Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHƯ ÁNG MÂY TRÔI





ĐÔI LỜI TÂM SỰ

Tôi đang bước vào tuổi 67, cái tuổi chưa quá già - mà cũng không còn trẻ nữa! Người ta thường có suy nghĩ, viét “Hồi Ký” là chỉ dành cho người già? Tôi không nghĩ vậy. Viết về đời mình mà cũng quy định “già/trẻ” sao? Điều quan trọng là mình có “thích viết” hay không, có gì cần ôn nhớ lại hay không, và sau cùng là nên “viết như thế nào”? Nếu thấy “thích”, thì hãy cứ viết… Có sao đâu?

Có một người bạn rất thân, đã nói với tôi: “Thời đại ngày nay - trong xã hội luôn quý trọng phương tiện khoa học kỹ thuật làm nền tảng cho đời sống, người ta đánh giá sự thành đạt, vinh hiển, đáng nhớ, là ở sự giàu sang, danh vọng! Kẻ không giàu có, là “phó thường dân hạng bét” (chữ của nhà thơ Trần Huiền Ân), lại nghèo nữa, thì được xem là kẻ bất tài, kém cỏi; sẽ chẳng được ai nể trọng cả, nếu không muốn nói là sẽ bị khinh rẻ, thấm chí xa lánh; thì viết Hồi Ký để làm gì, ai thèm dọc?”

Cũng có bạn bảo: “Viết Hòi Ký chỉ để dành cho danh nhân, thiên tài (vvv), chứ “vô danh tiểu tốt” như ta, thì viết làm chi?”

Lại một người bạn thân thiết nữa góp ý: “Viết hồi ký, là viết về “mình”, về “cái ta” (cái “ngã” đáng ghét), sao tránh khỏi chủ quan, sao tránh được lời người cho là mình tự “tô hồng” cho cá nhân, tự đề cao, tự mãn (và rất nhiều cái “tự” khó ưa khác)?”

Chỉ vừa mới nhắc qua ba nhận xét “đơn giản” thôi, tôi cảm thấy (và tự xét), mình là người không đủ “điều kiện”, và khả năng viết Hồi Ký theo “quan điểm”… thông thường ấy được rồi!

Lời người đời là vậy, nhưng tôi lại có cái nghĩ riêng cho mình, để làm việc tôi “thích”: Tôi viết cho những giờ phút cô dộc, phiền muộn đã và dang bước qua đời sống tôi, một cách trống rổng, vô vị; để chia sẻ “đôi điều” đã trải nghiệm, cùng người thân, bạn bè! Tôi xem từng trang viết là một “phút thư giãn”, để an ủi và xoa dịu cuộc sống tôi, như bao “trò chơi” khác mà con người đang ham thích như mê làm giàu, ham danh vọng, chơi cây kiểng, đá gà, cờ tướng (vvv). Chỉ giản dị có vậy thôi.

Từ rất lâu, tôi có suy nghĩ: Đời người là một chuỗi dài nhân duyên huyền vi, linh hoạt, biến chuyển không ngừng, mãi cho đến ngày kết thúc (và lại tiếp tục…). Duyên khởt trùng trùng, nhưng không vô tình, mà chính là do duyên nghiệp mầu nhiệm kết tụ. Nếu không là bậc cao tăng đắc đạo, thì không có ai có thể “nghĩ bàn” (hay biết trước) về dòng nhân duyên từng sát-na ngày đêm trôi chảy qua đời mình…

Có lẽ mỗi người là một chiếc lá trên dòng nước cuộc đời chảy xiết, một áng mây lửng lơ trên nền cao vời vợi của cõi trầm luân, không hẹn trước sẽ tấp vào bến bờ ghềnh thác nào, hay sẽ tan rã giữa xanh thẳm vô biên cõi tạm nào!

Ở gần vào tuổi “xưa nay hiếm”, tôi lại cảm thấy dòng thời gian trôi qua đời mình chậm - rất chậm! Thời gian không ồ ạt cuồn cuộn như thuở thanh xuân; cũng không rộn ràng, réo gọi như thời trung niên năm mươi nữa; mà dòng thời gian tháng năm gần cuối đời như ngày càng lơ lửng, nhẹ nhàng, chậm chạp hơn!

Trong cái “lắng đọng” của thời gian ở tuổi gần 70, đã trải qua bao thăng trầm lận đận, tôi chợt nhận ra cuộc đời tôi đã từng có bao “duyên lành” linh nhiệm dẫn dắt, che chở, và đưa tôi từng bước đi vào đời cho đến hôm nay (và cả mai sau): Tôi muốn ôn nhớ lại, ghi lại - cho dù chưa thật trọn vẹn, bởi thời gian trải dài trên mấy chục năm lận đận, trí nhớ cũng dần hao mòn vì bao nỗi khổ phải lo toan, phải đối diện thường trực với những biến cố thúc giục hằng ngày, và nhiều lý do “nhạy cảm” khác…

Bởi vậy, tôi đã tự dặn mình khi đặt bút viết những dòng đầu tiên: “Hãy viết với tấm lòng thành, với sự trong sáng vô cầu, với ước mong nhỏ nhoi là chia sẻ đôi chút tâm tình của mình, cho người đọc trong những giờ phút được thư thả, cho vui!”

Và tôi nghĩ tiếp: “Rồi thời gian sẽ cứ thản nhiên trôi qua, cuộc đời cứ lần bước vào bóng tối của sự hủy diệt; tất cả chỉ là một hồi kịch, một trang tiểu thuyết, mà mình đã từng là một “nhân vật”, hay một diễn viên - không hơn!”

Tóm lại, tôi viết “Như Áng Mây Trôi” - tập hồi ký ngắn ngủi nầy, là cốt ghi nhận vài biến đổi không bao giờ quên, những kỷ niệm một thời đau buồn hay hạnh phúc, đôi chặng đời thăng trầm mà tôi đã phải trải qua; để “tiêu xài” những giờ phút được nhàn rỗi, khi “ngồi mà nhớ lại” - mong tự an ủi mình, tự vui với những hoài niệm; tuyệt nhiên không có tham vọng mong cầu gì lớn lao khác! Có thể tập Hồi Ký nầy, sẽ cùng theo tôi về với lòng đất một ngày nào?

Và cũng có thể, nếu “đủ duyên”- nó sẽ đến tay bạn, như một lần ghé thăm…

Xin có đôi lời “thưa gởi”- rất mong sẽ được tất cả hỷ xả cho những thiếu sót, những “chủ quan” (chứ không phải tự mãn, không thể tránh hết, dầu đã rất hạn chế, cẩn trọng!) đã chân thành (và vô tình) được nhắc kể. ở đây!

Trân trọng cám ơn!

Quê nhà, ngày Mồng 1, tháng Ba, Canh Dần
        (ngày 14 tháng 4 năm 2010)


         Huệ Thành
         MANG VIÊN LONG

VII

TRỞ VỀ QUÊ NHÀ

Tôi đến thị xã Tuy Hòa lần đầu tiên vào một buổi chiều tháng 6 năm 1966 theo giấy bổ nhiệm của Bộ Giáo Dục sau khi ra trường Sư Phạm. Trước ngày chọn nhiệm sở theo thứ tự ưu tiên điểm số tốt nghiêp - Phú Yên được xem là một nhiệm sở tốt - rất nhiều sinh viên  muốn đến; và tôi đã được nghe nói về thị xã Tuy Hòa như một miền đất yên lành, đẹp - phong phú! (đã “phú” rồi mà còn “yên” nữa).Tỉnh Phú Yên chỉ được phân bổ 8 người - tôi là người thứ 2 được ký tên vào giấy nhận nhiệm sở đã được in sẵn. Cuộc đời tôi đã bắt đầu thay đổi - bắt đầu gắn liền với Tuy Hòa từ đây…

Một người bạn đã có thời làm lính thú ở Phú Yên kể cho tôi nghe về cái thị xã nhỏ nhắn, yên tĩnh, xinh đẹp mà anh nói khi rời khỏi nơi đây anh mãi nhớ! Thị xã sạch, xanh - lặng lẽ như một thôn nữ diu hiền - người bạn nói văn vẻ như vậy. Theo lời anh - đây là một khu phố hiếm có thời này vì không có snack bar, lính Mỹ và gái nhảy! Nghe vậy - tôi rất vui, vì tôi đã quá chán những đường phố nhằng nhịt những quán bar, những âm thanh rập rình nhạc twist , những gương mặt tô trét son phấn nhầy nhụa…
Chiếc máy bay loại cánh quạt của hãng hàng không Air VN đáp xuống phi trường Đông Tác khoảng ba giờ chiều. Xe ca chuyễn vận hành khách vào thị xã đến trạm Tuy Hòa nằm trên đường Trần Hưng Đạo ngay sau đó. Lần đầu tiên được nhập vào dòng sống thị xã xa lạ tôi không khỏi bỡ ngỡ với từng con đường mình đang đếm bước. Tôi dừng lại ở Ngã Năm - đón một chiếc xích lô - móc ở túi áo ra cái phong thư - xem kỹ lại địa chỉ một lần nữa: “Bác cho cháu xuống số nhà 63 THĐ”. (Người bạn đã cẩn thận viết cho tôi một lá thư gởi gắm tôi cho gia đình một người bạn rất thân của anh).
Tạm có nơi nghỉ chân, tôi thong thả ra phố - đi loanh quanh theo mấy con đường dày bóng cây, yên vắng và lồng lộng gió nồm! Lòng đường như rộng hơn. Thời gian lướt qua cũng nhẹ nhàng chậm chạp hơn. tôi cảm thấy lòng mình nao nức như lâu ngày được trở lại chốn xưa đang réo gọi. Tôi hân hoan hít thở cái không khí yên lành của Tuy Hòa với niêm vui lạ lẫm hiếm có! Tôi đi thật chậm, đi mãi miết - nhìn ngó phố xá người xe Tuy Hòa mà lòng thật đầy niềm vui! Niềm vui mới mẻ tràn đầy sức sống của người thầy giáo trẻ là tôi khi tuổi đời vừa chẵn hăm hai.
Từ căn phố 63 Trần Hưng Đạo ngủ đêm đầu tiên ấy cho đến ngày tôi rời xa Tuy Hòa - tôi đã di chuyễn chỗ trọ nhiều lần trong gần 12 năm dạy học ở đây. Muời hai năm - thời gian không nhiều, nhưng với hơn bốn ngàn ba trăm ngày đêm sống với Tuy Hòa tôi đã có thật nhiều kỷ niêm không bao giờ quên với trường lớp, với học trò, với  đồng nghiệp, với những bạn văn thân yêu… Thời tuổi trẻ thơ mộng dạt dào ước vọng của tôi dường như chỉ có ở đây. Gắn chặt nơi đây - với từng tên gọi, từng gương mặt, từng góc quán, từng con đường, từng nỗi buồn vui thế sự…
Ngôi trường đầu tiên tôi đến nhận lớp là Trường Hòa Vinh – quận Hiếu Xương. Trường cách xa thị xã gần 12 cây số nằm trên quốc lộ 1A - xe Lam chạy khoảng 30 phút. Tôi đã sống gắn bó chí tình với đám hoc trò quê mùa chơn phác ấy hơn ba năm. Biết bao niềm vui của thuở ban đầu làm nghề “gõ đầu trẻ” của tôi đã gắn liền ở đây.
Chúng tôi sống ở Tuy Hòa trong bao nhiêu năm cũng chỉ thuê nhà, mỗi năm gíá thuê đều tăng – nhưng cũng có thể trang trải được với đồng lương tương đối đầy đủ, dù tôi không quan tâm nhận dạy thêm ở trường tư. Tôi dành thời gian để đọc, và viết. Thời gian còn lại, chúng tôi dành cho những lần thăm viếng, gặp gỡ thân tình cùng bằng hữu đồng nghiệp, hay văn nghệ… Tôi thường lấy xe đi về các miền quê Hòa Trị, các xã quanh thị xã, để “hiểu thêm” về nếp sinh hoạt, đời sống của vùng quê nghèo, đang chịu nhiều áp lực của cuộc chiến ngày càng tiến gần thị xã. Các em học sinh ở quê đang theo học ở Nguyễn Huệ hay trưởng tư thục Văn Minh, Bồ Đề cũng thường mời tôi vè nhà, về quê của các em thăm chơi vào ngày chủ nhật. Dù biết có vùng quê xa, dưới chân cụm núi Sầm hay dọc dãy núi đá vôi, không được “an ninh”, nhưng vì tấm lòng chân thật của học trò, tôi cũng đã theo các em đi, mà không chút e ngại gì. Có một hôm, tôi đang ngồi trong nhà người học trò ăn cơm trưa với gia đình, bổng nhận thấy có vài bóng người cứ đi qua lại trước ngõ. Cha cậu học trò biết, vội ra gặp, và sau đó, không còn thấy có bóng ai nữa! Người học trò nhắc lại: “Thầy cứ yên tâm ở chơi với tụi em đến chiểu, tụi em cùng về Tuy Hòa với Thầy luôn!”
Ở Tuy Hòa, nơi cái thị xã yên vắng dễ thương đầy ắp tình người, đây ắp khát vọng nầy - tôi viết được khá nhiều truyện và một số tạp bút. Hầu hết các truyện và tạp bút của tôi đều đã được các tạp chí Vấn Đề, Văn, Bách Khoa, Trình Bầy, Phổ Thông, Ý Thức, tuần báo Khởi Hành, Thời Tập (…) đăng tải. Khởi đầu, tôi viết tay một bản duy nhất, sau đó - nếu thuận tiện, tôi nhờ học sinh viết chữ đẹp nhất, viết lại một bản để lưu. Không tiện thì thôi. Về sau, tôi mua được chiếc máy Olympia cũ, viết ngay một lần 3 bản.
Khi nhận được tiền nhuận bút tập truyện “Có Những Mùa Trăng” của Văn khá nhiều, tôi gởi cho anh Nguyên một nửa cho các cháu, còn lại mua chiếc máy mới Brother de lux ở hiệu sách Vạn Kim; còn dư tiền lai rai cùng anh em. Tôi bán chiếc máy Olympia với gía hữu nghị cho nhà thơ Đỗ Chu Thăng. Anh Đỗ Chu Thăng (tên thật Ngô Thạch Ủng) là một người bạn, người thầy hiền lành, thàng hậu, chí tình. Tôi quen thân với anh qua anh Trần Huiền Ân, hai người là đôi bạn thân thiết cùng dạy ở trường trung học Bồ Đề (sau này là Sui gia)…
Nếu đã suy nghĩ đề tài cần viết “chín mùi”, tôi thường viết trong vài giờ (hay một buổi) là xong một truyện ngắn. Ngoài giờ đi dạy, (hay có “hẹn” đi chơi đâu đó), tôi thường ngồi ở nhà, miệt mài viết, không nản. Tuy Hòa yên tĩnh, không có nhiều nơi để “đi chơi” la cà, nên tôi viết được khá nhiều. Ngoài viết truyện, tôi cũng đã nhận làm “phóng viên” cho vài tờ nhật báo ở Saigon để có chút nhuận bút café, hay nhâm nhi vài chai bia La Rue Saigon. Do vậy, dường như số nào của Vấn Đề, cũng có truyện của tôi… Có lần, tôi chưa kịp gởi truyện mới, Vấn Đề đã đăng lại truyện cũ đã sử dụng trước đó khá lâu. Nhà văn Mai Thảo đã rất nhiệt tình “góp ý” cho tôi, còn anh Trần Phong Giao (tạp chí Văn) thỉnh thoảng cũng có thư động viên, khuyến khích, dành cho tôi nhiều tình cảm tốt đẹp, cho dầu tôi chưa hề được gặp anh… Vì giờ dạy ít, tôi đã có thời gian rộng rãi để viết bài cọng tác với các tuần báo văn nghệ cũng như vài nhật báo đứng đắn như Khởi Hành, Tuổi Ngọc, Thời Tập. Chánh Đạo, Tin Sáng, Tư Do. Thuở ấy - niềm đam mê viết lách của tất cả anh em văn nghệ nói chung, và của anh em Tuy Hòa nói riêng, thật sôi nổi, gần gũi, chí tình! Một không khí đầm ấm, tôn trọng và chia sẻ lẫn nhau…
Thời tuổi trẻ ở Tuy Hòa của tôi là khoảng thời gian hạnh phúc, êm đẹp nhất, không thể nào quên. Chính vì vậy, khi nhà thơ Phan Việt Thủy (đang dạy học ở Tuy Hòa, cũng đang thực hiện tạp chí Hiện Diện với chúng tôi) đổi về làm việc ở Bộ Giáo Dục, có “rủ” tôi cùng đi với anh để có cơ hội làm báo, xuất bản; nhưng tôi cảm thấy rất “ngán” Saigon, nên vẫn “chung thủy” với Tuy Hòa, cho đến ngày cầm trên tay tấm giấy “phóng thích” trở về quê cú, tôi mới đành rời xa Tuy Hòa - như rời xa tuổi trẻ, ước mơ, và khát vọng một thời còn dang dở…
Cuối năm 1977, tôi trở về quê. lo thu dọn căn nhà duy nhất còn lại dành cho tôi, trước khi anh Nguyên yêu cầu chị em tôi ký tên bán ngôi nhà tiếp theo để anh mưa nhà ở Saigon cho các con có chỗ sinh sống ổn định hơn là ở khu gia binh. Ngôi nhà ngói đã trên bốn mươi năm xiêu vẹo, trống trước dột sau, nhưng có thể có chỗ cho tôi nằm tạm, một mình. Vợ tôi còn dạy ở Tuy Hòa, hai con đang sống cùng bà Ngoại ở Qui Nhơn. Tạm ổn đinh nơi “ngã lưng”, tôi đi Qui Nhơn đến Ty Giáo dục nộp đơn xin dạy trở lại. Khi rời trừơng Nguyễn Huệ, trong xấp hồ sơ nhà trường đưa cho tôi, có nhiều bằng khen, giấy khen, cùng lời giới thiệu rất “ngon lành” của Hiệu trưởng; nhưng bà phụ trách phòng tổ chức Ty không buồn đọc. Lật qua lại xấp hồ sơ, nhìn thoáng qua đơn của tôi, bà ta nói, giọng chắc nịch: “Chúng tôi không thể tiếp nhận loại giáo viên này! Anh cứ về, chờ, khi nào cần, chúng tôi gọi”. Tôi hỏi: “Thưa bà, tôi là “loại” giáo viên gì vậy?” – “Dạy Việt văn và Anh văn. Tỉnh không dạy Anh hay Pháp văn, chỉ dạy Nga văn thôi! Còn Việt văn thì…”
Tôi biết là từ nay, tôi sẽ không có dịp trở lại nghề cũ đã chọn nữa, mà thời cuộc sẽ “chọn” cho tôi. Tôi nghĩ, nghề nào cũng chỉ kiếm miếng cơm manh áo thôi, nên an tâm, trước mắt làm các “nghề lặt vặt” (mà nhà báo Nguyễn Tam Phù Sa sau nầy gọi là “thợ đụng”) để kiếm ăn ngày hai bữa, vì tôi không có vốn liếng để dành có thể kinh doanh một nghề gì, trong lúc mọi sunh hoạt còn đang xáo trộn, chưa ổn dịnh như thế nầy! Tôi xin làm phụ thợ hồ. Nhận bắt điện nhà. Dọn vườn, cuốc đất. Phụ việc (bất kỳ là việc gì) cho các gia đình trong thị trấn khi họ cần người.
Sau một thời gian xin đi làm “tiểu công” (khuân vác, trộn hồ, chở gạch - phụ việc cho thợ xây) không kham nổi vì bệnh khớp mãn, mà làm “thợ đụng” không có “thu nhập thường xuyên”; tôi đã quyết định vào Tuy Hòa, đến hoc nghề sửa chữa xe gắn máy với người bạn - anh Lê Tăng Mính (nguyên là thanh tra Tiểu học vừa chuyển… ngành sửa xe Honda sau năm 1975), theo lời đề nghị giúp đỡ của anh! Tôi chỉ tốn tiền xe vào ra - còn mọi chi phí khác anh Mính lo cho hết! (anh dạy cho nghề, ăn ở tại nhà - chu toàn mọi việc). Sau hơn một tháng “khẩn trương” học ngày đêm, tôi về nhà, viết bảng hiệu trên tấm ván nhỏ “Sửa Chữa Xe Gán Máy” - gắn vào thân cây dừa phía trước. Mấy tháng hành nghề, lèo tèo vài khách hàng, công việc ngày càng ế ẩm, vắng vẻ! Trong một hoàn cảnh mà người có xe Honda đang tìm người có xe đạp để đổi – và xăng dầu phải mua theo tiêu chuẩn, tem phiếu (ưu tiên cho cán bộ công nhân viên chức), thì có ma nào “dám” đi xe máy nổ? Tuy là treo bảng “Sửa Xe Honda” nhưng thực ra, “sửa xe đạp” là chính!
Nghề sửa xe đạp – Honda đòi hỏi các động tác mà căn bệnh thấp khớp mãn của tôi không thể đắp ứng, hơn nữa phụ tùng xe tôi không có sẵn (mà chạy đi tìm mua thì rất mệt), nên tôi cũng đang suy nghĩ cách để “chuyển nghề” cho phù hợp với khả năng tài chánh, sức khỏe và “thời đại”(!)
Thời gian nầy, tôi cũng được tin anh Nguyên đã chuyển ra học tập cải tạo ở Miền Bắc, trong lúc chị phải nuôi 9 đứa con đang ăn học! Tôi hỏi chị dâu xin địa chỉ trại, viết thư gởi Ban giám đốc Trại để “trình bày hoàn cảnh, và xin bảo lãnh” cho anh được sớm trở về với gia đình…
Đang là “diện” bị địa phương “quản lý” trong vòng hai năm sau ngày trở về, tôi luôn lao động tốt, chấp hành mọi quy định. Ngoài ngày công lao động (mỗi năm 35 ngày) lên vùng rừng núi An Trường phát quang, làm rẫy, trồng mì - dầu rất vất vả, tôi vẫn kham được. Hằng đêm, khi có tiếng kiểng, phải tập trung đi gác ở các ngã đường. Ngủ hè, ngủ bụi, cũng không hề gì; nhưng, có một “kỷ niệm” khiến tôi cảm thấy hơi bị “sốc” là một dịp gần Tết, tôi được giấy gọi đi dự lớp học tập về “an ninh xã hội” do xã triệu tập, danh sách từ “thôn đội trường” đưa lên. Vào dự trong lớp học khoảng ba bốn chục người này, tôi nhận ra những khuôn mặt lạ - được biết là những tay cờ bạc rượu chè, trộm cắp, lường gạt, đỉ điếm (…); vậy mà tôi lại được “nhìn ngó” với định kiến như vậy? Tôi im lặng chấp nhận, như bao đổi thay đau lòng khác đã đến với tôi trong thời gian nầy!
Một lần đi Qui Nhơn thăm ông bà ngoại của các con - tôi đi lang thang dọc đường phổ Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, các ngã phố Võ Tánh, Gia Long (cũ) – và bỗng nhận ra chiếc tủ gỗ nhỏ của một cậu em trạc 18 tuổi đặt ở góc đường. Đến gần, xem - hỏi han, chuyện trò cho vui! Cậu ấy rất nhiệt tình trả lời các câu hỏi của tôi, như đã thân nhau. Khi biết rõ hoàn cảnh và ý định của tôi muốn “học nghề” - cậu đã vui vẻ giới thiệu tôi đến gặp “sư phụ” đang hành nghề “sửa khóa & làm chìa” ở đường PBC. Vậy là tôi đã mời “sư phụ” lên nhà tôi một ngày - để “truyền nghề”, với sự đãi ngộ xứng đáng! Từ dạo ấy - vừa học, vừa làm (có ghi chép cẩn thận vào tập vở 100 trang như một “giáo án”), thường xuyên “học hỏi” thêm ở người thầy cũ, suốt mấy chục năm qua… Để cho được “đủ ăn”, tôi làm thêm nghề “Bơm Quẹt Gas”, cọng với chiếc tủ gổ nhỏ mua lại bên lề đường PBC của mấy gia đình chuẩn bị thu xếp để lên đường đi kinh tế mới với giá rẻ mạt làm tủ “Sửa Kính Đeo Mắt”. Một người phải làm việc bằng ba - mới có thể sống được trong thời buổi “gạo châu củi quế” nầy! Mỗi “nghề” thu được một ít, góp lại - cả ngày, cũng đủ…đi chợ!
Có ai ngờ được rằng cái nghề mình đã đầu tư liên tục từ thưở lên sáu - ròng rã gần 20 năm, mà nuôi sống nổi mình chỉ được 12 năm – trong lúc, một cái “nghề khơi khơi” mà đã gắn bó và nuôi sống mình và giúp đỡ gia đình được hơn 30 năm? Âu đó cũng là một “cái số”? Cũng vui! Trong ngần ấy năm, tôi cũng đã “truyền nghề” cho 10 “đệ tử” trong và ngoài tỉnh có hoàn cảnh khó khăn, kiếm sống được qua ngày!
Có vài người bạn thân “nhẹ dạ và đa cảm” lâu ngày gặp lại tôi đang cặm cụi mài dũa, khoan đục, với tấm bảng hiệu “Sửa Khóa & Làm Chìa” ở góc phố chợ, đã mủi lòng, tỏ ra rất buồn! Họ cho biết không thể ngờ rằng tôi - một thời dạy học - viết văn, lại gặp cảnh ngộ bi đát đến vậy! Tôi chưa hề nghĩ mình “bi đát” như lời chia sẻ của bạn- mà nghĩ, điều gì - rồi cũng có thể xảy đến cho tất cả trong cái cõi tạm lắm khổ, ít vui nầy! Hãy an vui và kiên nhẫn đón nhận mọi biến đổi khó lường của cõi tạm - để có niềm hy vọng mà sống tiếp. Làm Thầy cũng kiếm cơm, mà làm Thợ cũng kiếm cơm. Trong lúc vui chuyện, tôi đã “ứng khẩu” đọc tặng anh bạn mấy câu (có phải là thơ không?) như sau:

Chữ Thơ - chữ Thợ, cũng gần,
Làm Thơ, làm Thợ - ta mần cả hai!
Làm Thợ thì để sinh nhai.
Làm Thơ thì để… lai rai, đỡ buồn!”

Bốn câu ấy thuộc loại “văn chương truyền khẩu” – nhưng, qua bao năm, nó vẫn được bạn bè nhiều nơi thuộc và nhắc nhở, như một kỷ niêm vui!
Tôi vẫn thường tâm sự với vài người ban thân: “Trước - làm Thầy, ta vẫn vậy. Nay – làm Thơ, ta cũng chẳng khác!”
Trong những năm trở về quê nhà, được sống gần vợ chồng chị Thục và các cháu (tuy gia đình chị Thục đang ở Đập Đá, cách nhà tôi 5 cây số), được gặp lại vài người bạn văn thân cũ thời trung học (…). được bà con chòm xóm thương yêu giúp đỡ- nhất là sự đùm bọc, chăm sóc của ông bà ngoại các cháu, gia đình tôi đang dần có cuộc sống ổn định.
 
... CÒN TIẾP ...

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 04.5.2014.