò ơi... Trúc kia đã lợp cùng mai
Như chàng họ Lục sánh vai với chị Hai họ Kiều
Xin nàng giữ dạ đừng xiêu
Nếu một mai (hò ơ...) thuyền anh ra biển Bắc, ruột đau như thắc, nước mắt dầm dề, xa cách hương quê, giáp vòng Lục Tỉnh, anh cũng liều (mà... hò... ơ) trở về thăm e... m...

Lành khớp ngang như lúc nhỏ đứng trước cây roi mây cật dài sọc của ông thầy già chi hồ giả dã. Muốn lên tiếng mà miệng cứ như quíu lại. Mở đầu nói chí mình, khuyến dụ là chuyện bình thường, cách buông vần câu thúc ở trên, phóng túng ở dưới, tỏ rằng đã lăn lóc nhiều trong câu hát điệu hò. Điệu này mình chỉ có nước vảnh tai nghe chứ không thể nào đối đáp được. Hai cái ghe tiếp tục trôi. Không gian im lặng nặng nề, âm thanh e...m.. e...em... vẫn còn bao quát đâu đây trong gió đêm lành lạnh, quấn quít trong làn da chéo áo mọi người.

Lâu lắm mới có tiếng hò đáp của giọng con gái trong trẻo, quyến rũ, nhưng ngắn gọn như bất cần lời ong tiếng ve:

Hò ơ... Gá duyên thì phải lựa (mà) xem,
Hò ơ... Coi thử (hò ơ...) đó là thằng Bùi Kiệm hay anh Vân Tiên (hò ơ...) em mới trao lời...

Tiếng hò dứt mà Lành vẫn còn bàng hoàng chưa tỉnh. Giọng người ta trong vắt như nước nhìn thấy sâu dưới đáy, cao như nhạn lượn chín từng mây. Giọng của mình cũng có tiếng ở chòm xóm đó, nhưng mà so với người thì có nên thân nên hình gì đâu. Bất quá như mới biết múa quọt quẹt trước thầy võ vậy thôi. Đi xa mới biết trời cao đất rộng. Cao nhơn tất hữu cao nhơn trị.

Hò ơ... Lên xe (mà) nhường chỗ bạn ngồi, nhường nơi (mà) bạn dựa, (hò ơ...) nhường lời (mà) bạn phân...
Hò ơ... Anh đây cũng muốn (mà) kết nghĩa giao ân
Hò ờ... Anh không phải là thằng Bùi Kiệm, sao chín mười phần (mà) bạn lại ngại nghi...

Lành đã hiểu, họ hò giao tình, buông ong thả lá, giả đò như họ không đi chung ghe, giả đò như không quen biết. Cũng vui. Họ mở thắt bằng ý thơ Vân Tiên, để coi đi xa tới đâu.

Người con gái bắt quàng thiệt đẹp. Vừa dẫn sách, vừa nói chí mình.

Hò ơ... Thể Loan là đứa vô nghì….
khinh bần phụ khó, (hò ơ...)
người đời (mà) được mấy kẻ ưa...

Như vậy là quá rõ, còn đánh tiếng mình đã có nơi. Mọi chuyện đổi thay đều không hợp với luân thường đạo lý. Thường mở đầu cách này khó cho phe nam. Cánh cửa đã đóng, ván đã đóng thuyền. Nhưng giọng nam vẫn cất lên vừa tha thiết dụ dỗ, vừa khinh thường ngạo mạn:

Em ơi, gái kiếm chồng nơi giàu sang nương dựa, đặng sáng với chiều lên ngựa xuống xe, đừng lấy thằng ghe chài, sáng ngồi lườn tối nằm be, để thân con gái má phấn không kẻ chở che, uổng đời...

Hai người bạn ghe cười với nhau. Tụi nó xách mé mình rõ ràng. Có chọc ghẹo ai đâu? Nói gì thì nói, sao mạt sát ghe chài. Tức quá. Phải mình biết hò! Họ ngó Lành như hỏi ý, như cầu hiền. Lành bối rối. Lên tiếng hay không? Mẹ dạy con gái phải ít ăn ít nói. Miệng bằng tay, tay bằng miệng đâu tốt lành gì. Thôi nhắm mắt bịt tai, ngày mai tới chỗ. Cuộc đời mới trước mặt đáng lo hơn. Vui gì mà hát với hò. Quan trọng gì mà tranh hơn thua lời ăn tiếng nói.

Xa trong đêm vắng, tiếng người con gái cất lên buộc tội:

Chuyện nợ duyên ông Tơ bà Nguyệt định bởi Trời
Anh ơi đừng giở thói bốc rời, ví như thằng Bùi Kiệm để tiếng đời hậu lai...

Rồi bắt qua giọng khác:

Lọng che dương dầu sườn cũng lọng, ô bịt vàng dầu trọng cũng ô. Trai như anh mù văn dốt võ, gái như em vẽ phụng thêu rồng, phải chi anh là con trai của Lục Ông thì em gắng công chờ đợi chứ lấy chồng làm chi...

Lành cười. Hay quá. Câu trả lời gián tiếp. Đáng đời. Ai biểu chọc gái. Bây giờ có nhiều chuyện không biết đâu mà nói. Lắm kẻ tình tào khang tấm mẳn bỏ lửng để vui với bọn hương chủ, hương kiểm, hương tuần dốt nát. Nhiều người bấm bụng trao duyên cùng người mình khinh bỉ, hy vọng gỡ rối cho gia đình. Chuyện đó thiếu gì. Mấy tiếng “Theo nghĩa quân chống lại Đại Pháp” như lưỡi gươm kề cổ ai ai cũng sợ. Mấy tiếng “tàn dư ngụy đảng, tay chưn bộ hạ cựu trào” như một thứ thuốc nổ làm bay cửa bay nhà. Bọn hương chức hội tề được dịp là làm tới có thương ai, có xúc động vì ai bao giờ. Chúng rải cùng đường một lũ chó săn rình mò, nay phao vu đặt rượu lậu, mốt tố cáo bán sớt lúa trốn thuế. Đẩy xô đàn ông vào tù ngục để giở thói bóc rời đàn bà. Chúng ví như thằng Bùi Kiệm để tiếng đời hậu lai, lền khên trong làng, trong xóm, khen Đại Pháp anh hùng không ngượng miệng, hoan hô Pháp Lang Sa vĩ đại không tiếc lời. Chúng sung sướng được làm chim cú nhưng muốn đậu cành mai, hãnh diện làm khỉ rừng xanh, nhưng trong bụng muốn vin cành quế. Quên câu dầu sườn cũng lọng dầu trọng cũng ô. Phận mình ra đi một phần cũng vì lẽ đó. Chúng lấp ló ngoài ngõ, rồi sẽ bước vô nhà. Ở xứ văn minh này thì khỏi đi, thiếu gì người tài. Lành cười mắc cở với mình. Nếu có gì, mình sẽ tự nguyện như Nguyệt Nga, ôm bức tượng đợi chờ dầu da nhăn, má hóp, dầu chân run, tóc bạc cũng được. Đời người mấy ai được gặp Vân Tiên, đâu phải ai ai cũng có thể thủ tiết như nàng Nguyệt Nga? Duyên may một đời người chưa dễ gặp...

Trên sông đêm, tiếng hò vẫn tiếp tục, đang biến dạng tới một hình thức cao hơn, gần với bản vọng cổ hoài lang điệu Bạc Liêu...

Bớ em ơi, em đừng thấy ăn bận quần dài áo rộng, gấm nhiễu, khăn điều, lược đồi mồi giắt tóc, giầy da bóng chưn mang, em kiến là người quân tử. Em đừng thấy ăn bận quần rách áo rưới, vải thô vải đũi nón nỉ lủng đội đầu, chân không trần sình dất, em chê là kẻ tiểu nhơn. Chớ em không quên chuyện Thạch Sanh đóng khố gẩy đờn, bắt con chim đại bàng cứu nàng công chúa, về sau có ai hơn được chàng...
Bớ em ơi, em đừng học thói Thể Loan, ham nơi vinh hiển, bỏ đàng (đã) hứa duyên. Em ơi cũng đừng học thói Điêu Thuyền, sớm mơi ôm Lữ Bố, chiều về tựa kề người nó gọi bằng cha, em hãy ở sao như Kiều Nguyệt Nga, giữ niềm chung thủy sang qua kết nguyền, về sau gặp lại Vân Tiên...

Lành chập chờn trong giấc ngủ giữa tư bề sao rơi, bên tai văng vẳng câu hò trộn với những câu thơ Vân Tiên vẫn thường nghe hồi thuở nào xa xăm lắm. Trong giấc mơ, Lành sung sướng mỉm cười với hình ảnh Vân Tiên đầu đội kim khôi, tay cầm thương bạc, mình ngồi ngựa ô lẫn lộn với một tình cảm thẹn thùng bỡ ngỡ của bước đầu gặp người tình, khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai...

Nước sông vẫn chảy lững lờ, chiếc ghe cui xa dần khoảng cách, trong đêm vắng mơ hồ đâu đó có tiếng người chùi xuống nước. Nhẹ nhàng, thiệt nhẹ nhàng...

Mấy ngày giáp Tết như một đám tang trong lòng Lành. Bộ mặt âm u của ông bà chủ làm áy náy mọi người. Tiếng hò được trả bằng giá cắt cổ mổ họng thắt hầu bao. Tiếng hò đu đẩy mọi người vào cảnh phiêu bồng dọn đường cho bọn bối. Gói quần áo bay bổng theo hình ảnh Vân Tiên. Cái ô nữ trang, tiền bạc của chủ ghe mất hút theo những lời lý hò huê tình ngọt lịm. Mình khổ đã đành, vì quá thờ ơ, vì không đoán trước được chuyện xảy ra. Dân chúng nghèo khổ vì sưu thuế, phải bóc lột nhau để sống. Làm gì có chuyện hát hò suông được. Họ bê bối để sinh tồn, thông minh vặt để khỏi bị hủy diệt. Mấy năm trước đâu có cảnh này. Thiên hạ hiếu khách, thích mời mọc đưa đón chiêu đãi người phương xa. Nhưng sự mất mát của vợ chồng người chủ ghe bị hiểu như một sự xui xẻo do mình mang tới. Người ta không chịu nhìn thực tế vì đâu có bối. Người ta cằn nhằn những người gần gũi. Trông mong tìm gặp bà con để rời khỏi chỗ này. Nếu hình ảnh cha mình không quá lớn trong lòng họ thì chắc mình đã cù bơ cù bất, lang thang đầu đường xó chợ rồi. Biết chuyện gì đã xảy ra. Rồi chuyện cái kiềng vàng nữa. Tên anh chị ở Cầu Ông Lãnh đã giựt ngay trên cổ mình mấy ngày trước làm mình thiếu điều muốn lọi cần cổ. Nếu không nhờ anh Nam. Phải anh Nam không? Lúc đó mình vừa mừng vừa sợ, nghe được tiếng được tiếng mất, không biết trúng tên không – bắt thằng đó phải trả lại ngay chiều hôm đó, bây giờ mình không còn đồng xu dính túi. Người sao vô tình thi ơn bất cầu báo. Từ đó tới nay cả tuần mà cũng không lảng vảng đâu đây để mình nói một tiếng cám ơn. Mình còn ở đây có bao lâu nữa đâu? Rồi chân trời góc biển, biết đời đưa đẩy đi đâu! Lành bỗng nhiên ngượng nghịu ngó xuống hàng nút bóp của cái áo bà ba mới hồ dương giấy hiệu Nhảy Đầm hồi hôm qua. Mình phải lòng rồi. Nhớ nhung, trau chuốt. Nguyệt Nga đã gặp Vân Tiên. Nhưng mà kết tuồng có chăng như ý? Ngó lên bờ, mọi người như đã rút hết vô nhà để sửa soạn cúng ông bà, chờ giờ tốt xuất hành đón Xuân hái lộc. Từng đống dưa hấu tràn đường, cao nghều nghệu như núi, mấy trăm cần xé cam quít, cả dọc ghe chuối, cả đoàn ghe hàng bông mấy bữa trước, tưởng chừng không thể nào tiêu thụ hết, bây giờ chỉ còn trơ trọi mấy đống rác rến ngút ngàn. Bữa tiệc thịnh soạn cho bầy ruồi xanh vu vu khó chịu. Như bãi chiến trường sau cơn giặc và chiến sĩ không may của cả hai phe... Lành nao nao với sự so sánh bi quan vừa hiện ra trong trí. Có lẽ mình chịu ảnh hưởng của cuộc hành trình vừa qua. Có sóng gió, có trộm cắp, có hình ảnh Nguyệt Nga tự trầm. Không nên. Có gì đâu? Còn cái kiềng vàng. Người còn thì của cũng còn. Mấy bộ đồ vạt của bà chủ cũng tạm đỡ mấy ngày Xuân. Tìm được nhà bà con rồi thì mọi chuyện sẽ đương nhiên giải quyết. Bữa nay mồng một Tết mình cú xụ nữa thì sanh giặc.

Lành sửa soạn cái cười thiệt tươi chào hai vợ chồng khi họ từ tấm bửng sửa soạn bước lên ghe sau khi đi xin xâm về. Người đàn bà tươi cười nói với Lành, chỉ về phía chỗ đoàn múa lân đang tụ tập, chỗ có tấm bia ông cọp trước đình Cầu Muối.

“ Lành, em lên bộ coi lân Sài Gòn kìa. Vui lắm, mấy thuở lên đây gặp dịp Tết...”

Rồi như đoán trước được lòng Lành, bà ta nói thêm:

“ Ối, hơi sức đâu mà buồn. Chuyện năm cũ hao tài khỏi tán mạng, nó lấy gói quần áo của em, như gánh cái xui xẻo của em. Sang năm mới sẽ khá hơn. Coi lân đi. Để ghe cộ đó dì coi cho. Ngày tư ngày Tết mà. Nếu có thì giờ ghé chùa Bà xin lá xâm đầu năm. Bà linh lắm. Đi dọc theo mé sông tới đầu chỗ đường Bồ Rệt thì thấy liền...”

Để vui lòng người, Lành dạ dạ rồi bước lên tấm bửng lên bờ, nhập vào đám đông đang bắt đầu lũ lượt. Từ xa nhạc trống lân dồn dập, tiếng trống tùng tùng, tùng cắc có sức hấp dẫn kỳ diệu. Lành nhập vào đoàn người thưởng ngoạn hồi nào hổng hay. Giữa vòng khán giả, đoàn người múa lân ăn bận quần áo võ sĩ gọn ghẽ tề chỉnh giống như tấm hình vẽ trên tờ giấy bản mục nát, mối ăn lỗ chỗ được cuộn tròn nhét phía sau trang thờ mà Lành thường được coi trong mấy ngày giỗ lớn của gia đình. Lành nao nức và tự thấy mình lạ lùng. Họ múa lân, họ đánh võ, họ biểu diễn thương, đao; chuyện này thường quá, có gì đâu? Mọi năm đoàn lân Phụng Hiệp bắt đầu múa riết từ xế chiều ba mươi tới hết ngày mùng năm, coi đà mãn nhãn rồi. Nhưng lân Lục Tỉnh quê mùa rẫy bái thế nào cũng thua lân chợ, chánh cống Sài Gòn. Quần áo bình thường bà ba vải ú đen, chưn quen đạp sình đất, nứt nẻ, múa hay thì có hay đó nhưng mà thấy nó kỳ kỳ. Quần áo của đoàn lân này xao xuyến lòng Lành. Ống quần cột túm bằng dây cao su ràng rịt lên tới ống quyển. Áo chẽn, thắt đằng chỗ bụng, có vẽ cái đầu lân đỏ chói phía sau lưng. Nón lá nhỏ vành, sơn đỏ, trên chóp có đính một cái ngù nhọn lễu. Giống hệt như chú lính thú ngày xưa trên Cao Man, Cần Giọt, chỉ có điều họ không có đầu tóc. Họ cũng không để râu. Nhưng bao nhiêu đó cũng đủ để kỷ niệm hồi còn nhỏ hiện về. Cặp mắt thành kính, mấy ngón tay run run trân trọng của tía trước mấy cây bạch lạp lung linh, khi vuốt tấm hình:

“Ông con đó. Người lãnh chức Cai Đội trong đoàn nghĩa quân của Trương Công, chịu trách nhiệm từ bờ sông bên này Cần Giuộc tới cửa Gò Công, ra mút tới mấy Hòn Đất, Hòn Cu ngoài biển. Sau này, Trương Công bị phản, quy thần, nghĩa quân tan nát. Người dắt dìu tía về đây, giờ thì mọi sự đổi thay, cơ trời chuyển dịch, lòng người ly tán. Tía chỉ mong giữ gìn tiết tháo, hốt thuốc giúp đời, đợi ngày theo ông bà. Chuyện đội đá vá trời để người tài đức...”

Cặp mắt tía long lanh, mơ màng. Chút hãnh diện về dòng dõi lâu lâu mới được nhắc tới pha với sự an phận thủ thường của một cuộc sống tránh né lâu ngày chầy tháng thấp thoáng trong ánh mắt nhìn mông lung đó. Hai tía con ngồi ngó ra cửa hèn lâu, mọi người theo dòng suy gẫm của riêng mình...

Trời càng xế trưa, càng nhiều người túa ra từ mấy căn nhà xa xa trong xóm, theo tiếng trống thúc giục. Con lân có hàm râu bạc dài ngót gang tay đang quay bên này, nghinh bên kia chờn vờn như hí cầu, múa sừng như tranh châu trước căn nhà có treo tiền. Cặp mắt lồi nhúc nhích, trợn dọc trợn ngang. Cái miệng lớn tổ chảng hoác ra quặp lại như sẵn sàng nuốt trọng ai đó trong đám người bu quanh. Cái sừng chiếc đen thui, cong queo, mỗi lần chồm tới như muốn rạch bụng người coi. Ghê thiệt. Nghề này mình đâu có phải tay mơ. Múa đầu lân bằng hai tay đã đành mà múa luôn hai cẳng với những cái đá, cái co chưn, cái thủ bộ lẹ làng gọn ghẽ, dòm sơ qua cũng biết tay nghề. Mười mấy phong pháo nối với nhau rũ từ mái nhà xuống gần sát đất, được châm ngòi. Tiếng nổ lốp bốp đùng đùng làm tai ai tai nấy đều kêu vo vo. Con lân, lạy thụt lùi ba lạy trước ngạch cửa. Nó ngước lên ngó cái cờ đỏ thêu mấy chữ vàng “Cầu Ông Lãnh Hoa Việt Thanh Niên Lân Hội” lòng thòng mấy cây cải “xà lách” và một dọc giấy “ngẩu” mới tinh được treo chót vót trên nóc nhà rồi múa loạn xạ như giận dữ. Những tiếng chắc lưỡi hít hà nổi lên đây đó. Đã thiệt. Nặng bộn chớ bộ chơi đa. Múa coi nhẹ hổng, như Hạng Võ cử đỉnh. Cả giờ rồi coi bộ có thấm thía gì đâu.

Một nhúm năm người lo dựng lên một cây tre tầm vong già, bự bằng bắp tay, cao nghều nghệu. Họ lấy thế kềm cứng vây tre. Con lân múa một vòng, ngó lên, ngó xuống như ước lượng trước khi leo. Trò này Lành đã được coi một lần ở chợ Cần Thơ lúc nhỏ. Người múa lân máng cái đầu lân vô một cánh tay, leo lên cây tre thẳng tắp, trơn lu. Tuốt trên chót vót có xỏ ngang một thanh tre nhỏ, anh ta sẽ nhào lộn trên đó, trong tiếng trống. Chòm râu trắng phất phơ theo chiều gió, oai phong lẫm liệt như lão tướng xung trận. Thình lình tiếng trống gò lại nhỏ hơn, rời rạc hơn, con lân bỗng nhẩy phóc đứng trên một cái ghế đẩu múa may một đổi rồi đưa ra một chưn thẳng tắp. Từ trong đám võ sĩ đứng đàng sau, một con lân râu muối tiêu nhỏ thó, mặt mày cũng vằn vện vậy, nhưng có vẻ nhu mì hơn, chầm chậm bước ra. Cách đi đứng múa may, chờn vờn cũng nhẹ nhàng phong nhã, phiêu hốt. Nó lạy con lân râu bạc ba lạy rồi chun qua dưới chưn chầm chậm, khép nép như sợ sệt. Lành ngạc nhiên. Thói thường chỉ có lân lạ mới lạy chạy mặt nhau thôi. Còn đây hai con lân cùng đoàn mà. Họ làm ăn cái gì kỳ cục vậy?

Có tiếng oang oang của một người muốn cho thiên hạ biết mình ta đây thông thạo:

“Lân Cầu Muối lạy tôn lân Cầu Ông Lãnh làm đại ca đó. Nó chịu nhục lòn trôn giữa chợ. Như Hàn Tín lúc thất thời. Tám năm rồi, năm nào nó cũng phải làm cái mửng này. Có năm còn bị phun nước miếng lên sừng. Có năm bị giựt râu...”

Người khác kể rành rọt lớp lang ý chừng là dân cố cựu, nhau rún ở đây:

“Từ hồi có trận chém lộn ở xóm họ đạo Chợ Đũi gần chỗ mả của Á Thánh Gẫm vì chuyện giành múa cho nhà thông gia của Bá hộ Xường, Sáu Tiết, anh chị của lân Cầu Muối, bị chém chết, đoàn lân rã đám. Nhưng Út Hồng, anh chị bự của lân Cầu Ông Lãnh, cứ cho làm chuyện kỳ cục này hoài. Mỗi lần coi là mỗi lần tức muốn bể bụng, nhứt là nhà mình ở xóm Cầu Muối. Tuy hổng ăn nhập gì tới mình, nhưng mà khó chịu...”

“Anh biết tại sao không? Út Hồng thấy một vùng nhỏ híu bằng bụm tay mà có hai anh hùng. Như nước có hai vua vậy mà... Làm sao anh ta chịu được nên bắt tay với đám “mã thầu dậu” ở Chợ Lớn, đám Tây u xếp tụi bồi bếp ở Bồn Kèn lừa dịp chém lén Sáu Tiết trong khi hai đàng đã hứa với nhau là bất tương xâm, chỗ ai nấy ở, đường ai nấy đi...”

Ngừng một lúc như để lấy hơi, ông ta nói thêm, có dây có nhợ:

“Tội nghiệp đám em út, lớp bị mua chuộc, lớp giải nghệ, tứ tán hết. Đã vậy mà Út Hồng còn chưa bằng bụng nên diễn tích nầy để làm nhục mấy tay anh chị còn sót lại của lân Cầu Muối chơi. Thêm nữa, để dằn mặt mấy người muốn làm sống lại đoàn lân cũ. Bây giờ họ một mình một chợ, muốn làm mưa làm gió gì hổng được? Ai vô đó mà cản họ? Nhưng mà... làm vừa vừa chứ. Làm quá ai mà nhịn...”

Lành nghe hết câu chuyện. Cô lắc đầu. Thiệt hết chỗ nói. Chết rồi mà cũng không yên. Người ta giải tán rồi còn kéo ra làm xấu làm hổ. Vậy cũng mang tiếng anh chị một khúc sông, một bến chợ. Người theo mình trùng trùng điệp điệp đâu cũng ngót nghét cả trăm có ai tranh cãi gì đâu? Làm chi chuyện thù vơ oán chạ. Nhẹ thể mà thêm mất lòng mất bề?

Tiếng trống vẫn tiếp tục nhẹ nhàng, lơi nhịp. Con lân râu muối tiêu vẫn kiên nhẫn lòn tới lòn lui dưới chưn con lân râu bạc vênh vang. Những giọng cười thinh thích hăng hắc chen giữa những cái nhăn mặt xốn xang trong đoàn võ sĩ. Một vài tên anh chị đâu đây xì xào mấy tiếng chửi thề bất bằng “đ. họ” và những cái háy nguýt nháng lửa. Không khí căng thẳng như bữa dàn trận chém lộn hồi năm ngoái ở Lăng Tô giữa đám anh chị bên Khánh Hội với mấy tay tổ xóm Cầu Kiệu mà Tây Tà phải trầy vi tróc vẩy mới giải tán được...

Nghe chuyện, mình là đàn bà con gái mà cũng giận tím gan, cũng bứt rứt khó chịu. Như bến mình đậu ghe thiếu mặt anh hùng. Như đã lầm trao thân gởi phận nhằm anh chồng bị thịt, giá áo túi cơm...

Nhưng Lành không phải bực bội gì lâu. Chuyện tức nước bể bờ trước sau phải có... Con chó dồn nó vô chưn tường nó còn quay lại cắn, huống chi người. Một tiếng hét muốn bể lỗ nhĩ từ trong đám võ sĩ rồi một người hai tay cầm hai thanh mã tấu bự bản, đưa thẳng lên trời nói trong nước mắt:

“Đại ca ơi... Em chết bữa nay. Em chịu hết nổi rồi. Tụi nó làm ô nhục mình quá. Em chết thiệt đẹp, thiệt ngọt để rửa nhục cho anh em mình nè đại ca...”

Anh ta hươi đôi mã tấu sáng loáng a thần phù vô chém con lân Cầu Ông Lãnh. Anh chàng múa lân hết hồn lật đật đưa đầu lân ra đỡ. Hai thanh mã tấu phụp xuống ngọt như thể lướt qua thân cây chuối non. Cái đầu lân bị xả làm ba miếng lủng lẳng trên nan tre. Một tiếng ra lệnh bằng giọng Việt Nam trại trại nhưng sắc như dao thét lên từ đám người bận đồ xá xẩu đứng lu bu chỗ ông địa làm trò.

“Chém nó. Chém chết nó đi, thằng phá đám, thằng phản thùng..”

Đoàn người đi chợ Tết coi lân kinh hoàng chạy túa như ong bể ổ. Tiếng hét, tiếng la, tiếng dao chặt vô thịt, tiếng người ngã, cả thảy hợp thành một âm thanh khiếp đảm, chết chóc như trận giặc chòm. Lành bụm mặt chạy thục mạng để khỏi phải thấy loạn đao trên thân thể một người. Trong cơn hoảng hốt bất chợt Lành mơ hồ thấy người anh chị yên hùng đó có gương mặt phảng phất anh Nam...

Ngày Tết qua lâu như cả chục năm dài. Câu chuyện thằng Nam Cầu Muối chém lân Cầu Ông Lãnh để chịu chết chuyền từ miệng người này sang người khác. Nhiều người thán phục, lắm kẻ chê bai, ai cũng có lý riêng: Anh hùng! Xuẩn động! Nhưng ai cũng là người đứng ngoài. Bàng quan mạnh miệng. Riêng Lành đau thấu tim gan. Người chết xuất hiện trong đời một lần thôi, nhưng như từng nối kết thân thuộc từ muôn trùng thời gian của thời Bàn Cổ. Việc ghi ơn giờ đây trở thành nhỏ nhoi so với hành động yên hùng. Câu nói, chết để rửa nhục cho anh em nhảy múa trong đầu Lành khi ăn khi ngủ, vang dội trong trí lúc đi chợ, nấu cơm. Nó kéo hồn Lành ra khỏi thân xác, nhập vô cảnh giới nào đó mù xa trên chín từng trời. Nó giở hổng Lành lên khỏi mặt đất, lửng lơ, tách khỏi thế giới trần tục bợn nhơ. Lành trở thành xa vắng trong khi có mặt, ngủ say trong khi đi đứng bình thường.

Nhiều lần bà chủ ghe liếc Lành chắc lưỡi nói với chồng:

“Tội nghiệp. Con nhỏ sao mà như mất hồn. Nó lơ ngơ láo ngáo cả ngày. Điệu này làm sao nó kiếm cho được nhà bà con. Hổng biết rồi mình giải quyết làm sao. Bỏ thì thương, vương thì tội...”

Lành bắt gặp tiếng thở dài chấm câu sau câu nói. Tiếng thở dài thương hại đặc biệt đàn bà. Nàng nghĩ mau về Nam. Về Vân Tiên. Về Nguyệt Nga. Về trường hợp mình. Sao lại tự nối kết đời mình với một người chưa chắc đã biết tên mình, chưa tỏ một chút gì tình ý, hơn nữa đã chết rồi. Chắc mình bị oan hồn xui ghẹo. Hồn người chết đâm chết chém vất vưởng không siêu độ được phải tìm chỗ nào đó tạm trú. Làm cô hồn. Làm một thứ ma đưa lối quỷ đưa đường. Phải đi ra Một Hình van vái mới được. Mình thề sẽ thương yêu kính mến anh ấy trọn đời và cầu vong hồn anh được siêu độ. Vừa thề vừa vái. Một công hai ba chuyện.

Bộ đồ bà ba cổ bà lai bà chủ cho hôm Tết được lấy ra mặc. Cái áo hơi rộng, nhưng coi bộ còn tốt, cái quần vừa vặn. Lành vắt ngang cái khăn rằn quanh cổ, buông lòng thòng hai đầu xuống, đong đưa trước ngực, xăm xoi ngó vô kiếng, mỉm cười với mình, rồi đon đả lên bờ. Trời xê xế, đèn đường bắt đầu được thắp. Trên đường Lò Heo, mấy con heo bị dồn trên xe cá chở vô lò kêu eng éc buồn thảm đến nhức đầu. Phía gần Đường Giữa chỗ hẻm nhỏ nối với đường Boresse, xóm Lồng Đèn Kỹ Nữ, đã bắt đầu thắp sáng đỏ xanh. Lành bước mau, đỏ mắt vì mấy cái nhìn sàm sỡ của khách tìm hoa. Mấy cái xe kiếng lộp bộp móng ngựa trên đường chen với tiếng ken két ê răng của niền bánh nghiến trên mặt đường đá. Từ xa, xe lửa điển Sài Gòn – Chợ Lớn xẹt lửa trên nóc, in một đóm lửa tua tủa ra như pháo bông trong đêm càng lúc càng rõ, tới gần, qua mặt Lành rồi ngưng ở nhà ga Cuniac. Lành vui vui với xứ văn minh về đêm. Đèn đuốc sáng trưng, người ta đi lại dập dìu. Chẳng bù với xứ khỉ ho cò gáy quê mình, mới sụp mặt trời ai ở nhà nấy, buồn thỉu, buồn thiu …

Từ Một Hình, Lành thả dài theo bờ sông, về lại ghe, kiểng nhà thờ Nhà Nước rềnh rang đổ tám giờ. Nam thanh nữ tú dập dìu chỗ vườn bông Đô Đốc.

Mấy thầy thông thầy ký mang giầy “ăn phón” da bóng ướt sức giở lên làm kiếng soi mặt nhổ râu được, áo bành tô vải ka ki bốn túi, đầu chải bảy ba, cặp tay mấy cô tân thời, đầu tóc lòng thòng khỏi vai, có cái đuôi bánh lái, coi thiên hạ bằng nửa con mắt. Thấy xốn mắt.

Đánh đôi đánh đọ cũng có khi có thì, có nơi có chốn, sao lại đem ra chỗ thập mục sở thị. Mấy ông mấy ngài còn theo nếp xưa, áo dài nhiễu đại đóa dài tới gối, quần the rộng ống, chân mang giày Canavaggio, đội nón cối trắng, râu ngạnh trê vuốt sáp nhọn lễu, đề huề dạo với vợ con, nói năng nhỏ nhẹ, cử chỉ từ tốn. Mấy thầy chú ngó Lành lườm lườm như ngạc nhiên, như muốn nuốt sống. Con gái sao một mình lang thang chỗ này. Lăng Tô là chỗ của những cặp tình nhân, những người có gia đình. Lành thẹn thùng ngó xuống đất, rảo bước thẳng. Xứ gì kỳ cục, đàn ông, đàn bà cặp kè. Cột cờ Thủ Ngữ cao nghệu, Tây Tà rượu chè ồn ào thấy sợ. Phía cầu Quây, khúc giữa giòng sông đương được quây xuôi theo dòng nước nhường chỗ cho tàu đò chạy qua. Mấy người đi chơi đứng hai bên cái cầu thiếu đó cười cười nói nói, chỉ chỏ vui vẻ. Chuyện lạ lùng. Chừng nào về quê phải kể cho má nghe mới được. Cầu Quây đương là cầu biến thành sông. Từ bến Khánh Hội, mấy tay anh chị bến tàu thả xe đạp Alcyon trắng nõn qua dốc cầu Móng dài dằng dặc. Coi vui vui.

Tiếng người nào đó bên tai Lành nhột nhột khi Lành qua chỗ nhà băng xây bằng đá cao nghều nghệu. ‘Xin lỗi cô Hai... dám nào cô dừng chân cho hỏi...’ Mắc cở đỏ mặt. Lành ngúng nguẩy bỏ đi. Chuyện chưa có gì hết nhưng mà thấy có tang lòng. Mấy lời van vái trước ông Một Hình làm mình nhẹ nhõm hơn. Bây giờ trên tinh thần mình thuộc về hương hồn anh ấy. Phải xứng đáng với người chết anh hùng. Chết rửa nhục. Chết để khỏi cúi gầm mặt cho chúng bôi tro trét trấu. Thiệt thòi phận gái một chút cũng không sao. Thiên hạ có ai xứng đáng hơn đâu. Cuộc đời lạ lùng. Câu hò trên sông của tụi bối Ba Cụm ứng như lời thầy bói linh. Rồi đây cuộc đời mình tuy buồn thiệt nhưng đẹp, thơm như hoa dạ lý tỏa hương, như tiểu thơ họ Kiều kia thề không để tiếng chê cười, như người bội bạc:

Dầu ai buông tiếng ngọc
dầu ai đọc lời vàng
bông sen hết nhụy bông sen tàn
em đây giữ tiết như nàng Nguyệt Nga....
chẳng thà em chịu đói, chịu rách theo cách bà Mạnh, bà Khương…...
chớ không như Võ Hậu đời Đường làm cho bại hoại cang thường nhơ danh,
chẳng thà nghèo khó ở túp lều tranh
chớ không đành bội nghĩa như cha con Võ Công tham tài...

Anh Nam đã thắp một ngọn đèn cho bạn hữu để họ thấy cái nhục. Rồi sẽ có những ngọn đèn khác. Rồi sẽ có người nhờ yến sáng đó mà mở mắt ra. Rồi những người trai trẻ đang rèn tập võ nghệ mỗi chiều ở đường Lò Heo sẽ thấy lại được cái nghĩa sống. Mình có đớn đau trong dạ cũng có nhằm nhò gì đâu đối với cái chết của người anh hùng. Lành nói với mình chắc như đinh đóng cột: “Mình sẽ thủ tiết. Phải thủ tiết. Có gió đông hung mới biết tùng bá cứng, có ngọn lửa hồng mới biết thức vàng cao. Mình sẽ ở vậy. Hay ít ra chờ đến khi gặp được một anh Nam khác.” Nụ cười sung sướng nở trên môi Lành. Bên kia sông mấy ngọn đèn lù mù trước mặt Sở Nhà Rồng bỗng nhiên sáng rực như nhà đèn Chợ Quán vừa đổ thêm than vô lò. Lành bước mau về phía Cầu Chong. Gần tới chỗ ghe đậu rồi. Phải thắp cho anh ấy mấy cọng nhang. Gió sông Quai de Belgique thổi lên phơi phới, mát rượi. Chỗ ga Cuniac, ban nhạc kèn đồng vẫn say sưa biểu diễn, âm thanh xập xình vang dội xuống mé sông làm bập bềnh mấy chiếc ghe thương hồ đương triền miên trong giấc ngủ. Lành mỉm cười, bước mau, trong trí vang dội mấy câu thơ Vân Tiên vừa chợt hiện:

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình...
San Marcos, Texas tháng 9/83



SINGING ON THE TALE OF VÂN TIÊN



English Translation

The huge merchant vessel was moving sluggishly on high water. For a month until now all hands on the boat had never found their work easier than it was today. In the wide river water was flowing slowly and there was little traffic; to keep the boat moving it needed only two men holding their poles walking along from the bow to the stern and back to keep the boat in stream. It had been much harder when passing the Nao estuary and the Đại Ngãi lagoon earlier where water was whirling violently and all hands onboard had to exhausted themselves against the waves while the boat didn’t seem to like moving.

Having passed the Bến Lức Market for a short time the boat came to Đệm Market at Bình Điền when it turned dark. The sky was dotted with some flickering stars in the evening. The dark was like a black screen already hung somewhere in the sky waiting for its time to fall down covering the world. The waxing crescent had appeared already looking like a streak of flashing light in the sky. The serene scenery in the cool breezes made me remember of my close relatives at home. I had to nerve myself to follow my mother’s words to hitch a ride on this huge vessel. The couple of the merchant vessel’s owners usually didn’t allow female passengers aboard. Earth was ruled by earth gods, rivers by river gods and on boats there might be many spirits of the deceased. Women with their periods were believed to cause bad luck to the boats they rode on and the boat owners would ruin their career for that. But it was so lucky that due to my father’s good reputation that the owners of the vessel and his wife were graceful to accept my request. Now I was expecting all that would happen in the civilized region I was bound to. Just me alone. The farther the boat traveled the more different the scenery became and the more I felt nostalgic. I remembered the patch of sugarcanes in the front yard stretching to the river bank where I used to do the washing everyday; I remembered the row of huge earthenware jugs containing long preserved rain-water standing quietly in the middle of the two compartments of the house; in a hot day just a nip of the water would cool down your throat. I remembered my mother who had usually busied herself all day in the kitchen. I remembered the evenings when my mother and I had been shooting the breezes under the dim light of a small calophyllum oiled lamp. All those familiar things were no longer available now and I didn’t know when I would be able to see them again. And my eldest brother – he had gone performing statute-labor to dredge the Ông Đốc Canal in Tân Châu – Hồng Ngự without sending home a word. I was told that labors were paid daily with two small balls of rice to go with some pieces of coarse salt and two two-finger-sized pieces of dried cuttlefish plus one and a half cent which couldn’t go as far as to pick up a pack of home-cut weed; yet labors had to submerged themselves in the water for hours scooping up mud. The place abounded with mosquitoes, aqua-leeches and terrestrial leeches. That I was on the journey meant that my brother and I were put apart from each other. Hadn’t my dad been arrested it wouldn’t have come to a pretty pass that I had to grudgingly leave the village.
Tears were welling in Lành’s eyes as she felt she was going to cry, but she had to bottle up her feelings as she didn’t want to be seen crying by people on board. But there was something in her heart that left her down in the mouth as though she was blamed unfairly in her childhood. She cast a glance at the cargo compartment where chinaware was kept. Layers of china bowls and disks were buried in a thick bed of husk. Some dozen of those Qianlong-timed items might help one make a small fortune. They were highly valued by urban citizens. The merchandise was authentically china-made. People could feel proud of having bought them to display them in their glass-cases. Much money would be spent for the purchase however the price could be. Lành smacked her lips and turned back to the reality. The haves were wallowing in wealth, whereas the have-nots did not have a bean. I was lucky enough to be allowed on board, otherwise I could be still staying somewhere under there. It was rather strenuous to hitch a lift for each distance at a time. The boat was likely to arrive at its destination tomorrow morning. And then I would land in a strange place where I wouldn’t know if I would come across any relatives of mine. All that I knew was that they were living in Chợ Đủi Catholic community near the Chợ Đủi Girls’ School, but I was not sure where the place actually was. When having arrived there I would try to look for it. Failing to hit on it would mean that I would find myself, a sole girl, left high and dry at such a strange place. Lành smacked her lips thinking her mother was quite unreasonable to have put her daughter into such a journey. Who knew what would happen next. We could be living hand to mouth at home but even so we, mother and daughter, would have each other. Our food would be nothing to worry about. Our frugal meals should suffice us. In any case, birds and fishes were abundant. Just setting up a fish trap once one would have enough fish for his daily meals. Vegetables were in plenty in the gardens that you could think of removing to reduce them. Famine would be far from the case. Perhaps mother was afraid that those hoodlums who were rising to power in the village could wreak havoc on everything. Thinking of that Lành burst into tears and she was sobbing her heart out. Recalling her mother’s words at the moment of parting she felt the reunion with her mother would be a faint hope. “You must have known the story of a woman whose husband and son had been killed by tigers but she didn’t want to move to another place?” said her mother. “It was because the place she was living at wasn’t governed by a cruel ruler. Local powers that be are usually more bestial than wild beasts. That’s why our forefathers have said, ‘Vicious politics is more dangerous than tigers.’ ” That was her mother’s words. “You should flee this place for your dear life,” her mother concluded in her shaking voice with tears. “It is dangerous for a girl to live far from home, but it’ll be better to run away. Everyone wants to leave this place. Everything now is in turmoil. Our homeland doesn’t belong to us any more. It belongs to them. And they hang together and become allies in a complicated system. We common people can have nothing else for it but to lie down under their suppression. To bow to the inevitable. Trying to keep ourselves alive as long as we can. To wait. If those hay stacks in the front yard could move they would have already fled this place…”
Now I’ve already left my mother’s arms to stand on my own feet and deal with the life on my own. From now on, everything will depend on the luck of the draw. I should make all my decisions without asking for help from my mother.
The voice of the two boatmen took Lành out of her interminable thoughts:
Here we’re at Ba Cụm now,” one said. “You know the way those thieves at Ba Cụm act, don’t you? If you fail to pay attention to them, all the merchandise might be knocked off before you could say Robinson. And don’t forget our packs of clothing, or we would have to go to market with just a pair of underpants on.”
I already knew it. Don’t bother,” answered the other. “They often use big junks to make believe they are honest people. Then they’ll leave their junks and use small sampans to travel to and fro craftily. It’s difficult to know who’s who.”
That’s right,” replied the first one. “Since it’s difficult to know it so once a big junk happened to be on its way transporting paddy when those thieves managed to put all its members on board asleep using narcotic and stole the best part of the paddy and all the precious belongings of the female owner of the junk…”
Psitt! Psitt!” the man signaled to his fellow. “That junk is chasing after us. It might be them. It keeps running doubtfully toward us.”
Lành wiped her tears with her sleeves and looked backward. A junk was traveling in the wake behind the boat she was on. The craft was broad in its width, but short in its length. It looked awkwardly like those carrying firewood or cajeput trunks. In the dark, the small roof at the stern of the junk gave a black shape against the star-spotted sky on which now appeared and then disappeared the shadows of two men. At times a live cigarette flashed on brightly rising up and down; a human head stood out on the dim background of the sky. A singing voice rose melodiously and spread in the quiet space, penetrating every follicle of the listeners. The voice sounded so noble like a gentleman in the old days taking a walk round the market place, and so gentle like that of young girls when they were pounding rice and singing under the moonlight.
Hoohoo… It’s the strong winter wind that knows those hard pine-trees
It’s the strong fire that knows how pure gold is
A young lady will get married to a gentleman
I’m not the one that may have any flirtation
Hoohoo… Bamboo goes with ochna flowers beautifully
Like Lục gentleman that has married Kiều lady
Oh darling keep your mind determined for a full due.
Hoohoo… Even if one day my boat drifted somewhere in the north I’d try my best to come back with you…
Lành was paralyzed as she used to be in her childhood when she was facing the long rod of the traditional teacher who taught Chinese characters to the kids. She wanted to raise her voice but her mouth was kept shut. It was a common way as the singer started his song describing his mind and giving his advice, but the way he kept the verses duly short except the last one which he lengthened deliberately suggested that he was a very experienced singer. All I could do now was prick my ears listening to him and could not sing a word in reply. The two boats continued to move. The ambiance was heavily quiet. The last word “y..o..u…” of the song was still resounding in the chilly wind of the night and hanging on to everybody on the boat.
It seemed for ever and a day before a female voice rose. The voice was clear and seductive but her singing was rather short as though the singer didn’t care whether someone would misjudge it:
Hoohoo… Whomever I should get married to I’d try
To find out whether he is a Bùi Kiệm or a Vân Tiên(1) before I could make my reply.
The singing had come to its end but Lành did not come to her senses yet. The voice of that singer was so clear as water that can be seen through to the bottom of the stream, and so high like a bird flying over the clouds. My voice was much appreciated in the neighborhood but it can hardly be compared to this singer’s. It is like a novice compared to an expert. The farther one goes the more knowledge he acquires. If one is good at something, there must be someone else much better at it than he is.
Hoohoo… onboard a vehicle I’d give up my seat to thee,
To assure thy convenience and, hoohoo… let thou first address me.
Hoohoo… I’d like to be thy friend
Since I’m not a Bùi Kiệm, hoohoo… why off thou fend…
Lành understood. They were flirting with each other and expressing their mutual affection. They made believe they were not traveling on the same boat and as if they didn’t know each other. It was interesting. They were singing referring to the characters in the Vân Tiên verse novel. I’d see how far they would go with it.
The female was giving a nice reference to the novel to make known of her mind:
Hoohoo… Thể Loan(2) is a dishonest woman
That nobody would like her hoohoo… is vey certain.
It was so clear. Referring to this character Thể Loan, the singer also implied that she had been already involved with someone else, hence no changes were possible then. Usually, commencing like this the singer threw a curve at her male partner. The door was shut. There was no way arguing the toss. But the male voice was rising, passionately wheedling, and also haughtily challenging:
Darling, thou should marry to someone in the money
Then thou’ll be living all thy life in luxury.
Don’t get married to those oarsmen
Or thou waste thy dear life unprotected then.
The two boatmen were laughing together, “They were evidently alluding to us. But we didn’t tease or pester them, did we? They may refer to anything else, why did they blame us boatmen? If only we could sing.” They looked at Lành tacitly asking for her help. Lành was puzzled. “Should I sing in reply? Mother warned me that being a girl I should keep my mouth shut in most circumstances. It’s not any good to be garrulous. Just ignore it and I’ll arrive at my place tomorrow. The life ahead is much more important to worry about. What’s the pleasure to sing about? And what’s the ascendancy here to compete for?”
From afar in the quiet night, the voice of the girl was rising to accuse the male:
One’s love was predestined in the heaven
You shouldn’t behave profligately like Bùi Kiệm which’s so brazen
Then the singer changed the tune:
A big parasol, if remained a frame, still has a large canopy
An umbrella even golden coated is merely a tiny copy
As a man you have neither literary talent nor military ability
While a young girl I have acquired both skills and beauty
If you were the son of Lục Ông(3), so talented and jocund
I would have waited for you and hadn’t got married to my husband.
Lành burst out laughing. It was so interesting. That was an indirect answer. It served him right. Well deserved for the flirt. There were now many things that could make anyone confused. Quite a few women abandoned their husbands and followed those dull-witted village officials. Many women had to get married to the men they held in contempt just to help tide their families over. Such cases were thick on the ground. The phrase “rebelling against the Great France” was like a sword at one’s throat that could make anyone’s blood run cold; and those epithets such as “members of the rebellious party” or “henchmen of the old regime” were like an explosive that could destroy one’s family. Those officials in the village administrative committee were ready to take and exploit any advantage, and their heart never went out to anyone. They had their stooges on the watch everywhere who now alleged that someone was illegally distilling spirits, and then would accuse someone else for having sold their paddy as an attempt at tax evasion. They tried to throw men in jail and took liberties with their victims’ wives. They were like Bùi Kiệms and were in spade in the village; they were dead to all sense of shame as to praise the heroic France. They cheered the great France without scruple. They felt happy to be owls but wanted to perch on the branches of an apricot; they were proud to be apes but wished to climb onto a cinnamon tree. They didn’t remember “the frame of a big parasol and a gold coated umbrella”. It is partly because of those occurrences that I have to leave my native village. Now they are prowling about outside the gate but very soon they will break into my home. If I were living at a civilized place I wouldn’t have to flee like this. Lành smiled embarrassingly. If anything, I will be like Nguyệt Nga holding the portrait of my man and stay faithful to him although I might have passed my prime and even got over the hill. Few girls have an opportunity to come across a Vân Tiên in their life, and it is not that every girl can be so faithful to her Vân Tiên as did Nguyệt Nga. It may not be easy for a girl to meet her luck in love for her life…
On the river, the singing went on, and was turning to a higher standard, similar to the tune of “Vọng cổ hoài lang”(4) in Bạc Liêu tone.
Oh darling, don’t look at someone in decent attire of silk and brocade with a tortoise-shell comb in his hair and a pair of shoes on and deem that he was a gentleman; nor should you see a man in ragged clothing, with holed hat on and muddy bare feet and think that he is a petty man. Don’t you remember that Thạch Sanh5 wore just a loin-cloth and played an instrument but he managed to catch the eagle and rescue the princess; afterward who is better than he was?
Oh darling, don’t follow Thể Loan who was keen on someone of note and cast away the one she had been engaged to. Oh darling, nor should you follow Tiao Shun who embraced Lupu(6) in the morning, and in the evening she fell into the arms of his adopted father. Try to behave like Kiều Nguyệt Nga who was so honest and faithful to Vân Tiên and eventually she was reunited with him
Lành was dozing off amid falling stars all around, the singing voice was still resounding in her ears mixing with the verses from the tale in verses of Vân Tiên she used to hear from someone long time before. In her dream, she was happily smiling with the image of Vân Tiên who put on a golden war helmet, holding a silver head spear and sitting on a black horse with strange and shy feelings for the first time he met the young lady who would be his sweetheart… Please sit tight and don’t raise the veil; ‘Cause I’m a male and you are female
Water kept moving slowly in the river. The other boat was parting for a long distance. In the quietness of the night there was probably the faint noise of someone lowering himself quietly into the water. Very quietly..

2.
The days near the Tết were like mourning days in Lành’s heart. The gloomy faces of the boat owners made everybody feel uneasy. The singing had cost all people on the boat dearly. It had lulled them into the land of nod, clearing the way for the thieves to break in. Her bundle of clothing disappeared with the image of Vân Tiên; the safe where the boat owners’ money and jewelries were kept went off with the melodious voice of singing. Needless to say that I suffered it because of my ignorance and because I couldn’t have expected what would happen. Pushed into an abject poverty by heavy taxation, people had to rip off one another to sustain their lives. There couldn’t be such a singing session without a purpose. People became cunning to exist, and crafty lest to be destroyed. Such cases hadn’t been known of in previous years when people were very hospitable, they loved to invite and welcome visitors from places far away. But the boat owners’ loss was understood as due to the bad luck I’d brought to them. People didn’t look at the reality to see why there were those thefts. They were fussing at the people around. I was looking forward to meeting my relatives so that I could leave this place. If it wasn’t because of their great respect to my father I might have been left high and dry at some strange place. Who knew what could have happened! And the gold necklace. A hoodlum almost broke my neck when he snatched it from my neck at Ông Lãnh Market some days ago. But for Nam – was he Nam? I was so frightened at the time and couldn’t make it clear whether his name was Nam – who forced the thief to give it back to me that afternoon, I wouldn’t have a bean left now. What a man, he just cast his bread upon the waters and left. It was a week since then but I couldn’t make out where he was to express my gratitude to him. I was going to leave here and I couldn’t say where I would be to. All of a sudden Lành looked down at her dress which had been blued the day before with «Dancing» labelled blueing paper. I’ve fallen in loveMissing. Sprucing myself up. Nguyệt Nga has met Vân Tiên. But will the story have an upbeat ending? She thought. On the riverside people seemed to have retreated to their houses preparing oblation to offer to their ancestors and waiting for the starting hour to make their first going out in the new spring for good luck. Hills of water melons, hundreds of baskets of oranges, rows of boats carrying bananas, and such number of flowers which some days earlier no one could think they would be sold out, now left only mounts of trash on streets, a plentiful party for swams of annoying flies. The scene looked like a battlefield with its unlucky soldiers of the both sides after a fight. Lành got agitated with the pessimistic comparison in her mind. Perhaps I’ve been affected by all that happened in the journey, she thought. There were wind and waves, thefts, and the image of Nguyện Nga drowning herseft in the river. Oh I shouldn’t. There is nothing much to miss. I still possess my necklace. If you’re still alive there’s still hope. These clothes given by the woman owner of the boat suffices me for the Tết. When having found my relatives, all problems will be solved. Today is the first day of the new year, it won’t be any good if I wear a gloomy face, thought Lành.
Lành was ready for a very happy smile to greet the couple of boat owners who were about to step aboard from the ramp after having gone to somewhere ashore to cast the diviner’s rod. The woman was smiling at Lành, pointing to the dragon dancing team gathering around at the stele which bore the image of a tiger on it at the Cầu Muối Temple:
-Lành, go ashore and see Saigon dragon dance over there. Very interesting. It’s lucky to arrive here on a Tết occasion.
Then, as though having read Lành’s mind, she added:
-Oh, don’t be sad any more. It was the bad luck of the old year. You’ve lost something but you stay alive. They stole your bundle of clothes only to carry the burden of all the bad luck on your behalf. You’ll get better in the new year. Go watch dragon dance, and I’ll be on the watch for the boat. It’s the Tết. If you have time, come and cast a diviner’s rod at the Lady’s pagoda. The Lady is very miraculous. Go along the riverbank to the Boresse street and you’ll see the pagoda there.
To please the woman, Lành said « yes, yes » and she stepped onto the ramp to get ashore and joined the crowds swarming away. From afar, the rhymic sounds of dragon dancing drums were repeating attractively. Before she knew it, Lành had been admitted in to the crowds. Amid the spectators, the dragon dancers dressed neatly like boxers in the termite-perforated picture which was rolled up and slipped behind the altar and Lành used to see the thing on important death aniversaries in her family. Lành was excited and she felt herself a little queer. They were performing dragon dance and martial art with spears and knives; nothing was unfamiliar to her. Every year, she had delighted her eyes with the dragon dance performed by the Phụng Hiệp team which started from the new lunar year’s eve to the end of the fifth day of the first month. But dragon dance in Lục Tỉnh(7) which was rather rustic and not sophisticated as that performed by those genuine teams in urban areas like Saigon. In her village, the dragon dancing performers were simply dressed in plain black « bà ba » clothes; their bare feet were muddy and chapped. They might have performed well, but still it looked rather oddly. The attire of this dragon dancing team in Saigon stirred Lành’s soul. The perfomers’ trousers were bound with rubber strings up to their shanks. Their short and skimpy tunics, fastened at the belly, bore the red image of a dragon head on the back. On their heads were small palm-leaf conical hats which were painted read, and on top of each was a pointed tassel. They looked like frontier guards in Cambodge and Cần Giọt in days of yore, only that they didn’t wear their long hair. Nor did they have beard. All these things sufficed to recall her memories from her childhood. She remembered her father’s reverent eyes and his shaking fingers before the sparkling light of a candle when he caressed the portrait:
That’s your grandfather. He was a military officer in the militia of His Excellency Trương. Your grandfather took responsibility to defend from this side of the Cần Giuộc River to Gò Công estuary and as far as to those islets of Hòn Đất, Hòn Cu… in the sea. Then His Excellency Trương was killed by a traitor, the militia was disintegrated, your grandfather took me to move over here. Now everything has changed, opportunities have altered, people heart is no more united. I just try to maintain my moral integrity, and practice my medical career to help people until I follow our ancestors. Great tasks to turn the table in the country is left to those of great talents….”
The father’s eyes were sparkling dreamily. Vaguely visible in his hazy eyes was the family proud which was occasionally mentioned of mixing with the attitude of being content with his lot after a long time on the lam. The father and the daughter were sitting looking out of the door for a long time, each followed one’s thoughts.
As the sun was edging slightly to the west, there were more people, pressed by the drum sounds, coming from their houses far in the hamlet. A dragon head with a white long beard was turning to this side then to the opposite, playing with the ball or moving its horn to struggle for the pearl in front of the house which was offering a prize. The dragon’s protruding eyes were swaying from side to side. It’s large mouth opened and shut repeatedly as if it was going to swallow up someone among the people swarming around. Its single horn was black and bent; every time the dragon advanced forward it seemed that the horn could slash the belly of some spectator. Terrible. The performance was not for a novice. The performer not only waved the dragon head with both of his hands but also danced on his legs with the kicks, the retreat of his kicking feet and the quickness in his defensive positions. With just a look you could know that was a very experienced performer. More than ten rolls of fire-crackers hung from the roof of the house almost touching the ground were set off. The explosion was dinning everybody’s ears. The dragon dancer prostrated himself and moved back at the doorway. Then the dragon turned up to look at the red pennon, which bore yellow words “Ông Lãnh Market Chino-Vietnamese Youths’ Dragon Dance Association”, hung dangling from the top of the roof. Accompanied the pennon were pieces of lettuce and a line of new decorating paper. The dragon danced and jumped violently as though it was angry. Many chucking sounds of appreciation were heard among spectators. It was great. The dragon head was rather heavy, but the performer danced with it lightly. It looked like Xiang Yu lifting the cauldron. It took an hour already but he didn’t seem to be any tired.
A group of five men were putting up a tall and mature bamboo pole which was as large as a man’s upper arm. The men were at their proper positions to keep the pole stand upright firmly. The dragon dancer was somersaulting around, then he looked up and down the pole as to estimate its height before climbing. Lành had seen such performance once at Cần Thơ Market when she was a child. The performer wore the dragon head on one of his arms and started to climb up the pole which was so smooth and tall. The other end of the pole was joined across by a piece of bamboo on which the dancer would perform his somersault in the drum sounds. The dragon’s white beard was floating in the freezes; the performer looked like a fighting general. In a sudden the drum sounds slowed down and was low in volume. The dancer jumped onto a stool dancing for a while and then he put out one of his legs straight forward. Now from the group of boxers standing behind, appeared another dragon smaller than the first one, with parti-colored face and grey beard. This dragon was rather humble. The way it danced was also gentler, and slower. It bowed down to the white bearded dragon three times and then it slowly and timidly crawled under the leg of the other performer in fear. Lành was so surprised. Usually, only a strange dragon dancer was to prostrate to the local one to accept its status of inferiority. But these two dragons were of the same team. Why did they behave in such a queer way?
Cầu Muối Dragon prostrates itself to recognize Cầu Ông Lãnh Dragon as its big brother,” someone was speaking in a loud voice as though he wanted to be noticed as one in the know. “It has to eat crow to lick someone’s boot at the market like Han Xin in his ill-timed situation. It has to do so for eight years so far. There have been times it was sneezed at its horn, or its beard was plucked…”
Another man, a native perhaps, told the story in full details:
Since the fight at Chợ Đủi catholic hamlet, near the tomb of religious martyr Gẫm, as the result of a dispute over the right to perform a dance at the marriage-connected family of Bá hộ(8) Xường, in which Sáu Tiết, the leader of the Cầu Muối Dragon Dance Team was killed, soon his team disintegrated. But Út Hồng the big hoodlum leader of Cầu Ông Lãnh Team keeps having this scene repeated every year. Every time seeing this I’m very angry, especially since my family is at Cầu Muối. It doesn’t concern me, but I feel very embarrassed about it.”
You know why?” the man asked, and he made the answer himself. “Út Hồng thought in this small area there shouldn’t be two big-brothers, which was like two bears in the same forest. He couldn’t stand it. He was in cahoots with a band of thugs in Chợ Lớn, and they conspired with a group of Frenchmen’s servants around the Bồn Kèn area(9) to murder Sáu Tiết although the both bands had agreed they wouldn’t trespass on each other’s area…”
The man paused for some moments to take his breaths, then he continued in details:
It’s a pity that Sáu Tiết’s underlings were either recruited into other bands or broke rank and retired. Even so, Út Hồng still doesn’t feel satisfied and he has this scene performed again and again to bring dishonor upon some remaining members of the Cầu Muối dragon dance group. In addition, this is also to forewarn those who may want to restore the old group. Now as the only team in this area, they can do whatever they want to; who can get a hold over them? But… everything should be kept reasonable. Any extreme would be intolerable….”
Lành learned the whole story. She shook her head. This really was the limit. The dead couldn’t rest in his grave. Their rival’s team had disintegrated yet they kept abusing them. Still, they’d acquired the reputation of the cock of the walk in a section of a river, or at a market. Their underlings might amount to almost a hundred and nobody bothered to make an issue out of it. Why should they cause resentment? Not only it wasn’t one’s self-respecting action but it also hurt others’ feelings.
The drum sounds continued loosely. The smaller dragon kept crawling patiently to and back under the leg of the white bearded arrogant dragon dancer. Someone among the boxers were laughing pleasantly while others frowned at it. Some quietly vowed to express their discontent and cast their angry glances at the sight. The atmosphere was as highly tense as it was on the day of the fight at Lăng Tô (10) between the band of Khánh Hội’s ruffians and that of Cầu Muối last year that the French policemen had to try their best to break them up.
Having learned the story, although being a female I felt very frustrated and lost my temper. It sounded as though the wharf my boat came to anchor didn’t have a hero; or as though I’d mistakenly got married to a chinless wonder
But Lành didn’t have to be frustrated for long. The last straw would have broken the camel’s back. Corralled into a corner even a dog would turn to bite you, much less a human. A very loud and sonorous cry suddenly rose from the group of boxers which was followed by a man with his hands holding up two scimitars. The man was speaking in tears:
Dear late big brother! I die today… I can’t stand this anymore…. They’re abusing us too much… I’ll die beautifully and boldly to have our revenge, big brother…”
The man brandished two shining scimitars to chop at the Cầu Ông Lãnh dragon. Frightened out of his wits, the dragon dancer raised his dragon head to ward off the man’s weapons. The two sharp knives fell down through the dragon head as though they were cutting a banana trunk. The dragon head was cut into three pieces showing its dangling bamboo laths.
Chop him!,” from the Chinese dressed group gathering around the Earth God, a man shouted out his order with his Chinese accented Vietnamese which sounded as sharp as a razor. “Chop him! And kill him! That’s trouble maker, a spoilsport. He’s a traitor!”
Spectators were running away in horror like swarm of bees when their beehive was being destroyed. The sounds of crying, shouting, and that of knives slashing at flesh, and of someone falling, all combined into a kind of horrifying sound of death like that in a rebellion. Lành cupped her face in her hands and run like hell to shy away from seeing knives chopping at a human body. In her state of panic, Lành vaguely saw that the face of the heroic man looked faintly like that of Nam…

3.
The Tết was passing away as slowly as the time of a dozen years. The tale of Nam, a young man of Cầu Ồng Lãnh, slashing the Cầu Muối dragon to be chopped to death, was carried by words of mouth from this one to the other. Many people admired him but not a few took a dim view of his action. They all were reasonable: he was bold and he was stupid. But everybody was onlooker. Outsiders are always loud in their judgment, thought Lành, who felt deeply heartbroken about it. The man had appeared in her life just once but it seemed to her they both had ever known each other since time immemorial. That she was grateful to him now became insignificant compared to his heroic action. His saying that he would die to have his comrades’ revenge was stirring in her mind all the time, in her wakefulness as well as in her sleep, when she was shopping as well as when she was cooking. It pulled her soul out of her body to come somewhere high in the firmament. It lifted her from the surface of the earth, kept her hanging away from the dirty earthly world. She wore a distant look when present at a place and was asleep when moving normally.
Many a time the lady owner of the boat glanced at Lành and talked to her husband:
It’s a pity. She seems to have gone out of her mind and she looks bewildered all the day. In such state how can she find her relative’s home? I wonder how we shall settle the case. We’re in a dilemma whether to abandon her or to take her along.”
Lành caught the sigh which the female boat owner had heaved at the end of her lament. It was a sigh of compassion especially from a woman. She quickly thought of Nam. Of Vân Tiên. Of Nguyệt Nga. And of her situation. Why should I link my life with someone who might not know even my name, who had not intimated his heart to me, and especially he was dead. I might be teased by the soul of the dead. The soul of someone who was killed under knives or swords wouldn’t be able to leave for ever the mundane existence and was said to find somewhere to lodge at. To be a forsaken spirit. To be fiends or demons to lead someone else astray. I should come to Một Hình(11) to pray for safety. I vowed to love him all my life and wished him enter the Pure Land. I’d vow and pray. Just one action for several purposes.
Lành put on the “bà ba” dress offered by the woman owner of the boat some days before. The upper piece of the dress was rather large but quite good; the pair of trousers fitted her well. Lành draped a stripped scarf round her neck, letting down the two ends of the scarf on her chest. She looked at her image in the mirror and smiled to herself, then she hurriedly left for the shore. It was early in the evening. Street lights were on. On the Lò Heo Street, she felt a faint headache with the dolefully cries of those pigs carried on the carriages to the abattoirs. Near the Middle Railway, at the alley connecting to Boresse Street, the colored lanterns of the area of streetwalkers had started to be lit. Lành was walking at a quick pace. She blushed at the indecent look of some brothel frequenters. Some glass-windowed carriages(12) were running; their horse hooves were striking the road click clack and the screeching sounds of the wheels grinding on the macadam could make one’s flesh crawl. From afar, the Saigon – Chợ Lớn streetcar with electric sparks on its top like firecrackers in the night was coming; then it passed her and came to stop at Cuniac Station. Lành felt that the civilized city at night was quite joyful. Lights were shining brightly; everywhere was thronged with people. It’s unlike at my remote village in the back country, where everybody keeps hanging about at home after sunset.
From the statue of Một Hình Lành was walking along the river bank to come back to the boat. The bell from the State Cathedral was chiming eight o’clock. Male and female handsome and pretty young people were crowding at the Admiral Park.
Native clerical workers with French-styled glossily polished leather shoes, which might be used as pieces of mirror for one to shave his beard, and four-pocketed khaki overcoats on, wearing their side-parting hair, were hand-in-hand with modern-styled girls whose plaited hair was flowing over their shoulders; they seemed to look down on people around. It was so offending: people may express their affectionate behavior toward their sweethearts at their intimate and private places and at specific time, why are they showing such manners in public like this? She thought.
Those who still followed old lifestyle were wearing traditional knee-long gown in marguerite-styled woven crape which was going with large gauze pants; they put on Canavaggio-branded shoes and white trophical helmet; wearing pointed waxed moustache they were going for a walk with their wife and children, and speaking gently. Some young men were looking at Lành desirously as thought they could swallow her. Why was there a girl wandering here alone? Lăng Tô was a place for married couples and lovers. Lành went all shy. She looked down and hastily walked away. What’s a place! Male and female people are walking close at each other’s side! The Thủ Ngữ flag tower was very tall. It was terrible that there were Frenchmen drinking and enjoying themselves noisily. In the river, the turning bridge was in a proper position along the stream to allow the passage of boats and ferries. Strollers standing at both sides of the gap were talking and laughing joyfully. It’s so strange. When coming home I’ll certainly tell my mother about this: The turning bridge was a bridge that yielded to the river. From Khánh Hội, some port gangsters were riding their white Alcyon bicycles over the very long slope of Móng Bridge which looked quite exciting.
When Lành was passing the high stone-built bank, someone was talking to her :
Excuse me, miss… Could you stop so I would ask you a question?”
Lành blushed and shyly kept going straight. Nothing involved though but Lành felt she was in mourning for him. Having prayed to the Một Hình made me feel relieved. Spiritually, now I belong to his spirit. I should deserve to be with the one that has died courageously. He died to get his revenge. He died so that he wouldn’t have to look down and eat humble pie when being ridiculed. As I’m a girl it wouldn’t matter much if I should get some disadvantage. Is there anyone in the world that deserves it than him? Life is so strange. The singing on the river from the thieves of Ba Cụm was like words of a good fortune teller. My life may be sad but beautiful, and as sweet-smelling as flowers of night blooming jasmine; I’ll be like lady Kiều – no one shall criticize me as an ungrateful girl:
Even though someone is extremely benign
Even though how someone would wheedle me
A lotus in full bloom will decline
I’ll keep my chastity like Nguyệt Nga the great lady.

I’d rather be starved and in rags
Than be immoral to leave bad reputation
I’d rather live in poverty like washrags
Than be like greedy Võ and his daughter so brazen.
Nam had put on the light so that his fellows would see what the insult was. There would be other lights. The light would help someone open his own eyes. And those young men who were practicing martial art in Lò Heo Street would learn how to live. “My heartbreak is of little account as compared to the death of a courageous man.” Lành told herself firmly: “I shall keep my chastity. I must do so. It’s the strong winter wind that knows those hard pine-trees / It’s the strong fire that knows how pure gold is. I’ll stay single for ever, or until I could meet another Nam.” A happy smile came on her lips. In a sudden, the dim lights in front of the Dragon House
(13) across the river were blazing like those of the Chợ Quán Electrical Plant when its engines were fed with fresh coal. Lành quickened her pace toward Cầu Chong. It was close to the anchored boat. I should light some incense sticks for him. The breezes from Quai de Belgique were so fresh and cool. At the Cuniac Station the brass band kept performing. The music was resounding as far as the river causing those merchant vessels there bobbing in their sleep. Lành smiled and hurried herself up. A couple of lines from the Vân Tiên verse novel came into her mind :
Men should be honest and faithful to the country
Loyalty and chastity are of women’s morality.

1 Bùi Kiệm is one of Vân Tiên’s friends in a verse novel titled Lục Vân Tiên by Nguyễn Đình Chiểu. But Bùi Kiệm has symbolized a shameful flirt who has courted Nguyệt Nga, the would-be-wife of his friend, Vân Tiên.
2 Thể Loan is a character in the verse novel. She was engaged to Vân Tiên, but when knowing that Vân Tiên was blind for having cried so much for the death of his mother, she agreed with her father to sell him down the river.
3 Lục Vân Tiên’s father.
4 “Listening to the drum sounds at night and missing one’s husband”, a traditional genre of Vietnamese music.
5 Thạch Sanh is the hero of a folk tale in Vietnamese literature.
6 Tiao Shun and Lupu are the characters of a well-known Chinese romance, San-Kuo Chih Yenji.
7 The southern part of South Vietnam, under early Nguyễn Dynasty in 19th century, comprised six provinces.
8 An honorary title conferred by the king on greatly rich men in the country. Xường was the third of the four richest families in Saigon in early 20th century – they were, “first: Sĩ, second: Phương, third: Xường, and forth: Định.”
9 Bồn Kèn was the roundabout at the junction of the Catinat Street and Bonard Avenue (Đồng Khởi Street and Lê Lợi Street nowadays) in Saigon in the time of French domination, where every late afternoon a French military band gathered to play music for public entertainment.
10 The name was Láng Thọ. “Lăng Tô” is a French pronunciation of the word.
11 Một Hình was the way native people referred to the statue of French Admiral Rigault de Genouilly which had been placed by the French government at a Square on a Saigon riverside street. The statue was toppled and destroyed by people in 1945.
12 Many Frenchmen at the time preferred referring them as “voitures malabres”
13 The office of the old French maritime company ‘Messageries Maritimes’. On top of the house there are two concrete dragons hence the name.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 26.5.2014.