Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Phú Quý Đảo Xanh Biển Ngọc






T rước ngày lên tàu ra đảo Phú Quý, tôi có lúc chần chừ khi nghe những lời mô tả về chặng đường biển từ Phan Thiết dài trên 100 km với những con sóng bạc đầu cao 3- 4 mét như muốn phủ lên con tàu. Sợ nhất là cơn say sóng kéo dài với một trạng thái rả rượi gọi là “say bờ”. Xe ô tô đường bộ chỉ chừng tiếng rưởi giờ nhưng ở đây phải mất trên 6 tiếng, đó là mùa biển êm. Biết vậy nhưng trong lòng háo hức về một hòn đảo lớn của quê hương, nghe đến cái tên cũng đủ thấy bao điều kỳ thú. Chuyến tàu tôi đi vào giữa tháng tư âm lịch, thời tiết đẹp, nhưng tại bến cảng Phan Thiết chỉ cách ngày mới có một chuyến với khoảng 250 khách. Gọi là tàu chợ nhưng không phải chỉ có những người sống nghề buôn bán, mà còn có cán bộ, viên chức, bộ đội đi công tác hoặc về lại đảo. Mỗi chuyến tàu là hàng trăm tấn hàng hóa, vật liệu xây dựng, rau quả, gia cầm…cho nhu cầu của gần 30 ngàn dân trên đảo. Trên boong tàu, nắng chiều đang xuống tôi đã thấy hình dáng một con cá thu khổng lồ đang lững lờ xa xa, biết đó là hòn đảo nhưng phải gần một giờ nữa mới đến.

   Đảo Phú Quý chỉ có 3 xã Long Hải, Ngũ Phụng, Tam Thanh rộng khoảng 32 km2. Đảo được bao quanh bởi nhiều bãi cát vàng mềm mại, xen lẫn những doi đất, gành đá và những quãng rừng dương xanh tha thướt để ai cũng nhận ra vẻ đẹp hoang sơ, thơ mộng từ muôn thuở. Trước đây, đảo có nhiều tên gọi khác nhau, dưới triều Nguyễn là đảo Thuận Tĩnh, rồi đảo Cổ Long, Cù lao Thu, Cù lao Khoai Xứ…cách gọi dân gian qua hình tượng thiên nhiên. Từ thời Minh Mạng (1844), đặt tổng Phú Quý thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận. Cho đến thời dưới chế độ Pháp thuộc, Phú Quý vẫn phải tự cung tự cấp vì đối với đất liền là cách xa trùng điệp.
   Theo những di tích khảo cổ và truyền khẩu, cư dân thời kỳ đầu ở hòn đảo này có mặt cùng lúc với quá trình phát triển dân cư ở vùng biển của Bình Thuận. Đó là những nhóm dân lưu tán, lánh nạn từ biến động thời Trịnh –Nguyễn phân tranh giữa thế kỷ 18, một số người Hoa vùng duyên hải Phúc Kiến sau thất bại chống nhà Thanh theo làn sóng vượt biển về nam và những ngư dân gặp nạn rồi trôi dạt vào đây gặp vùng đất trù phú, hiền hòa rồi định cư lập nghiệp. Ngôi mộ Thầy Nại là người Hoa, tài giỏi về phong thủy, được dân đảo cho rằng có từ thế kỷ 16, với nhiều hiện tượng linh ứng, ngư dân tin vào sự phò trợ lúc hiểm nguy. Cũng có truyền thuyết về công chúa Bàn Tranh của vương triều Chămpa bị vua đày ra đảo, khi chết trở thành linh thần của người dân địa phương. Ngôi đền thờ Bàn Tranh hay cách gọi của người Việt là Bà Chúa Xứ xây dựng cuối thế kỷ 15 ở xã Long Hải là di tích lịch sử mang màu sắc văn hóa Việt- Chăm.
   Địa hình trên đảo mang dấu vết của một thời kỳ núi lửa, đất đai chỉ phù hợp với loại khoai sắn, đậu phọng, dừa... Ngọn núi Cấm (xã Long Hải) được coi là cao nhất với 108 mét, thấp hơn là núi Cao Cát, núi Ông Đụn nối tiếp với những động cát cao như bức tường thành của thiên nhiên tạo nên sự bình yên cho xóm làng trước phong ba bão táp. Đứng trên đỉnh núi cao có thể nhìn thấy bao quát một phần đất đai của đảo với nét đẹp hùng vĩ của biển trời để thấy lòng mình thật sự an nhiên “tứ phương vô sự lậu”. Ngoài xa là quần thể 10 hòn đảo lớn nhỏ được khoác một màu xanh cây lá giữa biển ngàn trùng. Đó là các đảo Hòn Hải, Hòn Tranh, Hòn Trứng, Hòn Đỏ, Hòn Mực, Hòn Giữa, Hòn Tro….Mỗi hòn đảo là một kỳ quan bởi những tầng đá xếp chồng lên nhau, những vách đá vuông vức thẳng cạnh trông lạ lẫm như cất dấu sự bí ẩn thần kỳ. Nhiều mũi đá nhô ra biển bên dưới làn nước trong xanh là những bãi san hô lung linh, có thể nhìn thấy đàn cá đủ sắc màu bơi lội tung tăng. Vịnh Triều Dương (xã Ngũ Phụng) có chiều dài bờ biển 2 km có bãi cát trắng mịn màng và rặng dừa xanh rợp mát cũng là điểm đến của khách phương xa có giây phút cảm nhận được cái không khí trong lành, đê mê của một góc trời kỳ diệu.
   Tiềm năng của một ngư trường rộng lớn đã tạo cho Phú Quý một thương hiệu về trữ lượng hải sản phong phú và các loại đặc sản hiếm có khó tìm gặp ở vùng biển trong khu vực. Đời sống xã hội, tập quán, phong tục của ngư dân trong điều kiện lẻ loi, bốn bề là biển cả cho nên rất sâu nặng về một thế giới tâm linh đã gắn bó với cộng đồng từ khi còn là vùng đất mới. Giọng nói của dân đảo rất đặc biệt, cách phát âm nặng hơn giọng người Phú Yên, âm a, ă thành e (làm đọc lèm), từ có dấu đọc thành mất dấu. Tục thờ cúng thần cá Voi rất kiêng trọng, coi đây là vị thần phù hộ cho người đi biển, hiện thân của thần sóng biển Po Riyak của người Chăm và cũng là “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân tôn thần” mà các vua triều Nguyễn sắc phong. Di tích cổ nhất có hai ngôi chùa Linh Quang ở xã Tam Thanh, được dựng từ năm 1747, còn lưu giữ nhiều sắc phong, 3 bộ kinh và tượng Phật quý. Chùa Thạnh Lâm ở xã Ngũ Phụng, có từ đời Cảnh Hưng thứ 1 (1774) với 30 pho tượng Phật có niên đại trên 200 năm. Vạn An Thạnh (xã Tam Thanh), thờ thần Nam Hải tạo dựng năm 1781 được coi như một bảo tàng biển lưu giữ nhiều ngọc cốt cá Voi và bảo tồn được giá trị văn hóa dân gian qua các lễ hội cúng tế truyền thống.
   Đã qua một thời kỳ dài, kể cả dưới thời Pháp thuộc, Cù lao Thu- Phú Quý nằm lẻ loi giữa trùng khơi xa với đất liền. Người dân đảo sống thừa nguồn lợi hải sản nhưng thiếu gạo, thiếu nhiều thứ cho nhu cầu sống bình thường. Nay Phú Quý đã đổi khác nhiều rồi theo sự phát triển chung và là một tiền tiêu của vùng biển tổ quốc Việt Nam.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhTuy ngày 17.5.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn