Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHƯ ÁNG MÂY TRÔI





ĐÔI LỜI TÂM SỰ

Tôi đang bước vào tuổi 67, cái tuổi chưa quá già - mà cũng không còn trẻ nữa! Người ta thường có suy nghĩ, viét “Hồi Ký” là chỉ dành cho người già? Tôi không nghĩ vậy. Viết về đời mình mà cũng quy định “già/trẻ” sao? Điều quan trọng là mình có “thích viết” hay không, có gì cần ôn nhớ lại hay không, và sau cùng là nên “viết như thế nào”? Nếu thấy “thích”, thì hãy cứ viết… Có sao đâu?

Có một người bạn rất thân, đã nói với tôi: “Thời đại ngày nay - trong xã hội luôn quý trọng phương tiện khoa học kỹ thuật làm nền tảng cho đời sống, người ta đánh giá sự thành đạt, vinh hiển, đáng nhớ, là ở sự giàu sang, danh vọng! Kẻ không giàu có, là “phó thường dân hạng bét” (chữ của nhà thơ Trần Huiền Ân), lại nghèo nữa, thì được xem là kẻ bất tài, kém cỏi; sẽ chẳng được ai nể trọng cả, nếu không muốn nói là sẽ bị khinh rẻ, thấm chí xa lánh; thì viết Hồi Ký để làm gì, ai thèm dọc?”

Cũng có bạn bảo: “Viết Hòi Ký chỉ để dành cho danh nhân, thiên tài (vvv), chứ “vô danh tiểu tốt” như ta, thì viết làm chi?”

Lại một người bạn thân thiết nữa góp ý: “Viết hồi ký, là viết về “mình”, về “cái ta” (cái “ngã” đáng ghét), sao tránh khỏi chủ quan, sao tránh được lời người cho là mình tự “tô hồng” cho cá nhân, tự đề cao, tự mãn (và rất nhiều cái “tự” khó ưa khác)?”

Chỉ vừa mới nhắc qua ba nhận xét “đơn giản” thôi, tôi cảm thấy (và tự xét), mình là người không đủ “điều kiện”, và khả năng viết Hồi Ký theo “quan điểm”… thông thường ấy được rồi!

Lời người đời là vậy, nhưng tôi lại có cái nghĩ riêng cho mình, để làm việc tôi “thích”: Tôi viết cho những giờ phút cô dộc, phiền muộn đã và dang bước qua đời sống tôi, một cách trống rổng, vô vị; để chia sẻ “đôi điều” đã trải nghiệm, cùng người thân, bạn bè! Tôi xem từng trang viết là một “phút thư giãn”, để an ủi và xoa dịu cuộc sống tôi, như bao “trò chơi” khác mà con người đang ham thích như mê làm giàu, ham danh vọng, chơi cây kiểng, đá gà, cờ tướng (vvv). Chỉ giản dị có vậy thôi.

Từ rất lâu, tôi có suy nghĩ: Đời người là một chuỗi dài nhân duyên huyền vi, linh hoạt, biến chuyển không ngừng, mãi cho đến ngày kết thúc (và lại tiếp tục…). Duyên khởt trùng trùng, nhưng không vô tình, mà chính là do duyên nghiệp mầu nhiệm kết tụ. Nếu không là bậc cao tăng đắc đạo, thì không có ai có thể “nghĩ bàn” (hay biết trước) về dòng nhân duyên từng sát-na ngày đêm trôi chảy qua đời mình…

Có lẽ mỗi người là một chiếc lá trên dòng nước cuộc đời chảy xiết, một áng mây lửng lơ trên nền cao vời vợi của cõi trầm luân, không hẹn trước sẽ tấp vào bến bờ ghềnh thác nào, hay sẽ tan rã giữa xanh thẳm vô biên cõi tạm nào!

Ở gần vào tuổi “xưa nay hiếm”, tôi lại cảm thấy dòng thời gian trôi qua đời mình chậm - rất chậm! Thời gian không ồ ạt cuồn cuộn như thuở thanh xuân; cũng không rộn ràng, réo gọi như thời trung niên năm mươi nữa; mà dòng thời gian tháng năm gần cuối đời như ngày càng lơ lửng, nhẹ nhàng, chậm chạp hơn!

Trong cái “lắng đọng” của thời gian ở tuổi gần 70, đã trải qua bao thăng trầm lận đận, tôi chợt nhận ra cuộc đời tôi đã từng có bao “duyên lành” linh nhiệm dẫn dắt, che chở, và đưa tôi từng bước đi vào đời cho đến hôm nay (và cả mai sau): Tôi muốn ôn nhớ lại, ghi lại - cho dù chưa thật trọn vẹn, bởi thời gian trải dài trên mấy chục năm lận đận, trí nhớ cũng dần hao mòn vì bao nỗi khổ phải lo toan, phải đối diện thường trực với những biến cố thúc giục hằng ngày, và nhiều lý do “nhạy cảm” khác…

Bởi vậy, tôi đã tự dặn mình khi đặt bút viết những dòng đầu tiên: “Hãy viết với tấm lòng thành, với sự trong sáng vô cầu, với ước mong nhỏ nhoi là chia sẻ đôi chút tâm tình của mình, cho người đọc trong những giờ phút được thư thả, cho vui!”

Và tôi nghĩ tiếp: “Rồi thời gian sẽ cứ thản nhiên trôi qua, cuộc đời cứ lần bước vào bóng tối của sự hủy diệt; tất cả chỉ là một hồi kịch, một trang tiểu thuyết, mà mình đã từng là một “nhân vật”, hay một diễn viên - không hơn!”

Tóm lại, tôi viết “Như Áng Mây Trôi” - tập hồi ký ngắn ngủi nầy, là cốt ghi nhận vài biến đổi không bao giờ quên, những kỷ niệm một thời đau buồn hay hạnh phúc, đôi chặng đời thăng trầm mà tôi đã phải trải qua; để “tiêu xài” những giờ phút được nhàn rỗi, khi “ngồi mà nhớ lại” - mong tự an ủi mình, tự vui với những hoài niệm; tuyệt nhiên không có tham vọng mong cầu gì lớn lao khác! Có thể tập Hồi Ký nầy, sẽ cùng theo tôi về với lòng đất một ngày nào?

Và cũng có thể, nếu “đủ duyên”- nó sẽ đến tay bạn, như một lần ghé thăm…

Xin có đôi lời “thưa gởi”- rất mong sẽ được tất cả hỷ xả cho những thiếu sót, những “chủ quan” (chứ không phải tự mãn, không thể tránh hết, dầu đã rất hạn chế, cẩn trọng!) đã chân thành (và vô tình) được nhắc kể. ở đây!

Trân trọng cám ơn!

Quê nhà, ngày Mồng 1, tháng Ba, Canh Dần
        (ngày 14 tháng 4 năm 2010)


         Huệ Thành
         MANG VIÊN LONG

IX

Ở CHÙA

Vào gần cuối đông năm 1993, tôi lại ra đi, vào Tuy Hòa, nhưng lần nầy tôi quyết định tìm đến chùa Phi Lai để thăm Thầy Thích Thiện Đạo vì đã sau gần hai mươi năm tôi chưa được gặp lại Thầy. Trước khi vào Tuy Hòa, tôi ghé thăm anh Huỳnh Trung Khuê ở thôn Phong Thạnh, thị trấn Tuy Phước - người  đồng nghiệp thàng hậu, có tâm đạo; vì đã nhiều lần hẹn mà chưa thể ghé thăm. Anh Khuê đã nghỉ dạy, trồng hoa Sói, hoa Ngâu trong mảnh vườn rộng, chế biến trà gói, mang “bỏ sỉ” hoa và trà cho các hàng quán ở chợ Tuy Phước và Binh Định. Anh tiếp tôi với những ấm trà thơm ngát mùi hoa Sói, với chai rượu thuốc để dành, và bữa cơm chiều tương rau cùng vợ chồng anh, rất chân tình. Buổi sáng, trước khi rời gia đình anh, vợ anh đã “đãi” tôi một bữa bánh xèo tôm thịt, rất hấp dẫn! Chị còn “bỏ túi” tôi hai chục ngàn đồng làm lộ phí nữa, tuy gia đình anh đang rất khó khăn vì con cháu… Tôi cảm thấy mình đang “mắc nợ” gia đình anh nhiều lắm – nhất là tấm chân tình mà cả hai vợ chồng anh đã dành cho tôi như một người thân ruột thịt!

Tôi ghé Tuy Hòa sau cơn bão và lụt lớn từ nhiều chục năm, chỉ vài ngày. Dường như cơn bão lụt lớn vừa qua đã “thổi bay” tôi đến Tuy Hòa?
Thị xã còn ướt sũng, dường sá nhiều nơi lởm chởm, trũng nước. Sự giá buốt và lạc lõng sau cơn bão lụt còn hiện rõ trên các nẻo phố chợ và trên những gương mặt lạnh lẽo, nhẫn nại. Tôi đến thăm gia đình anh Trần Huiền Ân trước tiên như mọi lần vào Tuy Hòa, và đề nghị: “Sáng nay anh em mình lên Hòa Thịnh, đến chùa Phi Lai thăm Thầy Thiện Đạo, được không anh?” Anh vui vẻ: “Lâu nay tôi cũng ít có dịp gặp Thầy, anh muốn đi thì anh em mình đi!”.
Tôi vội xuống nhà chị Lê Tăng Mính ở đường Hoàng Diệu mượn tạm chiếc xe Honda làm phương tiện di chuyển. Chị cho tôi mượn chiếc Honda Dream mới tinh, còn chạy rô-đa của cậu con trai út, mới mua về giáp tuần.
Chùa Phi Lai ở mãi thôn Hòa Mỹ, xã Hòa Thịnh – cách Tuy Hòa hơn ba mươi cây số, về phía dãy núi Tây- Nam thị xã.
Chúng tôi lên đường ngay trong buổi sáng. Trời cuối Đông, tuy những cơn mưa lớn không còn, nhưng cơn lụt lớn nhất trong vòng mấy mươi năm cũng chỉ vừa rút khỏi khoảng một tuần lễ; nên con đường rẽ từ ngã ba Phú Lâm lên Hòa Thịnh bị xói lở, lồi lõm, có đoạn bị nước chảy tràn xói lở, đứt quãng, rất khó đi. Cảnh vật làng quê hai bên đường còn in rõ nét tiêu điều, rét mướt.
Con đường từ phía bên kia cầu dẫn vào xã Hòa Thịnh mới thật là lầy lội, hiểm trở. Vì là đường đất, lại bị lụt chảy xiết xói mòn, nên có vài nơi dòng nước cắt ngang; chúng tôi phải xuống xe, cùng nhau đẩy qua trũng nước sâu khá dài. Vừa ngập nước, vừa lầy lội.
Sau vài lần xe bị trơn trợt suýt ngã xuống ruộng, anh Trần đề nghị để anh lội bộ theo sau cho chắc ăn! Tôi lái xe đi rất chậm, cố vượt qua các vũng lầy, nhưng xe luôn chao đảo. Lúc này, tôi mới thấy lội bộ như anh Trần (và nhiều người) là khỏe hơn ngồi trên xe. Ngồi trên xe cố vượt qua chặng đường nhầy nhụa này, không biết sẽ ngã lăn xuống ruộng lúc nào! Rất khổ.
Hơn hai giờ lặn lội, chúng tôi đã tiến khá sâu vào xã, gần đến quãng chợ. Nhưng con đường mỗi lúc một gay go hơn; có nhiều đoạn đường bị đứt. Nước chảy ào ào. Phải khiêng xe qua.
Quá mệt, tôi dừng lại bên một mô đất cao, tìm một điếu thuốc châm lửa hút, chờ anh Trần đến gần. Tôi nhìn anh, áy náy hỏi:
-        Bây giờ anh liệu thế nào?
Anh cười cười:
-        Tùy ông thôi! - Anh nói tiếp, tôi vừa hỏi thăm, chùa Phi Lai cũng gần đến rồi..
-        Vậy thì chúng ta quyết định tiến lên nhé?
-        Dĩ nhiên là phải tiến lên, không thể lùi…
Sau bao vất vả, khó khăn, chúng tôi cũng cho xe chạy vào cổng chùa Phi Lai vào lúc gần 12 giờ trưa! Chùa vắng. Người sa di ni từ phía nhà bếp bước lên chào hỏi. Được biết Thầy đã thọ trai, và đang nghỉ nơi phòng riêng bên chánh điện. Các cô chú đi đắp đường.
Thầy rất đỗi ngạc nhiên và hoan hỉ khi thấy sự có mặt của hai chúng tôi - nhất là tôi, đã xa gần 18 năm; sau cơn lụt lớn như vậy.
Hai ly trà sâm có chút đường để gọi là “lấy lại sức” sau mấy giờ vật lộn với con đường, với chiếc xe, của Thầy mời, quả thật đã làm dịu đi cơn mệt lã (và đói) của tôi và anh Trần. Áo quần của hai chúng tôi dính đầy bùn.
Thầy chỉ tay vào vách chùa:
-        Lụt vừa rồi nước dâng lên đến từng ấy - gần một phần ba vách – lo di chuyển, thu dọn… rất là mệt!
Thầy nói tiếp:
-        Tôi cũng vừa tham gia đoàn cứu trợ ở xã mới về…
Tôi lo ngại hỏi:
-        Các đoàn cứu trợ có vào tận nơi này sao, thưa thầy?
Thầy cười:
-        Toán nào chịu khó, quyết tâm thì vào, còn hầu hết chỉ đi dọc quốc lộ…
Anh Trần góp :
-        Vậy thì bà con ở vùng xa, sâu, có thể bị thiệt thòi…
-        Dĩ nhiên là như vậy rồi! Thầy cười  - Ở vùng sâu thì cái gì cũng thiệt thòi cả!
Chúng tôi được một bữa ăn trưa thật ngon lành, dầu chỉ với món “canh mì ăn liền” và một chén nước tương, dĩa rau lang luộc. Thầy ngồi ở bàn tiếp khách, vừa nhấm chút trà nóng, vừa hỏi thăm tình hình sinh hoạt của tôi và gia đình. Tôi cũng đã mang hết tâm sự u buồn, phiền lụy của mình kể lại với Thầy - như với người thân yêu lâu ngày được gặp lại.
Thầy an ủi:
-        Rồi tất cả cũng sẽ đi qua, anh nên giữ tâm thật yên tịnh! Đã nói đời là khổ, thì có muôn vàn nỗi khổ, lo khác nhau; anh hơi đâu mà dính mắc vào đó cho thêm mệt ? Cứ an nhiên mà sống với hiện tại…
Sau một giấc ngủ trưa nơi chiếc phản kê gần cửa sổ nhà khách, chúng tôi nghĩ tới chuyến trở về. Giấc ngủ êm ái, ngon lành giữa trưa cuối đông se lạnh, yên vắng, đã làm cho tôi cảm thấy vô cùng khỏe khoắn, hưng phấn. Tôi bắt đầu nghĩ đến ước mơ xưa cũ nơi một gian tịnh thất khuất vắng sau lũy tre, những buổi tham cứu kinh sách, những tối ngồi thiền tự tại, an lạc… Tôi nói ý định với Thầy:
-        Thầy cho phép tôi được nương tựa nơi Phi Lai một thời gian được chăng?
Thầy lại cười:
-        Sẵn sàng! Cửa chùa luôn mở rộng, chỉ ngại rằng anh chưa đủ duyên mà thôi! Điều gì đến, nó sẽ đến anh à!
Lúc chúng tôi chào Thầy, từ biệt Phi Lai trở lại thị xã, thì các cô chú lớn đi tham gia sửa chữa đường ở thôn vừa trở về… Nhìn họ nói cười vui vẻ, hồn nhiên, tôi thật thèm khát. Dường như ở đây không có bóng dáng của sự phiền muộn, khổ đau, toan tính…
Từ ấy, hình như năm nào tôi cũng đã “có dịp” tìm về Phi Lai đôi ba lần. Có năm tôi ở lại cả hai ba tháng, coi Phi Lai là “chốn xưa” của mình. Được sống trong niềm cảm thông bao dung của Thầy, trong sự chia sẻ thân thiết của các cô chú, và nhất là trong cái không gian yên vắng, tươi mát, rạng rỡ của Phi Lai - tôi luôn cảm thấy an lạc, tinh tấn trên bước đường tìm về với Đạo…
Tuy được Thầy cho phép được sống tự do theo sinh hoạt riêng, nhưng tôi luôn hòa đồng, gần gũi, chia xẻ mọi việc với các cô chú. Tôi tha hồ đọc kinh sách đọc báo; tha hồ viết; tha hồ đi dạo quanh vùng để thăm viếng các đạo hữu… Khi công việc đọc và viết có phần căng thẳng, tôi theo các cô chú đi làm cỏ đậu cả ngày; đi tưới nước, thăm ruộng, bổ củi, phơi lúa, tưới cây, đắp đường, quét dọn quanh chùa… Công việc đã làm cho cuộc sống có thêm ý nghĩa, có thêm hiểu biết, có thêm niềm vui…
Tôi rất sung sướng được tham gia vào các thời Kinh công phu 2 buổi sớm tối. Tôi nhiệt tình dạy thêm Ngoại Ngữ và Việt Văn cho các cô chú đang chuẩn bị ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học cơ sở. Để có thể góp phần nhỏ vào sinh hoạt cần có của Phi Lai, tôi mở lớp dạy Anh Văn cho các con em quý đạo hữu đang học ở trường phổ thông trong xã… Tôi ao ước có thêm việc để vừa làm, vừa học, đem lại niềm vui cho người, cho mình. Có lúc Thầy phải xa chùa vì Phật sự đôi ba ngày, hay mươi bữa, nửa tháng; Thầy đã nói vui: “Tôi giao chùa cho ông, thay tôi “trụ trì” nhé!”
Thời gian về sau, mỗi lần tôi trở về Phi Lai - dầu chỉ một ngày - bao giờ tâm tôi cũng an lạc, hoan hỷ… Tôi nghĩ là tôi có duyên với Phi Lai từ nhiều kiếp trước; do vậy, tôi cho Phi Lai là “quê nhà, chốn cũ” mà tôi luôn phải tìm về.
Thầy Thiện Đạo đang là Trưởng Ban Hoằng Pháp của Giáo Hội Phật giáo Phú Yên, nên sách báo Phật giáo rất nhiều; tôi đã rất hạnh phúc khi được tiếp nhận giáo lý Phật giáo uyên thâm mầu nhiệm hằng ngày. Thầy cho phép tôi được tự do mở các tủ sách ở chùa, tùy ý đọc. Một hôm, trao cho tôi tờ bán nguyệt san Giác Ngộ, Thầy nói: “Ông đọc, rồi viết bàì cọng tác cho vui đi!” Nhờ sự khích lệ của Thầy, tôi đã bắt đầu viết đôi bài tạp bút, tiểu luận, và thơ - gởi cho báo Giác Ngộ. Viết cho GN thuở ấy với tôi, là một cách để tự học, và tự tu tập, tự an ủi mình! Các bài tôi nhờ đạo hữu gởi đi, không ngờ, đã được GN đăng tải- không bỏ bài nào!
Thời gian ở chùa, và sống nơi nầy chốn nọ ở Tuy Hòa, tôi đã có thời gian “tạm trú” ở nhà chị Lê Tăng Mính - các con chị đã xem tôi như người chú ruột thịt, vì khi còn dạy học ở trường Nguyễn Huệ, tôi đã ăn ở trong gia đình anh chị mấy năm; các cháu cởi mở, thân thiết, sẵn sàng chia sẻ với tôi mọi điều! Có lúc, tôi ghé lại, sống cả tháng ở căn nhà lầu rộng lớn bỏ trống của anh Phan Tiên Hương dọc quốc lộ. vì gia đình anh vừa dời về căn nhà mới ở bờ biển để kinh doanh. Anh dành cho tôi một căn phòng thoáng mắt trên lầu, cửa sổ mở ra con đường sắt phía sau, hằng ngày nghe tiếng còi tàu ra vào ga Tuy Hòa, tha hồ dọc Kinh, tha hồ viết khi thích! Thời gian gần một tháng “trụ trì” ở nhà anh Hương, hằng ngày tôi trì đọc hai quyển kinh mang theo là kinh Kim Cang, rồi biên chép Bát Nhã Tâm Kinh thành nhiều bản.  Để giúp tôi dễ dàng trong việc đi lại, anh còn giao cho tôi chiếc xe đạp mới, ngày hai lần đạp xe xuống phố, ghé quán cơm chay của chùa Bảo Tịnh, hay đi vòng vòng đâu đó trong thị xã, thăm bạn bè. Rồi tà tà về nhà!
Một hôm anh Hoàng Văn Trí - bạn đồng nghiệp lúc dạy ở Nguyễn Huệ, đang là Chánh thư ký cho Giáo hội PG Phú Yên, tìm đến nhà anh Hương thăm tôi. Gần trưa, anh nói: “Mời anh đi ăn bữa cơm chay với tôi” – “Ở chùa nào vậy anh?” - Anh cười hiền: “Ở ngôi chùa nhỏ thôi!” Tôi đạp xe theo anh, và “ngôi chùa nhỏ’ ấy, chính là nhà của anh sâu trong con hẻm đường Lê Lợi. Ngôi nhà cấp bốn nhưng rộng rãi, thoáng sạch, ngăn nắp, yên tịnh vô cùng. Giữa nhà, là bàn thờ Phật trang nghiêm, sáng rực ánh đèn. Và hoa kiểng, và tủ kinh sách, và bàn làm việc, và tấm lòng nhân hậu, quý khách của vợ chồng anh - đã khiến cho tôi vô cùng hạnh phúc! Tôi đã có một bữa cơm chay, có thể nói, rất đầy đủ, thịnh soạn. Trước khi tôi ra về, anh Trí đã tặng cho tôi tập sách mỏng, được xuất bản từ năm 1958; đó là tập “Luận Tối Thương Thừa” của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, mà anh đã gìn giữ hằng mấy chục năm... Được cho ăn ngon, được tặng sách quý - tôi cảm thấy đời tôi cũng đã có nhìều “duyên lành”, bên cạnh những bất hạnh, khổ đau…
Về sau, dầu ở đâu, đi đến nơi đâu, tôi vẫn thường gởi bài về cho GN, nhận được thư động viên của Cư sĩ Tống Hồ Cầm (nhà thơ Tống Anh Nghị, Phó tổng biên tập GN & Phó hiệu  trưởng học viện PG tại Tp HCM). Tôi trở thành cọng tác viên thường xuyên của GN trong nhiều năm, được quý Thầy Thích Trí Quảng, Thích Giác Toàn (nhà thơ Trần Quê Hương), Thích Thiện Bảo, Thích Tâm Hải (…) chia sẻ, góp ý chân tình! Khi GN quyết định chuyển bán nguyệt san thành tuần báo, Cư sĩ Tống Hồ Cầm đã hai lần viết thư đề nghị tôi vào làm việc ở tòa soạn, ông sẽ lo cho chỗ ăn ở tại một ngôi chùa gần, lo cho các sinh hoạt thường nhật ở Saigon. Trước tấm lòng ưu ái của Ông, tôi chỉ biết cám ơn, bởi tôi đã biết “duyên nghiệp” của tôi đang còn rất nặng! Chưa có thể ở yên lành một chố nào, dầu tôi rất ao ước được như vậy!
Tháng giêng năm 1998, trở lại Phi Lai, tôi có viết được mấy đoạn thơ gởi tặng Thầy Thiện Đạo và các cô chú ở Phi Lai như sau:
 
Chốn cũ ngàn năm vẫn nhớ hoài,
Ngàn năm duyên bước đến Phi Lai…
Dấu xưa in rõ phương trời ấy,
Muôn dặm quan hà đâu dễ phai?
 
Xuân ấy, phong trần mỏi cánh chim…
Còn đâu tổ ấm – mãi bay tìm?
Còn đâu mơ ước thêm dôi cánh,
Khuất nẻo đường xa chỉ bóng đêm!
 
Từ dạo êm đềm vui tiếng kinh,
Phi Lai mở sáng ánh bình minh…
Chỉ trong giây phút xua đêm tối,
“Pháp Bảo Đàn Kinh” rõ bóng mình!
 
Ngày ấy, xuân này – cách mấy xuân?
Cõi riêng xuân ngát biết bao tình!
Phi Lai chốn cũ bao duyên trước,
Giờ vẫn còn nguyên vẹn bóng hình.”
 
Sau tuần báo Giác Ngộ, tôi được mời cọng tác thường xuyên cho tập san Vô Ưu (GHPG Daklak), tập san Pháp Luân (Tp HCM), Hương Từ Bi (GHPG Daknong), Hoa Từ (GHPG Bình Thuận), Văn Hóa Phật Gíao (…) với ước mong được góp chút tâm thành, cho sự  nghiệp hoằng dương Chánh pháp mà đời mình đã được ân huệ, duyên lành đón nhận…

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 17.5.2014.