Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
Cố thi sĩ Yến Lan






Tản Mạn về Bàn Thành Tứ Hữu






Chương trình Ai là triệu phú cuối tháng 11-2013, trên VTV3, có câu hỏi về một thành viên của nhóm thơ nổi tiếng ở miền đất võ nhưng lắm duyên với thơ văn của Bình Định - Tứ Linh. Hy vọng rằng, qua bài viết này, có thể giúp cho, nhất là lớp trẻ hiểu thêm về họ.

Thành Đồ Bàn còn gọi là thành cổ - Chà Bàn; thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, cách thành phố Qui Nhơn 27 km về hướng tây bắc. Tại Đồ Bàn, một nhóm thơ được hình thành bởi bốn thi hữu mà giới văn học hay nhắc đến. Là nhóm thơ đã phát sinh và tồn tại trên đất Bình Định từ năm 1936 cho đến 1945. Khởi đầu, ở Bình Định có hai đôi bạn.

- Đôi thứ nhất gồm Quách Tấn và Hàn Mặc Tử.

Theo lời kể của Quách Tiên sinh, thì vào năm 1931, ông 21 tuổi, còn Hàn Mặc Tử 19 tuổi, khi đọc được những vần thơ Đường luật, ký tên P.T trên báo, ông rất ngưỡng mộ, nên đã nhờ bạn tìm giúp–người tên PT là ai mà thơ hay quá vậy.

Hôm đó, ông bạn đang ngồi chờ đến lượt mình vào khám bệnh, tại bệnh viện Đa khoa Qui Nhơn thì nghe mấy cậu thanh niên gần đó bàn về thơ phú. Ông liền quá giang câu hỏi: “ không biết cái tay nhà thơ PT nào đó đã làm thơ quá hay để cho lão Quách Tấn hành hạ mình, bắt tìm cho ra anh chàng này; mãi mà mình ko biết tìm ở đâu? Tức thì một chàng trai gầy gò, da hơi tái, đứng lên, bẽn lẽn thưa: Dạ PT là em, là Phong Trần anh ạ. Thế là bác Quách Tấn biết. Và sau đó gặp nhau.

Năm 1945, chiến tranh xảy, Quách Tấn từ Nha Trang đưa gia đình về lại Bình Định. Đến năm 1954, ông lại đưa gia đình trở về ngôi nhà cũ; nhưng tất cả sản nghiệp và sách vở đều bị mất sạch. Than ôi! tất cả những gì Hàn trao gửi cho Quách Tấn kể cả trên 5 - 600 bức thư của Hàn gửi cho Quách Tấn suốt 10 năm thân thiết cũng không cánh mà bay!..

Suốt bao năm sau, Quách Tấn ròng rã kiếm tìm những bài thơ lưu lạc của Hàn; nghe nơi đâu có là ông tới tận nơi xin lại; dần lâu “châu cũng lần lượt về hợp phố”. Năm 1987, tuyển tập Thơ Hàn Mặc Tử ra đời, Chế Lan Viên đề tựa, Quách Tấn giới thiệu. Thế là, một lời hứa, một ý nguyện đối với vong hồn bạn phải 45 năm sau mới thực hiện được! Dù muộn, nhưng thật chí tình, son sắt và trọn vẹn..." (Hương thơm & mật đắng, tr.46-53.)

- Đôi thứ hai gồm Yến Lan và Chế Lan Viên.

Theo Yến Lan thì ông lớn hơn Chế Lan Viên 3 tuổi và học trên Chế ba lớp. Lúc học ở Trường Tiểu học Pháp Việt ở thị trấn Bình Định, tôi và Chế Lan Viên rất mê báo Phong hóa. Hai đứa bàn nhau làm báo. Bọn tôi mua thạch xoa về, khắc chữ lên rồi in ra giấy, bắt chước kiểu cách của báo Phong Hóa. Mỗi lần in 15 bản, bán cho bạn bè trong lớp. Tiền lời kiếm được dùng mua thạch xoa, tiếp tục in. Được một thời gian bọn tôi bị Hiệu trưởng bắt phạt quì, rồi cấm luôn “tờ báo”! Chiều chiều, tôi và Chế thường bá vai nhau lên cửa Đông Thành Bình Định ngắm cảnh, bàn chuyện văn chương thi phú. Hai đứa đều trăn trở với dân Chàm, tháp Chàm, nên bàn nhau viết “cái gì đó”. Thời gian này, Chế cho ra đời tập “Điêu tàn” nổi tiếng. Còn tôi tập “Giếng loạn” gồm 28 bài thơ, viết về kiếp đời của các Chiêm nương, nhưng tiếc thay chưa kịp công bố thì bị thất lạc

- Năm 1936, Hàn Mặc Tử từ giả nghề báo ở Sài Gòn về Qui Nhơn, gặp Chế Lan Viên. Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên quen nhau khi Chế 16 tuổi và Hàn 24 tuổi. Chế thường mang thơ của mình cho Hàn góp ý. Có bài thơ mới, Hàn lại đọc cho Chế nghe. Vốn thông minh và có khiếu văn chương từ nhỏ, nên những bài thơ của Chế đã làm nhiều người yêu thơ kinh ngạc vì giọng thơ già dặn và u buồn trước tuổi của một học sinh đệ tam. Với sự khuyến khích của Hàn, Chế đã hoàn thành bản thảo tập "Điêu tàn" và xuất bản năm 1937.

- Còn Yến Lan và Hàn Mặc Tử gặp nhau thật đặc biệt. Bài viết “Những kỷ niệm với Hàn Mặc Tử”, Yến Lan kể :

- Một sáng chủ nhật, khoảng giữa năm 1930, tôi đang chép lại bài thơ mới làm hôm qua, thì nghe tiếng gọi ngoài cổng chính. Tôi nghĩ: chắc là có khách lạ muốn đến thăm đền (vì người quen tất phải biết ngõ phụ luôn mở rộng ở phía Bắc của góc tường thành) Tôi bước ra, nghe tiếng của hai trang nam tử. Biết là người xa đến vãn cảnh, tôi chào, rồi chỉ hướng cho họ vào đền. Khách mặc âu phục sang trọng: Một, hơi lớn tuổi, nói giọng Bắc, rất chỉnh tề trong bộ Tropical, một là thanh niên mặc nguyên bộ tơ De-ligaon, đội mũ Panama. Đang đi, người trẻ tuổi bỗng ngoặc sang phải, lối hàng rào chè, rẽ sang một góc sân. Ở đó có cây lựu lớn đang nở hoa đỏ rực. Anh níu bẻ một nụ rồi tặng cho người bạn đồng hành, miệng đọc câu Kiều:

Ngoài hiên quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lè đơm bông

Rõ ràng là những vị khách thuộc loại hào hoa, ít gặp ở đây. Vừa lúc ấy cha tôi bước ra, hướng dẫn họ đến bên tấm bia đá và mở cửa mời vào chính điện. Tôi trở lại tràng kỷ, làm tiếp công việc bỏ dở. Được một chốc hai người đi xuống.

Cha tôi đưa họ vào nghĩa tự, mời ngồi trên tràng kỷ và đưa mắt bảo tôi xuống nhà lấy bộ bình trà bằng sứ chuyên dùng tiếp khách quí. Có lẽ tờ giấy mà tôi còn bỏ ngỏ trên bàn có những dòng chữ và cách trình bày giống dạng một bài thơ đã làm cho người trẻ tuổi chú ý. Anh hỏi tôi:

-Cậu đang chép thơ à? Tôi bẽn lẽn gật đầu:- Dạ, vâng.

-Thơ của bác hay thơ của cậu đấy?

-Dạ thơ của tôi. Im lặng một chốc, anh lại hỏi:- Cậu làm thơ lâu chưa? Đã đăng ở đâu chưa?

- Tôi mới võ vẽ, cũng có bài được đăng báo.

- Cậu lấy bút danh là gì?

- Tôi ký Xuân Khai. Người trẻ tuổi vui hẳn lên, anh cười:- Vậy tôi với cậu là đồng nghiệp với nhau. Xin tự giới thiệu, tôi là Phong Trần, là Hàn Mặc Tử. Anh quay sang người trung niên, vẻ quí trọng:- Vị này là nhà văn, tác giả “Kép Tư Bền”, tập truyện ngắn vừa mới xuất bản đang được cả nước hoan nghênh. Tôi thốt lên một tiếng “À” vui vẻ:- Hóa ra ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã đọc và đã biết nhiều về ông, nhất là trong cuộc bút chiến với báo Phong Hóa, Ngày Nay về tập chuyện dài “Lá ngọc cành vàng “của ông

Lúc ấy nhà văn Nguyễn Công Hoan như tự nhiên có thêm những cảm xúc không ngờ. Ông nhìn tôi một cách triều mến.

Hàn Mặc Tử thì gật đầu thích thú, anh tiếp lời:- Nhân đây ông làm một cuộc viễn du từ Bắc vào Nam để tạ lòng ủng hộ của tác giả mà mình hâm mộ. Hôm nay tôi đưa ông lên thăm một vài cảnh đẹp ở đây, rồi sẽ lên Phú Phong, mảnh đất lịch sử của quê ta. Nhân dịp này ta làm quen với nhau vậy. Tôi đang sống với gia đình tại 20 đường Khải Định-Qui Nhơn.

Có đi Qui Nhơn mời cậu ghé chơi, chúng ta là đồng nghiệp với nhau mà.

Chúng tôi gắn bó với nhau từ buổi ấy. Tôi kể chuyện này với Chế. Chế cho biết đã quen với Tử rồi và cũng muốn có dịp nào đó sẽ giới thiệu tôi với anh.

Trong quá trình giao lưu thi phú, Hàn Mặc Tử nhận thấy cần phải qui tụ bốn người thành một nhóm thơ để học hỏi và giúp nhau trên con đường sáng tạo. Từ khi nhóm thơ được hình thành, Hàn Mặc Tử như chất keo gắn kết mối quan hệ điều hoà tâm đạo bằng hữu các thi hữu trong nhóm với nhau như một khối hình .

Nhà nghiên cứu văn học ở Bình Định đương thời, chơi thân với nhóm thơ tên Trần Thống (tức Trần Kiên Mỹ) hết lời ngợi ca tình bạn của họ trong bài nói chuyện "Bình Định lắm duyên với thi sĩ". Ông đã dùng hình tượng tứ linh để ví với "Bàn thành tứ hữu". Trong đó, long là Hàn Mặc Tử, lân là Yến Lan, qui là Quách Tấn và phụng là Chế Lan Viên. Tuy ví von cho vui nhưng khá phù hợp với tính cách từng người trong nhóm. Lạ một điều, khi còn Hàn Mặc Tử, nhóm thơ giao du rất rộng, nhưng không mở rộng thêm, nghĩa là trước sau chỉ có bốn người". Nhóm thơ Bình Định hình thành từ những tâm hồn thơ còn rất trẻ, có người chưa đến tuổi hai mươi, họ tình nguyện đến với nhau bằng tình thân hữu ái, không tuyên ngôn, tuyên thệ, không khua chiên gõ trống nhưng đã kết thành một sức mạnh máu thịt để rồi những tinh túy của thơ ca bắt đầu tỏa sáng trên nền thơ ca của dân tộc.

Trong ngần ấy năm tồn tại (1936-1945), "Bàn thành tứ hữu" lần lượt cho ra đời nhiều thi phẩm có giá trị, gây được nhiều tiếng vang, như "Thơ Điên, Điêu tàn, Mùa cổ điển, Bến Mi Lăng v.v...Tất cả đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền văn học dân tộc.

Bàn Thành Tứ Hữu ra đời là một sự kiện nổi bật thời bấy giờ. Sự xuất hiện của nhóm tác động đến tầm nhìn của giới văn chương cả nước đối với đất võ Bình Định ; người yêu thơ tán thưởng trong niềm yêu mến, đồng cảm và được sự quan tâm của giới văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh. Có người làm thơ ca ngợi, bài thơ tiếng Hán của Nguyễn Đức Sung đã nói lên điều đó :

BÀN THÀNH TỨ HỮU

TẤN bộ bồng lai lạc cảnh khoan
HOAN tình hội hiệp tứ thi lang
TRÍ hân khôi thỏa tâm hoài vọng
LAN phóng hương nùng nhập tửu bang

Tạm dịch

Tấn tới bồng lai vui cảnh tiên
Hoan tìm hội tụ tứ thi nhiên
Trí sáng đẹp lòng bao mong nhớ
Lan tỏa hương nồng nhập xứ men

Trong quá trình sinh hoạt, Hàn Mặc Tử nhận ra các bạn của nhóm thể hiện rất rõ khuynh hướng sáng tác riêng biệt từng cá thể. Cuối năm 1936, Hàn đề xướng việc thành lập "Trường thơ Loạn". Theo Yến Lan, trong khi đang suy nghĩ về vấn đề đó thì ông cho Hàn xem tập thơ mình mới hoàn thành, viết về đề tài chiến tranh, nhan đề "Giếng loạn". Cái tên của tập thơ đã gợi cho Hàn về trường phái mà ông định khởi xướng, chỉ đợi dịp là thực thi. Ít lâu sau tại ngôi nhà số 20 Khải Định, Qui Nhơn, Yến Lan và một người nữa đi với Chế, mang tặng Hàn tập thơ "Điêu Tàn" mà Chế vừa xuất bản (1937).

Sau khi chúc mừng Chế, Hàn xúc động nói: "Lâu nay chúng ta làm toàn những loại thơ điên loạn, xem ra có đủ nhân tố để lập một trường thơ Điên loạn, nó đã có mầm mống từ lâu; giơ tập thơ của Chế lên ông nói tiếp, cái tựa tập "Điêu tàn" này là tuyên ngôn thứ nhất của chúng ta. Rồi chúng ta sẽ tiếp tục có tuyên ngôn bổ sung khi in tập thơ chung của Trường thơ Loạn". Từ đó, cái tin ở Qui Nhơn có Trường thơ Loạn (có người gọi là "Trường thơ Điên") loan truyền khắp nơi. Ban đầu "Trường thơ Loạn" gồm Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên, sau có thêm Bích Khê, Hoàng Diệp, Quỳnh Dao...

“Sau khi Hàn Mặc Tử mất (1940), Trường thơ Loạn bắt đầu tan rã. Mặc dù Yến Lan, Chế Lan Viên và Bích Khê vẫn chơi thân với nhau, song không còn ai tha thiết với việc duy trì hoạt động Trường thơ. Nó còn tồn tại một thời gian nữa, rải rác trong các sáng tác của Bích Khê và kết thúc cùng với sự qua đời của người "mang rõ phong cách của Trường thơ Loạn, người công dân trung thành của vương quốc" là Bích Khê vào năm 1942.”

Do có tới ba trong bốn thành viên của Nhóm thơ Bình Định (trừ Quách Tấn, vì khác khuynh hướng) nên nhiều người tưởng "Trường thơ Loạn" là một danh hiệu khác của "Bàn thành tứ hữu" và có sự nhầm lẫn thành viên của nhóm . Trong cuốn “Phong trào thơ mới 1932-1945” giáo sư Phan Cự Đệ cho rằng nhóm thơ Bình Định có cả Bích Khê và Hoàng Diệp, là không chính xác. Nhưng khi tái bản, giáo sư vẫn giữ nguyên ý đó. Điều này được Quách Tấn – người anh cả của nhóm xác định rõ trong một bức thư.

“Nha Trang lập xuân 1988
      Chú Yến Lan
     Cách đây 1 tuần tôi có gởi ra chú 1 bức thư nói về Trường thơ Bình Định. Chú nên cho ông Thu Hoài biết rằng không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan mà thôi. Trường thơ này không thể thành Trường thơ Bình Định được. Bình Định chỉ có một nhóm gồm 4 thành viên mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, gọi là Bàn Thành Tứ Hữu. Nhóm thơ này gồm có: Hàn, Chế, Yến, Quách. Mỗi người mang tên một con vật trong bộ Tứ Linh. Tôi đã viết một bài nói về nhóm thơ Bình Định vừa vui vừa nói lên được phong độ và sắc thái của thơ Tiền chiến Bình Định - Đó là từ 1930 đến 1945, từ 1945 đến 1985 trừ Tử và Khê đã mất, kẻ còn lại đều hoạt động đều đặn.

Quách Tấn và Yến Lan: hai thành viên sống lâu nhất của nhóm, khi còn sống họ khẳng định "Bàn thành tứ hữu" là một nhóm thơ. Ở đó, sự gắn kết với nhau bằng tình thi ca, bằng hữu, hơn là một trường phái sáng tác.

Bút danh các thi hữu trong nhóm :

Hàn Mặc Tử

Tên thật của Hàn là Nguyễn Trọng Trí, sinh 22/9/1912 . Khi mới vào làng thơ, ông lấy bút danh Minh Duệ Thị. Bút danh này ít ai biết, ông đổi là Phong Trần. Nhìn vóc hạt thư sinh của ông, bác Tấn chọc vui “anh người mảnh mai như cây sậy, làm sao chịu được Phong Trần mà ước? ” và cũng bị một bà cụ thâm nho ở Bình Định nói: Tên này không phù hợp với cậu nên đổi bút danh khác . Ông Trí bèn lấy chữ đầu của nơi sinh “Lệ Mỹ” và chữ đầu của quê cha “Thanh Tân” ghép lại thành “Lệ Thanh”. Bút danh này ông rất vừa ý, nhưng bác Quách Tấn lại trêu. “Bộ anh ngó dễ thương mà hiệu Lệ Thanh nghe cũng “yểu điệu thục nữ”, vậy tôi gọi anh là cô Lệ Thanh cho thêm duyên”. Ông Trí chẳng nói gì, ít lâu sau người ta thấy tên Hàn Mạc Tử xuất hiện trên các báo. Hàn Mạc có nghĩa là ”rèm lạnh”, ông cho là độc đáo, đến khoe với bác Quách Tấn.. Bác Tấn cười mà rằng “Kể cũng ngộ thật. Tránh kiếp PhongTrần lại đi làm khách hồng nhan. Sợ kiếp hồng nhan đa truân lại đi làm kiếp Rèm Lạnh. Tránh lờ chui vào lưới, sao lẩn quẩn quá thế?” Ông Trí bực quá “Anh này thật đa sự, không biết đặt cái đếch gì cho vừa lòng anh”. Bác Tấn hướng cho ông lối ra “nếu đã có rèm mà thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng?”. Ông Trí bàn với bác Tấn một lúc, rồi lấy bút vạch thêm vành trăng non lên đầu chữ a ra chữ ă. Chỉ thêm một cái dấu thôi mà nghĩa khác hẳn. Từ “Rèm lạnh” giờ thành “Bút mực.”  Sau đó, ông Trí thích chí nói: “Đã có bóng trăng rọi vào, thì từ nay danh tôi cũng như thơ tôi sẽ mỗi ngày mỗi thêm rạng ngời như bóng trăng”.   

Bút danh Chế Lan Viên

Trong tờ VĂN NGHỆ-NGƯỜI VĂN. Phóng viên đã hỏi nhà thơ Yến Lan PV: Nghe nói, bút hiệu nhà thơ Chế Lan Viên xuất phát từ tình bạn với ông? YL: Nói đúng hơn chữ “Lan Viên” là từ tên tôi và một bài thơ của tôi. Hoan làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi, đầu tiên ký tên từ những địa danh ngoài quê hương Quảng Trị, Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai. Khoảng 1934, tôi xa nhà xuống Qui Nhơn học. Đêm trước ngày ra đi, thấy trời đã tối mà cha vẫn thắp đèn dầu tưới lan, tôi xúc động ngâm nga :

Rồi đây mỗi ngã một thân đơn
Con ngọn dèn xanh cha mảnh vườn
Đêm lụi đèn tàn ai gạt bấc
Vườn lan ai ấy tưới thay con.

Thấy tôi đọc xong im lặng, Hoan rơm rớm nước mắt. Sau vài giây, Hoan chậm rải nói “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm bài thơ và tình bạn của chúng ta”. Hoan đã thực hiện lời nói ấy; sau đấy các bài thơ đăng trên “Tiếng trẻ” Hoan đều lấy bút danh là “Lan Viên”.

 Đến năm 1936 Hàn Mạc Tử có bài thơ “Thi sĩ Chàm” tặng Hoan, viết “Tặng Chế Bồng Hoan”. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm nhân lúc đến thăm bạn, ở bên bờ đầm Thị Nại, nơi Hoan đang trọ học. Thấy dòng đề tặng ở trang sách, bèn góp ý “Hoan nên ghép hai tên lại làm kỷ niệm”. Sau đó, bản thảo tập “Điêu tàn” vừa xong, Hoan lấy bút danh “Chế Lan Viên” và gửi cho Nguyễn Xuân Sanh, nhờ in ở Hà Nội. Từ đó trên thi đàn văn học Việt Nam người ta thấy bút hiệu – Chế Lan Viên.  

Bút danh Yến Lan

Ai bước chân vào làng văn cũng cố tìm cho mình một bút danh; người thì lấy tên làng, hay tên của dòng sông quê hoặc một dấu ấn nào đó trong cuộc đời. Chắc chắn rằng chỉ có nhà thơ bị đẻ rơi trên bãi cát ở Bến My Lăng:

Quê ngoại bên kia bãi cát vàng
Mẹ tôi về, lỡ chuyến đò ngang
Cơn đau trở dạ không giường chiếu
Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng,

là người duy nhất lấy tên của hai thiếu nữ cùng yêu mình làm bút hiệu: Đó là tên của hai cô học trò, một cô tên Yến, còn cô kia tên Lan. Hai cô đã cố ý nói cho thầy giáo của mình biết : Tao với mày chơi thân với nhau nên chỉ lấy một người đẹp trai làm chồng để khỏi phải xa nhau. Sau này cô Yến theo gia đình vào sống ở Nha Trang. Không may trên đường đi tản cư bị lật thuyền chết cả nhà. Để kỷ niệm tình bạn của họ, nhà thơ thay bút danh Xuân Khai là Yến Lan ./.

Trích hồi ký “Về người cha thi sĩ”


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 10.5.2014.