Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





GÓC LÀNG





Hồi tàu Pháp ngoài sông Lô câu mooc-chê vào, đạn nổ gần, phạt đứt một cành lớn. Năm bốn sáu, làng “tiêu hủy kháng chiến”, lửa lan ra cháy một góc cội cái. Hòa bình được mấy năm, cụ đa hồi sức, cành lá xum xuê. Ai ngờ năm sáu bảy, bom giặc trên trời lại ném xuống, cả tám cội đều trúng mảnh, máu chảy trắng đất, cành lá tan hoang. Mấy chục năm nay, tưởng cụ được yên thân che chở cho dân làng...Con đường sắp chạy qua đây gọi là cao tốc, cao tiếc gì ấy, rộng lắm. Nghe đâu họ chặt bỏ cụ đa đi. Phí quá! Đau lòng quá”.
(Lời bà nội tôi)

I.

Tôi chả có việc gì để làm, cũng chẳng ngủ được. Trưa tháng sáu oi bức, nắng đông đặc xuống sân, không một tí tẹo gió. Đám rôm sảy sau lưng cắn rấm rứt, nhoi nhói Dưới cái áo cứng quèo bằng vải nâu nhuộm. Cởi tung hàng cúc, thật nhẹ nhàng tôi rút tay ra, cố không để làn vải cứng chạm vào da. Ngồi bệt xuống, tôi ấn mạnh lưng vào tường nhà, đám rôm sảy như dề cơm cháy cắn vào da thịt, đau nhói, vỡ rôm rốp. Lưng tôi rát rạt, nóng bỏng. Chạy ù ra giếng, chiếc gàu mo cau lật qua, lật lại không chịu chìm xuống nước. Đéo bầm mày! Ông thì chặt nát ra bây giờ. Cuối cùng tôi phải kéo cái gầu mo lên, lôi mẩu gỗ buộc cạnh gầu từ trong ra bên ngoài. Vì cầu mo cau rất nhẹ, khó múc nước, bố tôi buộc mẩu gỗ ổi một bên cho có sức nặng, kéo nghiêng gầu để nước tràn vào. Năm tôi mười hai tuổi, nếu hỏi mơ ước điều gì, tôi sẽ nói ngay là muốn có cái gầu múc nước bằng sắt tây như bên nhà chú Hùng lái xe, sau đó mới đến có một bộ quần áo bằng vải xanh chéo để đi học. Năm nay mười bốn rồi, tôi biết không thể mơ ước hão. Hôm nào tôi sẽ sang nhà chú Hùng, học gò thùng. Tôi sẽ kiếm một miếng sắt tây và tự làm một chiếc gầu thật to.

Làng tôi là làng Nà Rậm. Núi đồi trung du, đào giếng khơi không dưới mười mét. Có nhà ở trên đồi, giếng nước sâu gần hai chục mét, từ trên ngó xuống hun hút, chóng mặt. Trước kia, mỗi xóm có cái giếng chung đào ngay ven đồi, sát mương nước, nên cũng chỉ sâu hai, ba mét. Đầu những năm thập kỉ sáu mươi, dân làng chán cảnh chen nhau gánh nước, kèo kẽo trèo dốc về nhà, nên mới có phong trào đào giếng. Nghề đào giếng ẩn chứa nhiều nguy hiểm, lát nữa tôi sẽ kể. Bây giờ làm sao múc cho được hai gầu nước, đổ ào lên đầu cho dịu đi cái rát bỏng rôm sảy. Bà nội tôi ngồi dưới gốc mít già, ngay dưới cành lớn giống con trăn khổng lồ bò từ vườn vào chớm đầu nhà trắng mốc lá cọ rách. Tôi không hiểu tại sao bà cứ tham việc khi đã tám mươi tuổi. Buổi sáng không biết bà dậy từ lúc nào, nhưng khi tôi từ trên giường nhảy xuống đất, cầm chim chạy ra đầu hè đái vổng xuống, thì bà đã ngồi dựa lưng cột hè, nhai trầu bỏm bẻm, quát the thé.
- Mèo! Cái thằng chết tròng! Mai còn đái đầu nhà, bà thì cắt bòi.
Bà nội hay rủa tôi là thằng chết tròng (chết đuối), nhưng bà yêu tôi lắm. Bà bảo càng rủa chết, người ta càng sông lâu. Bà không ngủ trưa bao giờ, mang chiếc chổi rơm ra ngồi dưới gốc mít, làm cái gì đó. Khi thì băm thúng rau bài ngài nấu cám lợn, khi lôi đám cành rong tre về chặt kí cách, khi ôm mớ cây sắn ra róc vỏ phơi làm củi. Bà tôi không ngồi ghế, cũng không ngồi bệt xuống đất như tôi. Bà chọn rơm nếp, chuốt sợi vàng tết chổi quét nhà, bao giờ cũng chừa lại một chiếc làm ghế ngồi. Nhìn chiếc chổi của bà, buồn cười. Nó bẹp dí, từng cọng rơm dính bết, nhẵn bóng. Thấy tôi bùm bũm ngoài giếng, bà nhổ quyết trầu, mắng lúng búng.
- Mèo ơi! Vày nước vừa thôi. Cảm chết con ạ.
- Sảy cắn ngứa lắm bà ạ!
- Mang vào đây bà xem xem!
Tôi chìa cái lưng cơm cháy ra. Bàn tay bà lạnh ngắt, khô quắt làm tôi rùng mình. Bàn tay khô xoa nhè nhẹ từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Hơi trầu nồng cay phả sau gáy tôi.
- Cha bố mày! Tọng mít, dứa cho lắm vào.
- Nhưng mà đói!
- Đói thì bào bà luộc hột mít cho mà ăn chứ.
- Chả thèm! Ăn hột mít, rắm bum bủm suốt ngày.
- Cha bố mày! Con nhà lính, tính nhà quan. Thôi! Chạy ù sang nhà mọ Bích, xin nắm lá nhội, về bà xát lưng cho đỡ sảy.
Bố tôi nằm trên tấm phản gỗ giữa nhà, phành phạch cái quạt cọ, ngái ngủ hỏi tôi chạy đi đâu giữa trưa nắng.
- Bà bảo...
Miệng mới nói, chân đã nhót ra ngoài ngõ. Đoạn đường trước ngõ ngập cát đến mắt cá chân, nóng rãy, những chiếc lá tre quăn queo giống con đỉa chết khô, lay lắt chìm nổi trong cát. Tôi cắm đầu chạy. Bố không cho tôi chạy chơi rông buổi trưa. Tôi khoái ra tập bơi ở ao cá Hợp tác xã, hoặc trèo lên cây đa tám cội tìm tổ chim và hái quả chín. Những quả đa đỏ mọng, to bằng quả xoan, ăn chát và có vị ngọt. Tôi tranh ăn với lũ chim chào mào. Bọn chào mào mũ đen nhọn hoắt, lông đít đỏ choét thường bay chuyền từ cành này qua cành kia, láu táu với nhau nhiều chuyện, chắc là chửi tôi giành ăn.
Nhà mọ Bích gần cây đa tám cội. Tôi chẳng tội gì mà vào xin lá nhội ngay, nếu chưa trèo cây chơi một trận đã đời. Nói thật, thì tôi ghét mọ Bích, cũng trạc tuổi bà nội, nhưng bà này lắm điều, lại chua ngoa. Cái mặt choắt, mắt sâu hoắm nhìn thô lố, mũi nhọn, cằm nhọn, trông chẳng khác gì mụ phù thủy. Một lần trời mưa, tôi và thằng Dũng cột trâu dưới gốc đa, chui vào vườn mọ Bích trộm bưởi. Chiều ấy, hai thằng chăn trâu được nghe mụ phù thủy chửi tàn độc. “Cha tiên nhân dây mơ rễ má, thúc bá, đệ huynh, tam huỳnh, tổ khảo nhà mày nhá. Nhà mày ba đời chết đói, bảy kiếp ăn xin, chín họ ăn cắp nhá. Bưởi nhà bà là vàng là ngọc, là rồng là phượng, mày đem về nó hóa thành đá thánh cứt, thành rắn thành rít, cắn chết vợ chồng con cái nhà mày nhà. Mày ăn bưởi của bà, nó rách cổ, nổ hầu thành trăm mảnh, nghìn mảnh nhá”. Thằng Dũng tức quá, bảo tôi giữ trâu, rồi nó nhặt một nắm đá, nghiến răng ném ào ào lên mái nhà mọ Bích. Việc làm của nó khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”. Bà mọ Bích xăm xăm cây gậy sang tìm tới nhà thằng Dũng và nhà tôi. Bố thằng Dũng bênh con, nói. “ Kệ xác bà già lắm điều. Có quả bưởi chua mà moi móc ba đời, bốn họ người ta ra chửi”. Bố tôi sẵn bó cây sắn bà nội đang róc củi, vớ một cây vụt vào đít tôi vô hồi kỳ trận. “Mày có chừa không hả Cu? Ăn trộm quen tay, ngủ ngày quen mắt. Tao đánh tuốt xác mày ra”. Bà nội giằng cây củi, loạng choạng suýt ngã.
- Mèo! Quân vũ phu! Đánh con thế hử!
Bố vội buông cây củi, đỡ lấy bà.
- Ngã bây giờ! Mọ cứ nuông chiều quá, nó sinh hư.
Nghĩ đến trận đòn, tôi lại thấy ghét mọ Bích. Chẳng thèm vào nhà mọ ấy nữa. Sảy cắn mấy hôm cũng hết chứ gì. Trước mắt tôi đã xuất hiện cây đa tám cội. Cây đa nhiều tuổi hơn tất cả các cụ già trong làng. Nằm cạnh con đường đất sỏi, cội chính mọc gần sát đường, bốn cội nhỏ hơn choãi ra đằng sau, ba cội lớn hơn một tí thì vòng qua đường, chống ba chân trên dộc ruộng phía dưới, tạo thành cái cổng chào tự nhiên. Trong xóm mỗi đợt bầu cử, lễ tết, lại có một tấm vải đỏ treo ngay bên dưới cổng chào ấy, với những dòng chữ trắng, bắt đầu bằng mấy chữ “NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG...”. Tôi chui tọt vào cái hốc rỗng dưới cội chính. Hốc rỗng này có từ lâu lắm, nghe bố tôi bảo có từ hồi “tiêu thổ kháng chiến”. Năm ấy dân làng đốt sạch nhà cửa, vườn tược, đi tản cư để cho giặc Pháp đến không có chỗ mà ăn, ngủ. Cả làng cháy cơ mà, lửa rừng rực mấy ngày đêm. Một mái nhà gần đó bị gió thổi bay tới gốc đa, làm cháy mất phần cội chính, tạo thành hốc rỗng đến bây giờ.
Trong hốc rỗng có những bãi mùn đỏ quạch màu máu, đùn ra từ góc nào đó. Tôi tìm một cái que, cẩn thận đào tìm trong đám mùn đỏ, gặp may thì bắt được một con bổ củi. Con bọ cánh cứng màu đen có cái đầu cứng và khe cổ trắng đục. Cầm trên tay, nó liên tục ngóc đầu lên, bổ xuống cùng cục. Tôi thường đặt con bọ nằm ngửa ra đất, nó cong mình, gồng đầu lên và tách một phát tung lên cao, nhảy lật mình lại ngay lập tức. Trong hốc cây, thấy dịu mát hơn bên ngoài. Lũ chào mào không thấy lao nhao trên cây, chắc chắn chúng trốn nắng trong vòm lá kín nào đó. Chân tôi dẫm phải bãi nước ướt, khai rình. Bãi mùn đỏ bên trên hốc cây bị vỡ tung tóe. Đứa nào mới chui vào đây trước tôi. Đồ mất dạy! Chỗ ngồi chơi mà cũng tè bậy ra.
Tiếng phanh xe đạp kin kít, rồi tiếng con gái cười rinh rích.
- Em về nhá! Cầm lấy tàu cọ mà che nắng này.
Tôi tò mò ló đầu ra. Chị Nguyệt con ông Hữu, vú như hai quả bưởi, người lùn tịt, béo quay. Chị cầm cái đuôi sam tóc quay quay, mặt đỏ ửng, lấm tấm mồ hôi. Anh kia lạ lắm, chắc người ngoài xóm Nghè. Dựa chiếc xe đạp Thống Nhất vào cội đa bên trái, anh cầm tay chị Nguyệt kéo lại.
- Cho thơm một cái rồi về...
- Ứ...! Ban ngày ban mặt...Về đi! Đến tối.
- Tối anh sang đây nhá! Chỉ còn hai ngày nữa anh nhập ngũ rồi đấy.
- Biết rồi! Tối...
Tôi nghe trong tai ung ung giọng nói khàn của chị Nguyệt. “Tối...tối...tối”.

Cái thằng chết tròng sao mãi không về. Rồi thằng bố nó nổi cục, lại nhừ đòn. Cha bố cái giống vũ phu. Ỉa chẳng xong cũng đánh con. Ôi giời ơi! Lưng đau như dần. Ngày mai phải nhắc thằng Cu phơi lại nắm rơm, tết cái chổi mới mà ngồi. Cái chổi cũ mình tết ba bốn năm rồi. Rơm rạ bây giờ chán chết, cái chổi ngồi mấy năm đã hỏng.
Bà mọ Bích có cho thằng bé nắm lá nhội không, hay lại ngồi kể tội nó trộm bưởi, trộm dứa. Dào ôi! Trẻ con đứa nào chẳng thế. Hồi lên tám, lên mười, bà ấy chẳng đi đào trộm khoai lang với mình đấy thôi. Lạy trời phật. Bà mọ chỉ phải cái ác khẩu, chẳng có lòng dạ nào. Con trẻ có hái trộm trái bưởi thì chửi cả ngày, khản cổ, nhưng đứa nào có dăm ba hào đến mua, lại vừa bán vừa cho.
Con mẹ thằng Cu vừa lười vừa đoảng. Thúng hạt mít ngon thế này mà không chịu phơi, để mốc hết. Mày đừng tưởng mốc thì bà không tọng vào họng mày được nhá. Bà cứ lột hết vỏ ra, cái nào ăn được thì độn cơm, mốc thì giã nấu canh tía tô, thối thì cho lợn. Phí của giời, mười đời chẳng có. Chẳng biết thế nào mà tám mươi tuổi chưa chết? Răng mới rụng có ba, bốn chiếc. Ba hay bốn cũng chẳng nhớ? Phải có thằng Cu ngồi đây, mình há miệng cho nó đếm xem. Người ta bảo sống thọ quá, ăn hết lộc con cháu. Nhưng trời phật có chịu gọi cho đâu.
Bà cụ tên cúng cơm là Đào, nhưng chẳng mấy ai gọi tên ấy. Mọi người quen gọi bà là mọ Mèo, vì cụ có tật nói nhịu. “Ới mèo ơi! Bà bảo đây!”, là bà gọi thằng Cu tới xâu kim giúp. “Mẹ mèo ơi! Vào ăn cơm!”, là bà gọi con dâu. “ Ối giời ơi! Mèo bới tung nong thóc rồi”. Thằng cu cười khành khạch. “Buồn cười. Gà mà lại gọi là mèo”.
Mọ Mèo cúi sát đôi mắt kèm nhèm, bàn tay nhăn nheo, từng ngón khỏng kheo đốt xương cầm chặt con dao nhỏ, tỉ mẩn tách từng mảnh vỏ trắng đục quanh hạt mít. Những hạt lột vỏ rồi, còn lại màu nâu mịn. Dâu của mọ, con gái thứ ba nhà địa chủ Xung, không bao giờ chịu ăn cơm độn hạt mít. “Mấy đời nhà tôi, chả ăn uống kiểu lợn gà thế này”. Con trai bà, một hôm đi họp đảng ủy về, nghe thấy vợ nói hỗn với mẹ như vậy, liền thẳng cánh giáng cho hai bạt tai. “Ối mèo! Tại sao đánh mẹ nó? Không ăn quen hạt mít thì nó nói không quen chứ sao. Con dâu ơi! Cố mà ăn con ạ. Nhà chỉ còn nửa bồ thóc, không độn, tháng tám đói rã con ơi”. Con dâu lu loa. “Sao không độn sắn, độn khoai có dễ ăn không. Lại độn thứ hạt mít thối này. Sà sã ngoài đồng, đói khát. Về nhìn bát cơm nuốt không nổi”. Mọ Mèo chép miệng. Đúng là khó ăn thật. Hạt mít bở tung, vỏ giấy lẫn vào cơm, bờn bợt đỏ, nhai bã miệng. Nhưng bỏ thì phí. Nhà có năm cây mít, tới mùa mít chín thơm dựng cả vườn. Hạt mít mỗi ngày phơi hàng rổ, giã nát cho gà, cho lợn ăn không xuể, phải độn cơm cho người ăn chứ sao. Sắn, khoai phơi khô, cất vào vại đậy điệm cho kín, để dành quanh năm chả hơn à?
Sắp tới ngày giỗ anh Dại. Làng Nà Rậm có tục gọi tên những người chết trẻ là Dại. Anh Dại, con bé Dại, thằng Dại, chị Dại...Những người dại dột lỡ lìa bỏ cuộc đời, bỏ cha mẹ, anh em mà đi sớm. Anh Dại nhà mọ Mèo chết năm 24 tuổi. Tên thật của anh là Phạm Công Danh, nhưng công danh không có gì, đến lúc chết thân xác còn chả giữ được. Người mẹ sau đó được nhận tấm bằng Tổ quốc ghi công, lồng trong khung kính và mấy chục đồng trợ cấp liệt sĩ hàng tháng. Bà mọ, bằng linh tính của người mẹ, sợ anh Dại đoản thọ. Vì sao? Vì anh tướng gan lì, không sợ bất cứ điều gì. Mười ba năm trước, là năm anh Dại 23 tuổi, khi ra nương nhổ sắn về luộc, anh đạp phải cây chông do chính bố mình cắm phòng trộm. Anh tha cả cây chông và mấy khóm sắn về nhà, lớn tiếng hỏi bố. “Có mấy khóm sắn, việc gì mà phải đánh chông? May là tôi giẫm phải, chứ bầm và thằng út thì làm thế nào?”. Cây chông nứa cắm sâu vào lòng bàn chân, anh không thấy đau, còn giận giữ đạp xuống đất cho mũi chông lồi lên mu bàn chân, miệng hét. “Chông này! Chông này!”. Bà mẹ ngất đi vì sợ.
Anh cả, là bố thằng Cu bây giờ, lúc đó đi bộ đội chống Pháp. Tiện chuyến công tác quân báo, tạt qua nhà. “Chú Danh đâu bầm?”, và vội bát cơm nguội với tép kho, anh hỏi. Bà mẹ tém quết trầu hai bên mép bằng hai ngón tay cái và trỏ. “Ồi dào! Nó đợt này theo ông thầy Lưỡng đi hầu đồng”. Anh cả túm được chú em lúc đang say sưa lắc lư, đầu trùm miếng vải điều. Cây roi dâu to bằng ngón tay quất veo véo ngang lưng, mông đít, làm giá đồng đau điếng. Thánh thăng vội. Chú em chạy một mạch về nhà. Đêm dó hai anh em ngủ chung trên chiếc giường tre kẽo kẹt, chuyện rì rầm đến sáng. Hôm sau, Danh xin phép mẹ, theo anh cả đi kháng chiến. Năm sau, tháng 11 năm Thìn, tham gia trận đánh ở Suối Rút, Hòa Bình, anh Danh hi sinh. Mấy người cùng đơn vị, sau này kể lại với anh Cả. “Cái thằng gan hơn cóc tía. Đạn đum đum nổ loạn mà vẫn ôm súng xông lên. Một quả mọoc- chê nổ ngay trước mặt, còn mỗi hai cẳng chân.
Anh cả giấu mẹ mãi cũng chẳng được. Hôm đơn vị có giấy báo tử gửi về xã, bà lăn lộn, gào thét, cứ réo tên thằng cả ra mà chửi. “ Thằng giời đánh kia! Mày giết con bà. Mày mà về đây thì bà xé xác mày ra nhá. Ối mèo ơi! Giời cao đất dày ơi!”. Xót con thì bà chửi thế, chứ khi anh cả từ Điện Biên về, bị sức ép bom gầy trơ xương, thì bà vội vã ôm quần áo tới ở chung, thuốc thang, cơm cháo cho con. Chín năm trước, bà tưởng người con cả chết đường, chết chợ không bao giờ trở về. Năm Dậu đói xơ xác, người làng Nà Rậm chưa có ai chết đói, nhưng đang ngắc ngoải. Giời thương dân làng nên để núi Voi, núi Chò còn nhiều măng nứa, măng vầu, chuối rừng, củ nâu, củ mài. Còn mấy thứ đó, người ta lay lắt sống. Bỗng một hôm nghe dân làng kêu gào gọi nhau. “Phá kho thóc của quân Nhật dưới ga Cọ rồi. Ối bà con ơi! Đi cướp kho thóc...bà con ơi!”. Những thân hình dặt dẹo, những thây ma sắp đem chôn, những bù nhìn rơm tả tơi, tất cả bừng sống lại, cựa quậy, nhúc nhắc. Một đám rách nát ào ào trên quãng đường tám cây số, ném bụi về phía ga Cọ. Quanh gánh, thúng mủng, bao tải, nón rách, có người đi tay không, ánh mắt chết đói sáng lên xanh lè. Anh cả đang ngồi gọt củ chuối dưới mương nước, đói quá cắt một miếng đưa vào mồm. Chát sít, tơ chuối kéo lằng nhằng hai mép. Thứ này phải thái nhỏ, đem ninh kỹ, cho tí muối vào mới nuốt nổi. Danh ở đâu nhảy bổ tới, hai bắp chân còn lấm bùn.
- Anh cả! Đi cướp thóc đi!
- Thóc ở đâu mà cướp. Nhà ông Xung có mấy bồ thóc đem cứu tế làng rồi.
Danh nháo nhác, giằng cái chậu đồng từ tay anh, cởi áo nâu lót vào lòng chiếc rổ, kiểu lót ổ gà đẻ.
- Giời ơi! Cướp kho thóc của Nhật dưới ga Cọ ý! Cả làng người ta đi ầm ầm, còn ngồi đây mà gọt củ chuối.
Nghe vậy, anh cả ném dao, chạy theo em, mồm chửi với.
- Không gọt củ chuối, trưa lấy con cặc mà ăn à. Đi nhanh lên!
Hôm nay anh chửi hơi tục, vì định nói “lấy cứt mà ăn à”, nhưng đói dài, nửa tháng đi ỉa một lần, muốn ăn cứt cũng không có. Ra đến quốc lộ, mới thấy người ta ở đâu kéo ra nườm nượp, chứ chưa chết hết. Tất cả bàn chân, ánh mắt đều hướng về phía nhà ga. Hai anh em chạy, không dừng lại nghỉ, đau thắt trong ruột. Cứ nhằm theo hướng đám đông mà lao tới, mồm mũi tranh nhau thở. Chưa bao giờ họ thấy nhiều thóc như vậy. Những bao tải lớn ba sọc xanh, mỗi bao cả tạ thóc, chất ngất cao như núi trong dãy nhà kho rộng thênh thang. Không thể nghe rõ tiếng người, chỉ thầy à à tiếng ong vò vẽ vỡ tổ. Bụi mù mịt, những người còn khỏe thì leo lên cao, lật từng bao thóc xuống. Bên dưới lố nhố, đen kịt những bộ xương, cào vơ từng nắm thóc vào nón, vào áo, vào thúng...Hai anh em chọn mãi mới giành giật được nửa bao thóc rách bươm, hì hục kéo ra ngoài sân. Những bao thóc tiếp tục lăn lịch bịch. Dưới chân núi thóc, người ta moi móc thành một hàm ếch khổng lồ. Bỗng vạt núi bên phải ụp xuống, hàng trăm bao thóc trùm lấp lên đám người còng lưng bên dưới, tiếng mấy người phụ nữ kêu thét văng vẳng trong đống bụi sặc sụa. Không ai cứu họ cả. Những thúng, những bao, những mủng thóc được đưa ra ngoài, tản về theo những con đường nhỏ.
Đang sức thanh niên, nhưng hai anh em bị cái đói bào mòn hết sức khỏe. Nửa bao thóc, khéo chỉ còn bốn chục cân mà nặng như hòn đá. Nhổ cái cọc rào tre, để bao thóc lên, hai người khiêng lặc lè.
- Nghỉ đã mày! Anh sắp gãy xương sống rồi.
Bao thóc rơi bịch xuống vệ cỏ. Danh nằm ngửa, đè lên bao thóc. Anh cả ngồi dựa vào gốc cọ già, nham nhở vết cháy. Cánh đồng trước mặt xanh rờn cỏ, lác đác vài thân đay héo còn sót lại, lạnh vắng như nghĩa địa. Cánh đồng này từng bị nhổ lúa lên, trồng đay. Bọn Nhật chẳng biết trồng thứ cây quỷ ấy làm gì. Bây giờ bọn chuột đồng lúc nhúc bò trong cỏ, kêu rinh rích. Có lẽ lâu lắm chúng không được cắn ngập răng vào thân đòng đòng lúa mập mạp, giòn và ngọt. Nhưng bọn chuột không chết đói, vì còn khối thứ chúng có thể ăn được, kể cả thịt người chết. Nửa bao thóc này, đem về xay giã, nấu cháo rau dền, củ chuối được cả tháng. Chú Danh mày sảy cám cho sạch, cất kỹ để dành, lúc đói nấu cháo cũng đỡ. Anh cả đứng lên, vòng ra sau gốc cọ, vạch quần đái.
- Giờ đất ơi! Ai đây?
Anh kéo quần lên vội, nước tiểu ướt một vệt dằng trước. Danh vẫn nhắm mắt, miệng cắn chắt từng hạt thóc.
- Anh nói ai cơ?
Anh Cả không nói gì, kéo Danh lên, ấn đầu cây cọc rào vào tay em. Ra hiệu đi tiếp. Danh quay đầu lại, thắc mắc.
- Anh vừa hỏi ai cơ mà!
- Người chết! Đi nhanh lên!
Danh giật mình vì vừa nhìn thấy một xác đàn bà áo nâu, váy đen nằm sấp sau gốc cọ, nơi hai anh em vừa ngồi. Anh cả nói nhỏ.
- Chết đói đấy! Chắc không bò nổi tới kho thóc.
Trời bắt đầu nắng gắt. Giá có ngụm nước mà uống nhỉ. Đi cố lên, vào trong làng kia xin nước gàu nước. Danh bước đi phăm phăm, trong đầu nghĩ đến gàu nước ngọt lừ múc từ dưới giếng lên.
- Hai thằng kia đứng lại!
Hai anh em nhìn sững. Trong bóng mát bụi tre nhô ra ba thằng rách rưới, trạc tuổi Danh. Thằng đi trước, đầu trọc lóc, nham nhở vết trốc lở. Tay nó lăm lăm viên đạn đồng vàng chóe, chĩa vào hai anh em.
- Bỏ bao thóc lại, không ông bắn chết!
Như vô thức, cả hai buông phịch bao thóc, quay đầu chạy. Đằng sau là những tiếng cười hô hố của ba thằng cướp ngày. Chạy một đoạn khá xa. Anh cả bỗng đứng lại.
- Quay lại! Đòi bao thóc. Đéo bầm nó chứ! Mình thần hồn nát thần tính. Nó có mỗi viên đạn chứ phải khẩu súng đâu mà chạy vãi đái.
Danh cũng ngẩn người, chống nạnh nhổ nước bọt.
- Ừ nhỉ! Tiên sư nó. Em lại tưởng nó cầm súng. Ba thằng ấy, một tay em vật chết.
Khi họ quay lại chỗ cũ, chẳng thấy bóng dáng ba thằng kia đâu. Chỗ bao thóc vứt xuống, còn sót lại mấy hạt vàng mốc, căng mẩy. Anh cả thở dài.
- Chú quay lại xem còn mót được hạt nào không, đem về cho bầm. Tao đi tìm bọn kia, xem chúng nó ở đâu.
- Thôi anh đừng đi một mình, nguy hiểm lắm. Có đi thì hai anh em cùng đi.
- Đã nói về đi! Kệ tao.
Sau rặng tre, vẳng tới tiếng người ồn ào, tiếng hô “đả đảo” vang dội. Thấp thoáng lá cờ đỏ bay lẫn trong rừng cây gậy.
Cả nhà chờ anh cả suốt đêm. Bà mẹ lúc đầu thì chửi con, sau thì lo lắng, bỏ ăn. Ba ngày sau, rồi một tuần không thấy bóng anh. Người làng Nà Rậm coi sự mất tích của anh như việc một người chết đói, bỏ xác ở đâu đó.
Anh cả bỏ trốn theo Việt Minh. Mấy tháng sau, có một người quen đi qua nhà, vào uống nước vối, kể rằng. “Tôi gặp anh Hoành thì phải. Giống lắm! Thấy tập trung đông đông là. Mãi trên Võ lao ấy”. Danh tức tốc đi tìm anh. Luộc một nồi sắn dẻo, gói vào trong mo cau, anh đi bộ suốt đêm thì tới Võ Lao. Người ta chỉ đường vào nơi Vệ quốc đoàn đang huấn luyện. Một cậu trẻ măng như Danh, quần áo nâu buộc túm ống chân, cầm mã tấu đứng gác ngoài lũy tre đầu làng, lên giọng hách dịch:
- Nhà anh kia đi đâu?
- Tôi đi thăm anh trai!
- Ở đây à?
- Vưng!
Thấy mo sắn luộc, cậu ta đòi kiểm tra. Mùi sắn thơm chảy nước bọt. Danh lấy một củ, mời anh chàng.
- Anh tôi là Hoành, người làng Nà Rậm, người thấp đậm, hơi đen...
Anh cả thấy em, mừng quá ôm chặt lấy. Anh cuống lên hỏi thăm chuyện nhà. Bầm thế nào? Tao đi bầm có khóc không? Con Hạnh, con Kiểm có chịu làm giúp bầm việc nhà không? Nhà mình còn gì ăn không?
Anh đen hơn hồi ở nhà. Bộ quần áo nâu từ hôm đi cướp kho thóc vẫn dính trên người, vài chỗ rách được buộc túm lại bằng dây chuối khô. Danh bật cười khi thấy anh cả thắt lưng bằng dây đìu đìu, hai ỗng quần buộc túm lại. Cây gậy tre già vầng óng cầm trên tay.
- Thôi chú về đi! Bảo bầm giữ sức khỏe. Hôm nào xong huấn luyện, tao ghé nhà.
Anh chạy vào hàng người đông đúc. Họ bắt đầu tập đi. Tiếng hô vang: “Một! Hai! Một! Hai! Một! H..ái...hái!”. Những cây gậy tre vác trên vai, đều tắp, những bàn chân trần lấm đất từng bước, từng bước, rầm rập.

Trích tiểu thuyết GÓC LÀNG


.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ TâyNinh ngày 17.5.2014.