Việt Văn Mới
Việt Văn Mới


Lá Thư Không Niêm

Gởi Ông Tập Cận Bình





   Kính gởi : Ông Tập Cận Bình – Lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và Quân đội Trung Quốc.

   Trước hết tôi muốn nói chuyện với ông về tình hữu nghị của Việt Nam và Trung Quốc, hơn nữa của nhân dân hai nước anh em với tư cách là một công dân nước Công hòa XHCN Việt Nam, với ông là một công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
   Là tư cách công dân với nhau, là người dân của một nước có lịch sử trên bốn – ngàn năm văn hiến, dù là Trung Hoa hay Việt Nam, chúng ta đều hiểu rõ nguồn gốc lịch sử của dân tộc Đại Việt và Đại Hán. Nội danh xưng quốc cổ này, chúng ta đã thấy được sự độc lập và chủ quyền của hai dân tộc nên đều có bổn phận và nghĩa vụ bảo tồn nòi giống và đất nước có nền văn minh lâu đời của hai nước hai dân tộc của mình.
   Người Trung Hoa còn gọi là Hoa Hạ thuộc Hán tộc (chiếm 94% dân số cả nước) có nguồn gốc từ vùng đất phía Bắc sông Hoàng – Hoàng thổ, có thể là con cháu của hệ người vượn Bắc Kinh - Sinanthropus đáng tự hào (được các nhà khảo cổ học nước ông phát hiện năm 1927-1937) là một trong ba người cổ xưa tiêu biểu của thế giới, đó là người vượn Bắc Kinh, người vượn Java (Indonesia) và người Neanterdam (Đức). Dân tộc Việt có nguồn gốc từ Mã Lai (Malaysia) thuộc gốc người vượn Java. Từ cơ sở này, chủng Indonesiens được gọi là Australoid (Nam Á) giao tiếp với chủng Mongoloid (Bắc Á). Điều này chứng minh rằng dân tộc Việt Nam không hề dính líu tới hay có liên hệ với dân tộc Hán – Trung Hoa về mặt chủng tộc hay dân tộc.
   Đợt thiên di lần đầu từ Đông Nam Á cách nay hàng triệu năm, bộ tộc Malay đi ngang qua Đông Dương lên định cư ở Hymalaya. Rồi từ đây phân hai nhóm : một nhóm xuống Ấn Độ trở thành tộc Dradiviens và một nhóm đi sang Hoa Bắc. Tới Hoa Bắc đụng độ với Hán tộc, nhóm này chuyển hướng xuống Nam vượt (Việt) sông Hoàng tới sông Trường (Hồ Bắc, Hồ Nam, Thiểm Tây, Quý Châu) thuộc vùng núi Ngũ Lĩnh là các cương vực dân Việt trải qua, sau cùng là quanh khu vực hồ Động Đình. Dân Việt biết trồng lúc nước sớm ở đây và Thần Nông được gọi thay tên thủ lĩnh của xứ sản xuất nông nghiệp, trước khi Hán tộc tới. Lạc Long quân và Âu Cơ là thời kỳ đầu của thời đại Hùng Vương nước Văn Lang của dân Việt cách đây trên bốn ngàn năm. Trống đồng truyền thống của dân Việt phổ biến khắp vùng Hoa Nam và Bắc bộ Việt Nam, trong đó có dân tộc Choan ở Vân Nam. Đó là nền văn minh trống đồng nổi tiếng của dân Việt cổ.
   Vì bắt chước theo dân Việt hay muốn đánh đuổi dân Việt mà dân Hán tìm cách vượt sông Hoàng rồi tiếp tục sông Trường. Chuyện Phù Đổng Thiên Vương thời vua Hùng thứ 6 đã đánh thắng giặc Ân (nhà Ân – Thương) là có thực, dù chỉ là một cậu bé mới lớn vì lòng yêu nước sâu đậm. Vùng Hồ Nam, Hồ Bắc còn gọi là Kinh cức và vị vua cai trị xứ này có tên Kinh Dương Vương - vua Hùng Vương thứ 1 (từ năm 2.879 trước Tây lịch). Đất nước có tên Xích Quỷ. “Bờ cõi Xích Quỷ bấy giờ bắc giáp Động Đình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía dông giáp biển Nam Hải”.(Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội năm 1999, chương 1 trang 23).
   Dẫn giải nguồn gốc và lịch sử của Việt Nam tới đây, ông phải thấy rằng vùng đất biển của Việt Nam đã rộng lớn như thế nào ở vùng Hoa Nam, tính từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc xuống tới Biển Đông hiện nay, bao gồm cả đảo Hải Nam, Hoàng Sa và Trường Sa. Thời đó, địa danh Trường Sa mà các đế chế phong kiến đặt tên chính là biên giới cực nam của đất nước ông thuộc tỉnh Quý Châu ngày nay, chớ không phải hải đảo Trường Sa hay Hoàng Sa ở biển Đông như hiện nay. Người Trung Quốc ngày nay không nên hiểu khác đi để làm những điều tồn tệ ở biển Đông của Việt Nam.
   Thời kỳ phong kiến của Trung Quốc đã đẩy lùi dân Việt và xâm chiếm đất nước Văn Lang – Đại Việt (nằm trong khối Bách Việt) xuống tới phía nam ba tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông và đảo Hải Nam trong hơn 1.000 năm cai trị (111 trước Tây lịch – 939 sau Tây lịch). Vua Quang Trung Nguyễn Huệ của tôi ở thế kỷ thứ 18 sau khi đánh thắng nhà Mãn Thanh (1789) có dự kiến đòi lại các tỉnh này cũng vì thực tế lịch sử đó.. Biên giới Việt Nam – Trung Quốc ngày nay là do thực dân Pháp phân chia và định vị với triều đình nhà Thanh năm Quang Tự thứ 11 tại Hòa ước Thiên Tân, ký kết giữa ông Lý Hồng Chương với ông Patenôtre (Đại sứ của Chính phủ Pháp) ngày 27/4/1885, giữa lúc quân Pháp từ Việt Nam tiến lên đánh chiếm Phúc Châu (tỉnh Phúc Kiến) và đảo Đài Loan.
   Trung Quốc (Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) đã giành chính quyền từ chế độ phong kiến và tư bản tiến tới thống nhất đất nước từ năm 1949 để xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu mới theo tư tưởng Mác Lê Nin và Mao Trạch Đông do đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bằng cuộc trường chinh vĩ đại, hào hùng. Cuộc giải phóng vĩ đại này đã chấm dứt chế độ phong kiến của nhà Thanh và tư bản phản động của Tưởng Giới Thạch và các nước phương Tây. Chắc ông và nhân dân Trung Hoa Hán tộc biết rõ đất nước và dân tộc này đã bị nhà Mãn Thanh xâm chiếm và đồng hóa, cai trị trên 200 năm (1644-1840). Đây là tộc ngoại Nữ Chân có tên nước là Kim sau đổi thành Mãn Châu rồi Thanh (hay Mãn Tnanh). Cũng như trước đó, Hán tộc đã bị người Mông Cổ chiếm đóng và đồng hóa, cai trị gần 100 năm (1271-1368) do tham vọng mở rộng biên giới từ Á sang Âu của Thành Cát Tư Hãn (Cingis Khan).
   Chính hai ngoại tộc này đã đồng hóa Hán tộc tòan diện và sâu sắc lập nên triều nhà Nguyên. Hán tộc đã vùn lên đánh đổ chế độ phong kiến ngoại lai Nguyên để thành lập đế chế Minh và Minh bị thay thế bởi Thanh nên trong nước thời đó có phong trào “Phản Thanh phục Minh” rộng lớn nhưng thất bại, có nhiều nhóm chạy sang Việt Nam cầu phục và được các chúa Nguyễn cho định cư lập nghiệp ở Tiền Giang và Đồng Nai gọi là Minh Hương (còn một nhóm của dòng họ Mạc Cửu ở Hà Tiên đi trước và xin sáp nhập với Việt Nam), từ đó tới bây giờ. Vì họ là Hán tộc thuần thành nên đã biết điều, có đạo lý, sống hòa hợp với người Việt và thực sự đã trở thành anh em với nhau. Họ đoàn kết cùng nhau tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thời đại Hồ Chí Minh do đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo và cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh theo định hướng chủ nghĩa xã hội như ngày nay.
   Ông cũng cần biết rằng cả hai triều đình Mông - Nguyên và Mãn Thanh đều bị thất bại đau đớn khi đem quân sang xâm chiếm đất nước Việt Nam. Cũng như thế, Đại Việt dù bị các triều đại phong kiến phương Bắc từ Ân – Thương, Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống.. trên một ngàn năm chiếm đóng cai trị nhưng không thể tồn tại lâu hơn vì chí khí anh hùng bất khuất, quật khởi của dân Việt.
   Tới Tống xâm lược bị đại bại tại mặt trận sông Như Nguyệt (Bắc Ninh) chỉ với bài thơ được lão tướng Lý Thường Kiệt ngâm giữa đêm như tuyên đọc bản văn Tuyên ngôn độc lập :

                                                                 Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                                                             Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
                                                               Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
                                                              Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

   Tất cả các biến cố lịch sử nói trên của hai dân tộc, hai nước Việt Nam và Trung Hoa trong các thời đại phong kiến đã chứng minh mạnh mẽ rằng không có cuộc xâm lăng, chiếm đóng nào ở Việt Nam được giữ vững với thời gian, không sớm thì muộn, đều bị nhân dân Việt Nam anh hùng đánh đuổi và tiêu diệt.
   Gạt bỏ tất cả những gây cấn, xung đột giữa hai dân tộc hai đất nước thời phong kiến và tư bản, kể cả giai đoạn xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc ở những năm 1979, thời đại Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông ngày nay (dù không còn hai lãnh tụ vĩ đại này), chúng ta vẫn còn chung một hệ thống đảng cộng sản, dù mỗi đảng có đặc thù riêng nhưng đều có nguồn gốc từ học thuyết Mác Lê Nin. Chính hai lãnh tụ lớn tiền bối là Mao và Hồ đã có công vun đắp tình hữu nghị hai nước, hai dân tộc lâu dài sánh như “môi hở răng lạnh”. Mao đã có công đóng góp vào công cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam thời hiệp định Genève và hiệp định Paris. Chính lúc còn bôn ba nơi hải ngoại tìm đường cứu nước mình, Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh từng có bài báo bênh vực cuộc đấu tranh giải phóng của Trung Quốc, như bài “Hand off China” (Đừng đụng tới Trung Quốc) và trên đường trở về Việt Nam để lãnh đạo cách mạng vào các năm 1935-1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từng cộng tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc góp phần không nhỏ vào xây dựng Bát lộ quân ở Quý Châu (mang quân hàm Thiếu tá Hồ Quang) sát cánh với tướng Diệp Kiếm Anh.
   Bây giờ, tất cả các lãnh tụ tiền nhiệm của hai đảng cộng sản anh em không còn nữa nhưng các lãnh tụ mới đương quyền của hai đảng vẫn còn quan hệ hữu nghị “láng diềng gần.”
   Hiện nay là ông Nguyễn Phú Trọng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và ông.là Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc. Mối quan hệ hai nước, hai đảng vẫn diễn ra tốt đẹp, từ việc đặt cột mốc biên giới hai nước hoàn thành tốt đẹp đến bang giao kinh tế ngày càng đạt kim ngạch cao. Do biên giới hai nước “sông liền sông, núi liền núi” nên các cửa khẩu đều hoạt động tốt để nhân dân hai nước qua lại làm ăn buôn bán, tham quan, du lịch tự do thoải mái. Hai nước đều có quan hệ ngoại giao từ lâu, có Đại sứ quán, có Tổng lãnh sự quán ở thủ đô và các tỉnh thành lớn. Tưởng chừng như không có mối quan hệ nào khăng khít, hữu nghị tốt đẹp hơn nữa. Hai bên cũng đang trao đổi ý kiến ngoại giao để giải quyết vấn đề Hoàng Sa theo pháp luật quốc tế bằng con đường ngoại giao.
   Hai bên Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội đều thấu rõ Hoàng Sa là thuộc Việt Nam trong biển Đông và vùng đặc quyền kinh tế theo đúng sự phân định của quốc tế và hai nước từ lâu. Về hồ sơ, tư liệu cũ và mới, cả thế giới đều biết rõ Hoàng Sa là của Việt Nam từ lâu đời cũng như các sự kiện lịch sử mà tôi dẫn chứng ở trên trong bức thư này. Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng từ trước ngày miền Nam Việt Nam được giải phóng 1975 do quân dân Việt Nam đang dồn lực lượng cho cuộc giải phóng này và chỉ kịp để giải phóng Trường Sa từ tay quân đội chính quyền Sài Gòn. Khi chưa giải phóng, quân đội Trung Quốc đã đánh Hoàng Sa để chiếm giữ, coi như hai đảng đã thỏa thuận hỗ trợ với nhau trong việc giải phóng này. Nhưng tới nay, qua nhiều cuộc trao đổi, bàn luận chính thức và không chính thức ngoại giao, hai Đảng hai nước vẫn còn dang dở cho sự trao trả hải đảo này cho phía Việt Nam.
   Thế nhưng tình hình Hoàng Sa ngày càng trở nên phức tạp thêm do phía Trung Quốc chẳng những chưa trao trả lại cho Việt Nam mà còn xây dựng nhiều công trình, hạ tầng cơ sở và đặt tên cho hải đảo của nước tôi trong mưu đồ chiếm đóng lâu dài. Đó là một hành động không chính đáng, thiếu đạo nghĩa và tiền hậu bất nhất.
   Thưa ông Tập Cận Bình, chắc ông biết rõ phía Trung Quốc hành động như vậy là sai trái với tình hữu nghị hai Đảng, hai nước và hai dân tộc anh em đã cam kết, mong đợi. Và cả luật pháp quốc tế đều thua xa.
   Đã như vậy, mà bây giờ Đảng Cộng sản Trung Quốc còn buông lỏng lãnh đạo để cho tập đoàn dầu khí Hải Dương và quân đội đưa dàn khoan và tàu chiến tới giữa vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam ở thềm lục địa biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam. Chẳng những thế, các lực lượng có mặt trái phép ở đây lại còn xua đuổi và gây hấn với ngư dân, tàu cảnh sát biển của Việt Nam đang làm ăn và canh phòng nơi biên giới biển của mình. Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam đã bình tỉnh, kếm chế trong việc chỉ đạo ngư dân và cảnh sát biển chưa vội hành động đáp trả vì ngạn ngữ Việt Nam có câu : “Một điều nhịn, chín điều lành” và Đức Khổng phu tử đã từng dạy dân tộc Hán câu :”Dĩ hòa vi quý”.
   Đó là bản sắc văn hóa dân tộc dân Việt lâu đời từ khi giáp mặt với Hán tộc ở Hoàng thổ trước bốn ngàn năm lịch sử và tiếp tục “vượt” sông núi vạn dậm đi về phương nam và định cư vĩnh viễn ở vùng đất như hiện nay với tinh thần cầu an, mong hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Trong khi đó, sau khi bị đồng hóa bởi rợ Hung nô là Nguyên Mông và Mãn Thanh trên ba trăm năm, Hán tộc bị lai căn hoàn toàn nên trở thành hiếu chiến, bạo hành như rợ Hung nô, rất tiếc lại hành xử ngạo mạn lý thuyết đó đối với nước anh em, sông liền sông núi liền núi. Nho giáo – Khổng giáo – Phật giáo và cả Lão giáo của Hán tộc thì Việt tộc tiếp thu như thứ tư tưởng “nhu thắng cương, nhược thắng cường”, lấy “chí nhân thay cường bạo” bên cạnh văn hóa Ấn Độ với tư tưởng “bất bạo động” của Thánh Gandhi, Neru.
   Dân Việt lấy Khổng học làm Nho học (hay Nhu học) là quán triệt tư tưởng, triết lý sống của thời đại ngày nay :”Muốn là bạn với tất cả các dân tộc và các nước” trong tinh thần cao cả “Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tôi nghĩ ông là lãnh tụ tối cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nhà nước, nhân dân và quân đội, hơn nữa ông là người có kiến thức cao, uyên bác, học hàm học vị đương đại phải thấu lẽ trời lẽ người và đạo lý nhân sinh thì không thể “an nhiên tự tại” khoanh tay ngồi nhìn các biến cố và sự kiện đang nóng lên ở biển Đông làm tổn hại tới tình hữu nghị giữa hai đảng, hai dân tộc anh em mà có nguồn gốc từ đất nước ông. Tôi mong muốn ông là một lãnh tụ thông thái nên hành động và có thái độ như một bậc đại học (Nho sĩ) thấm nhuần tư tưởng Khổng Mạnh : trị nước và ngoại giao bằng “vương đạo” chớ không “bá đạo” để tiếng thơm về sau. Tục ngữ Việt Nam có câu :”Hùm chết để da người ta chết để tiếng” hoặc “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”
   Tưởng cũng cần nhắc lại, trong tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam có ngọn núi tên từ ngàn xưa gọi là “Quỷ môn quan” tức là “Cửa ải phía nam”. Tương truyền nơi này ngày xưa là cửa khẩu biên giới phía nam của các triều đại phương Bắc mở ra đất Đại Việt để hai bên giao thương thuận lợi. Nơi này là cột móc ranh giới hai nước. Như vậy, có thêm một bằng chứng cho thấy đất nước Trung Hoa rộng lớn từ Bắc tới Nam mà nơi “Quỷ môn quan” là tận cùng biên giới phía nam của Trung Quốc. Thời xưa, dân và quân phương Bắc có dịp qua đây đều khó quay trở về nên đã hình thành câu ngạn ngữ sau đây :”Thập nhân xuất, nhất nhân hồi”.(Mười người qua đây, chỉ còn một người trở về).
   Thưa ông Tập Cận Bình, tôi muốn ông hành xử đúng nghĩa với tên ông “Cận Bình” đối với đất nước và dân tộc anh em có truyền thống hữu nghị lâu đời. Đó là Trung Quốc “cận bình” (có nghĩa gần gũi hòa bình) với Việt Nam như “Nhất cận lân nhì cận thân, nghĩa là nước ông ăn ở hòa dịu, gần gũi với nước bạn để phù hợp với tuyên bố của nhân dân Việt Nam :”Muốn là bạn với mọi quốc gia” và “láng diềng gần” của ông. Điều này phù hợp với công tác đối ngoại của Trung Quốc từ Đại hội Đảng thứ XII-XIII. Đó là Trung Quốc tuân thủ 5 nguyên tắc chung sống hòa bình và mong muốn phát triển sự hợp tác hữu nghị với tất cả các nước theo những nguyên tắc này, trong đó có nguyên tắc “Trung Quốc chống chủ nghĩa bá quyền và bảo vệ hòa bình thế giới”. (Lịch sử Trung Quốc, NXB Giáo dục – Hà Nội 1991, trang189).
   Nếu được thấm nhuần quan điểm này, chắc chắn ông phải từ bỏ chính sách lỗi thời mang nhiều tai tiếng là “Cùng binh độc vũ” “Viễn giao, cận công”.
   Với tư cách, vai trò của ông, ông có thể làm được mọi thứ đề giữ gìn hòa khí với nước bạn và hòa bình ở biển Đông.
   Kính chúc ông có nhiều sáng suốt để đọc lại Binh thư Tôn Tử - một chiến sách đối nội và đối ngoại ôn hòa, chớ không chỉ hiếu chiến trong “Viễn giao ,cận công”.
   Hy vọng ông luôn giữ vững quan điểm riêng là : "Mỗi cán bộ chính quyền cần phải luôn luôn ghi nhớ : quyền lực của chính quyền nhân dân bắt nguồn từ nhân dân, phải đại biểu cho lợi ích của nhân dân, phải vì nhân dân mưu lợi ích".


. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 17.5.2014.