Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




TẠ TỘI CÁNH ĐỒNG




Công ty xây dựng Hải Lan đến đảo Quang Châu. Gió biển thổi lật lên những âm thanh xôn xao trên những bãi cát trắng như pha lê nằm im lìm dài dặc bấy lâu. Tiếng xe, máy ồn ào, sôi động. Tiếng nói cười râm ran các ngả đường. Vùng đảo chuyển rung như quả tim đập rộn nhịp. Những ngôi nhà cao tầng đầu tiên đã khoe mình trong ánh nắng trong suốt. Học trò đi qua cứ ngửa mặt ngắm nhìn, ngỡ lạc vào không gian những toà lâu đài trong truyện cổ. Chúng tấm tắc hết lời về bà giám đốc đã luống tuổi trông lộng lẫy như một bà tiên. Lúc nào gặp bọn trẻ bà cũng cười rất tươi. Bà có một anh con trai đi cùng giúp việc. Anh ta cũng xởi lởi, thân thiện, khiến người làng đảo ai cũng quí.

Một hôm, mẹ con bà giám đốc đến liên hệ công tác với trường trung học cơ sở Quang Châu. Sau khi làm việc với Ban giám hiệu, hai người vào văn phòng ngồi chờ lát nữa tan giờ học cô hiệu trưởng sẽ dẫn đi tham quan toàn cảnh ngôi trường, thì gặp chị em tổ xã hội của cô giáo Trầm đang trao đổi tình hình giảng dạy. Mọi người vồn vã chào hỏi nhau. Lúc bắt tay Trầm, bà giám đốc bỗng sững sờ nhìn đăm đăm, khiến cô bối rối như chạm phải một luồng điện kỳ lạ. ánh mắt bà như mạch nước ngầm bất ngờ xâm thực vào tâm cảm Trầm.
-Cô giáo quê ở đâu? Bao nhiêu tuổi rồi? Bà dịu dàng hỏi thăm.
-Dạ! Cháu hai tám. Quê ở đây ạ! Người làng lại về dạy trẻ làng đấy ạ!
-Tốt quá! Cháu trẻ và xinh thật! Nhưng bá trông cháu như không phải người xứ đảo này... Lập gia đình chưa?
Huệ, bạn Trầm nhanh nhảu đỡ lời:                
-Thưa bá! Quả là bá tinh đời! Trầm người làng này, nhưng thật ra gốc Yên Hưng bên sông Bạch Đằng đấy ạ! Huệ cười liếc xéo sang chàng trai đang giở xem tờ báo Giáo dục & Thời đại: -Nhiều chàng say lắm mà chưa chịu ai! 
-Ô... Vậy à? Quí hoá quá? Cô giáo gốc xã nào? Bà hỏi Trầm.
-Dạ! Cháu gốc làng Cẩm ạ!
-Ôi! Làng Cẩm à?
-Vâng! Sao bá cũng biết nơi ấy?
-Biết chứ! Nơi ấy là quê tôi mà! Tôi dân làng Đông, cách làng Cẩm bởi làng Cốc ở giữa... Mắt bà giám đốc chợt sáng long lanh.
-Thế thì bá cháu mình đồng hương với nhau rồi! Mời bá và anh đến nhà cháu chơi. Bố mẹ cháu rất hiếu khách...
-Bá ơi! Chuyện cô Trầm dài lắm! Lúc nào rảnh mời bá... Huệ lại láu táu: -Bá có ưng thì chọn nàng đi... Trầm đấm nhẹ vào vai Huệ. Cô dè dặt tiếp lời:
-Dạ... Cháu xin phép được biết quí danh bá...
-Các cô cứ gọi tôi là Lan. Vũ Thị Lan, giám đốc Công ty xây dựng Hải Lan. Còn em đây là Cảng. Dương Nguyên Cảng, đại học Kiến trúc, kỹ sư mới về của Công ty... Hiện công ty chúng tôi ở thành phố Hải Phòng.
Từ nãy, anh con trai đã ngây ngất như bị hút hồn trước khuôn mặt tròn đẹp, trẻ măng, đôi mắt lấp lánh vẻ thông minh của cô giáo Trầm. Gấp tờ báo lại, suốt buổi hầu như anh chỉ cười bằng mắt. Tan cuộc giao lưu, anh cầm tay Trầm bóp nhẹ và nói nhỏ: -Anh sẽ đến nhà em nhé!
Dọc đường về, phấn chấn như cánh chim bay trên những đụn cát, chàng trai thổ lộ: -Trầm đáng yêu quá mẹ nhỉ! Mẹ thấy thế nào? Liệu kết thân được không? Bà giám đốc chột dạ, chợt dừng bước, nhìn cậu:
-Sao con vội vàng vậy? Đã ngậm phải bùa ngải rồi cơ à? Làm gì cũng phải dò tận ngọn nguồn lạch sông chứ. Trông nét non tơ thế mà cô ta hơn con những ba, bốn tuổi... Bà lẩm bẩm: Sao lại người làng Cẩm nhỉ? Lại hai tám tuổi? Hai tám năm trời... Chẳng lẽ?...
-Mẹ đã bị bệnh nghề nghiệp kinh doanh chế ngự! Cậu con trai cắt ngang dòng suy nghĩ của bà.
-Không! Hình như linh tính mách bảo mẹ, cô giáo này không bình thường. Gái đảo không có nước da trắng đẹp như vậy!... -Mẹ ơi! Cát trắng thế này con gái nào chẳng trắng đẹp! Theo con, Trầm mà vào công ty mình, mẹ sẽ có... một thư ký tuyệt vời!
Về căn phòng sáng choang cửa kính và những tiện nghi, bà Lan mở một băng nhạc từ chiếc catxet chạy bằng pin để thư giãn. Sóng nhạc ngân lên da diết. Lòng bà như những mảng cát bị sóng vỗ cồn cào, xói lở. Con bé giống hắn ta quá, từ khuôn mặt đến từng chi tiết môi, gò má, cánh mũi. Chỉ riêng đôi mắt là ngây thơ, dễ tin như đôi mắt mình một thuở. Rồi nước da trắng đến mê mẩn. Chả lẽ quả đất hẹp ngay trong số phận mình ư?... Cái đêm ngoài cánh đồng lại hiện về trong tâm trí bà rõ mồn một. Bà -cái Làn đã trốn chạy như sợ một đấng thần linh nào đó tóm được, quật xuống như quật một con nhái bén: Mụ đàn bà man dại! Mi hèn đớn đến vậy sao?
Đấy là một đêm trăng non mờ ảo. Góc trời xa phương bắc chốc chốc lại loé lên những ánh chớp như kẻ vỗ tay hù doạ. Bước cao bước thấp, thỉnh thoảng Làn lại ngoái lại xem có ai theo đằng sau không. Bụng to vượt mặt, người Làn nóng bừng, ướt đẫm mồ hôi. Lúa chiêm đã quay quả. Râu lúa quệt vào má, vào cánh tay rát ràn rạt. Lắm lúc hẫng chân, ngã chúi xuống bờ cỏ, cô lại túm chặt cụm lúa, chống tay, loạng choạng đứng dậy...
Anh ta đã phản bội. Người gì mà xoen xoét thề thốt trên trời dưới bể: Thương Làn nhất đời, chỉ có Làn thôi! Anh sẽ cưới Làn làm vợ... Vậy mà cá trê chui ống! Mình đã cả tin, đã dâng trọn. Sau cái đêm chiếm đoạt được Làn trên vạ cỏ bờ mương, hễ nhớ là hắn lại kéo Làn ra đó, lăn lộn, xoắn xuýt và hứa hẹn. Lần nào hắn cũng hau háu vục mặt vào ngực Làn như vục vào lòng quả dưa bở để thoả cơn thèm khát. Làn đã mang nặng giọt máu của hắn! Biết Làn có chửa, hắn lẳng lặng tránh mặt. Hằn còn bắn tin chê nhà Làn nghèo: lấy Làn về, lo hai đống xương già cũng đủ ốm! Nghĩ chỉ muốn băm vằm cái mặt hắn ra! Đồ hám ăn, cả thèm chóng chán! Nhà Làn nghèo mà Làn cũng học hết cấp ba! Còn nhà hắn giàu? Giàu gì ngữ ấy, lớp năm không thành! Kể cũng lạ, nịnh bợ thế nào hắn lại leo được chức chủ tịch xã! Sợ nhận cái bụng Làn sẽ ảnh hưởng đến đường thăng tiến, nên hắn lủi như trạch. Lại còn bảo: Một là tiêu. Hai là cứ đẻ. Đằng nào sinh ra, sau này quẳng đâu, đứa con cũng tìm nhận bố!...
Không! Làn ê chề đủ rồi! Làn đã một mình thắt cái bụng cho chặt. Nhưng cái kim còn khó giấu chứ là... Làn đã lao đao, vật vã ôm nỗi khổ chín tháng mười ngày trong bao con mắt ngờ vực, khinh miệt, thương hại... để bây giờ cái bụng đang động đậy, xóc xáo muốn bung ra... Nhưng Làn không thể đèo bòng. Lấy gì nuôi con giữa vùng chiêm khê mùa thối, mất vụ liên miên? Nhà chỉ có Làn là con gái. Buồn rầu vì mụn con dại dột, cha Làn đau nặng, đã qua đời, để lại căn nhà tranh thui thủi cho hai mẹ con... Một ý nghĩ liều lĩnh chợt đến. Giấu mẹ già, Làn lẻn ra cánh đồng Đượng Gai bên làng Cẩm để đẻ. Ngoài ấy tuy xa nhưng sẽ có người trông đồng đêm nghe tiếng trẻ khóc, đến nhặt về. Làn sẽ không cho hắn biết đứa bé ra đời, không thể để đứa bé lớn lên lọt vào tay hắn! Mẹ Làn từng kể chuyện lão Xã Vang ngày trước ngủ với người đàn bà ăn mày đến xin bữa ăn. Bà ấy có chửa, đẻ một thằng con trai. Lão không nhận. Bà phải lang thang trong thiên hạ để nuôi con. Khi thằng bé mười tuổi, thấy nó khôi ngô, sáng dạ, lão cho người đến đòi, rồi tìm cách đuổi bà khỏi làng... Đời đàn bà là kiếp dã tràng ư? Mình quyết không chịu!..
Lòng căm tức kẻ phản bội đã cho Làn sức mạnh. Lối ra cánh đồng Đượng Gai người ta đồn rất lắm ma, ma tóc dài, ma đen, ma cụt đầu... Nhưng với Làn, chẳng có con ma nào cả. Chỉ có những cây bù nhìn rơm đứng giữa ruộng lúa.  Kia là bóng đen cây duối già, ngày còn cắt cỏ chăn trâu Làn và đám bạn mục đồng tinh nghịch thường cột trâu dưới gốc, rồi bỏ đi bóc trộm đòng đòng... Bỗng mỏi rời rụng cả lưng nách. Làn bò lê bò càng như con nhện què nhảy trên bờ cỏ. Qua thảm lúa, đột ngột hiện ra một khoảng đồng trống trồng toàn khoai lang. Không nhớ đây là đâu nữa, cô lân đến một luống khoai, ngọn lá loà xoà khắp rãnh ruộng. Cơn đau ập đến dữ dội. Cô vặt mấy nắm lá nhai nghiến ngấu, hổn hển nuốt. Làn chống hai tay về phía sau tựa xuống luống khoai, hít một hơi rõ dài vào ngực, lấy sức chịu đựng. Chỉ một hơi rặn ngắn, tiếng “oa oa” bỗng bật lên vỡ trong đêm trăng loãng, giữa chốn đồng không mông quạnh. Làn sờ soạng khắp cơ thể hòn sinh linh vừa ra đời. Mặt nó úp xuống lá rau dính bệt đất. Cái bướm! Làn kêu khẽ, vói tay xục vào chiếc bị cói mang theo, lôi ra đám áo quần cũ và lấy con dao nhỏ vội vàng cắt rốn cho đứa con. Rồi dùng hết đám áo quần ấy lau khô, bọc lót đâu đấy, cô đặt nó nằm xuống, bậu mấy vầng đất cày chèn đạy hai bên chặt chẽ: Nằm đây nhé! Mẹ không đủ sức nuôi con! Hãy tha tội cho mẹ!... Nhanh như một bóng ma, Làn biến vào thảm lúa xao động gió.
Sau đêm đó, biết sự, mẹ Làn rất lo sợ. Đứa con gái duy nhất của bà đã phạm một tội tày đình! Kể ra nó phải hỏi bà, bà sẽ che chở cho hai mẹ con nó! Bà đau đớn đay nghiến: Phúc đức tại mẫu con ơi! Người ta hao tiền tốn của cầu cạnh không được, mà con nỡ trút đi!... Ban ngày bà lập cập ra cánh đồng dò dẫm xem còn dấu vết gì không, hoặc con bé chết, người ta chôn nó chỗ nào. Nhưng bặt vô âm tín... Làn ốm liệt giường. Bà đã chạy chữa, cứu sống con gái bằng tất cả sinh lực còn lại. Bà phải cứu nó, để nó có cơ hội chuộc lại lỗi lầm. Bà sẽ đi các nơi tìm đứa cháu ngoại vô tội của bà. Nhưng khi Làn hồi phục, thì cũng là lúc bà gục xuống như ngọn đuốc cháy hết bấc, bén luôn cả đốt tre cuối cùng.                                                    
Đưa mẹ ra đồng xong, Làn dứt áo trốn đi, lưu lạc ngoài thành phố kiếm sống. Ngày ngày cô đẩy xe hàng tạp phẩm bán rong khắp các ngõ ngách. Dân phố gọi cô là “Lan trắng”, bởi Làn có nước da trắng mịn, chiều hôm trước dẫu bắt nắng, rám sẫm đi, sáng hôm sau đã trắng lại như thường. Cô như hạt mưa  đọng vào những cơn mưa dông phố phường. Thế rồi một cơn mưa dông ấy đã tấp hạt mưa xuống một vườn hoa. Lan lấy chồng là đội trưởng một đội thợ nề chuyên xây dựng và sửa chữa nhà ở dân dụng. Chồng Lan hiền lành, đôn hậu, rất yêu quí vợ. Anh làm ăn thật thà, lúc nào cũng nở nụ cười mủm mỉm như chàng nhà quê, nhưng tính toán lại cực kỳ nhạy bén. Công trình của anh luôn được khách hàng đánh giá đạt thẩm mỹ và chất lượng cao, nên uy tín của đội ngày càng bay xa và phát đạt. Nhiều lúc ái ân, Lan hỏi chồng: -Sao anh lại yêu và lấy em? –Bởi anh thích chất quê. Em bán hàng rất sòng phẳng, đâu ra đấy. Đằng sau nét thuỳ mị dịu dàng là một tính cách mạnh mẽ. Anh quí con người và tính cách em! Đoán em sẽ là người quản lý tốt gia đình. Vậy thôi!... Trong thâm tâm, Lan rất tự hào về chồng. Lan sẽ sống tốt hơn để lấp đi khoảng trống thời bồng bột. Hai ngưòi đã có một cậu con trai.
Ngày cậu con trai chuẩn bị vào đại học thì một tin sét đánh giáng xuống tổ ấm: Chồng Lan bị chết đuối vì chuột rút khi tắm biển! Phải hai ngày sau người ta mới tìm được thi thể anh. Lan tưởng không sống nổi. Trời vừa cho Lan niềm hạnh phúc, chưa được tày gang, trời lại cướp đi! Đúng là Lan bị trừng phạt rồi!... Nhưng sự nghiệp ăn học của đứa con trai và chính nó là niềm an ủi đã vực Lan đứng dậy. Lan quyết chí nuôi con thành đạt. Lan từ chối mọi ánh mắt thương hại, mọi lời tán tỉnh của những người đàn ông. Cũng phải mất nhiều năm nghiêng ngả trước cơ chế mới, chị mới khôi phục trở lại được vị thế của đội thợ nề. Chị quyết định thành lập Công ty xây dựng Hải Lan. Chị sẽ làm công ty nổi danh với cái nghề để lại của anh. Chị sẽ chuộc lại lỗi lầm đoạn đầu đời vấp ngã. Linh hồn cha mẹ, linh hồn anh và cả đứa con gái đêm ấy vì chị mà nó có thể đã xấu số... sẽ thanh thản nơi chín suối!
Bà giám đốc đến thăm nhà cô giáo Trầm. Trong lúc vui chuyện, ông bà Hảo đã kể lại những ngày xin Trầm từ tận làng Cẩm về nuôi cho bà nghe:
-Thưa bà! Trầm là con nuôi! Nhưng với chúng tôi, nó là con đẻ! Năm ấy, đoàn thuyền buồm của HTX ngư nghiệp Quang Châu trẩy sá sùng về Yên Hưng, ghé bến mạn Hà Nam. Lúc gánh sá sùng vào chợ Cốc bán, vợ chồng tôi gặp một đám tang mé đường. Nghe dân chúng xôn xao: nhà này chồng đi khai thác đá ngoài Hoàng Tân bị tai nạn đá đè gẫy chân, vợ lại chết do một căn bệnh hiểm nghèo. Đứa con gái lên ba nhặt được ngoài đồng về nuôi chưa kịp nên người đã gặp đoạn khốn cùng, không biết sẽ sống ra sao?... Bán hàng xong, chúng tôi ghé vào hỏi thăm, chia buồn với gia đình và mới biết cảnh ngộ éo le của họ: 
Đêm ấy, tiếng sấm đầu mùa ì ùng rất xa. Nằm bên vợ, Trào quay mặt ra vì cái đói nôn nao dằn vặt. Trời này đi bới trộm khoai của hợp tác xã thì hết ý! Chứ không mai lấy gì ăn để đi làm? Chờ vợ ngủ say, anh cầm chiếc đèn pin, lẻn ra ngoài, nhằm thẳng cánh đồng Đượng Gai...
Đang mê mải đào bới được những củ khoai to bằng nắm tay, Trào chợt nghe đằng cuối ruộng có tiếng lúa dạt rào rạo, tiếng bước chân ngã huỳnh huỵch chuyển cả mặt đất. Tệ thật! Mới được vài củ... Anh vội kéo giỏ, xách thuổng lủi vào ruộng lúa ẩn nấp. Lũi qua được một bờ cỏ, Trào bỗng thấy tiếng trẻ con khóc, trong đêm rất vang. Bỏ cha rồi! Ma trẻ con? Nhưng làm gì có ma! Hay lũ mèo hoang động đực động cái, chúng cũng kêu thét y thế này? Không phải! Anh nghển cổ lên khỏi ngọn lúa, nín thở lắng nghe. Lại mấy tiếng “oa oa” nữa bật lên. Chân anh muốn khuỵu. Trẻ mới đẻ? Rõ ràng tiếng trẻ mới đẻ! Sao ai lại đẻ ngoài đồng giờ này? Lạ thật! Thì ta cứ giả đò người đi soi ếch xem sao! Trào trút khoai giấu góc ruộng, buộc chiếc giỏ vào thắt lưng, rồi hướng về chỗ có tiếng trẻ khóc. Trống ngực đập thình thịch. Chẳng thấy ai. Trào xộc xuống ruộng, lom khom một đoạn nữa. Anh trượt phải một đám rau khoai bị xéo nát và hình như có mùi máu. Một cú vấp ngã dúi, tay anh chạm ngay vào một bọc giẻ. Bọc giẻ chợt phát ra tiếng khóc oe oe yếu ớt. Chết rồi! Đứa nào ra đây đẻ hoang! Giời ơi là giời! Làm sao bây giờ? Trào lóng ngóng, ngơ ngác nhìn sâu vào đêm tối xem có ai và kẻ đẻ hoang kia còn lẩn quất ở đây không. Nhờ ánh trăng mờ và ánh chớp vỗ tay, anh nhận rõ mặt một đứa trẻ nhăn nhau, ướt nhượt, ọ ẹ trong bọc giẻ. Môi nó động đậy, chóp chép. Anh vội ôm quàng lấy cả bọc, bế lên ngang mặt, nựng nhẹ: Chao ôi! Con cái nhà ai thế này? Thôi cứ về nhà ta đã!...
Trào chạy vào sân, lập cập cạy cửa, gọi vợ: -Liên ơi! Dậy nào! Anh mang được cục vàng về cho em đây này! -Vàng... vàng nào? Thấy ở đâu? Đêm hôm khuya khoắt! Cứ hay đùa!  -Không, thật mà!
Liên vột ra mở cửa. Cô trố mắt nhìn chồng bê một cục khư khư lao vào nhà. Trào thở hổn hển: -Mau! Vặn to đèn lên! Vàng đây! Đứa bé này anh bế nó từ ngoài đồng... -Trời! Trẻ con! Một đứa trẻ sơ sinh? Anh thấy nó ở đâu? -Ngoài cánh đồng Đượng Gai... Không biết con mẹ nào đẻ xong lại nhẫn tâm bỏ nó ở luống khoai! Suýt nữa thì xéo phải. -Xa thế cơ à? Anh đi đâu từ nãy mà lại tới đó? -Nhỏ cái miệng thôi! Đi bới trộm khoai! Trời dun dủi cho mình đấy! Xem nó giống ai ở cái làng này? Hai người chụm đầu, soi kỹ. -Có mà giời biết nó giống ai. Ngộ người nơi khác đến đấy đẻ thì sao? Liên mừng rỡ reo lên: Con gái! Thật tuyệt vời! Chao ôi thương cái miệng nó quá anh ơi! Thế là em có đứa đầu giận cái chấy rồi!   
-Ư. Không chửa mà có là được phúc! Mai anh ra xã làm khai sinh luôn!...
Lặng đi một lát, bà Hảo lau khoé mắt, sụt sịt: Bà ơi! Lúc chúng tôi ngồi nghe chuyện, con bé đi lẫm chẫm cứ sà vào lòng tôi đòi bế. Đôi chân nó yếu ớt, lẩy bẩy, trông mới sái sẩm làm sao. Một bà cụ bảo: -Kể cháu cứng cáp đấy, nhưng có sữa mẹ đâu! Chị ấy vắt nhão cả hai bầu vú mà không sao có được nguồn sinh dưỡng của giời. Nuôi được nó qua những đận hu hi sài đẹn, đúng là vợ chồng hết da hết thịt. Lấy nhau bốn năm trời, chưa có một mặt con. Đang buồn tủi, lo nghĩ nhiều, đâm héo hắt. Tự dưng vàng dúi vào tay. Thật không gì bằng. Nhưng ai ngờ lại nước chảy chỗ thấp!  
Vợ chồng tôi ngỏ lời xin đứa bé về nuôi. Phải mấy ngày ở lại nhờ mọi người thuyết phục. Bà cụ hàng xóm dỗ dành: “Cứu được cháu về làm người là một chuyện, nhưng còn đường lớn lên, ăn học của nó? Thoạt trông tôi cũng biết anh chị ấy đây là chỗ tử tế. Thôi, anh cố nén lòng, cho con bé vào nhà người ta!”... Lâu lắm, người bố mới gật đầu vì biết thân mình tàn phế không thể nuôi được con. Cầm ít tiền tôi đưa gọi là thuốc thang, người đàn ông tàn tật bưng mặt khóc không ra tiếng. Bao nhiêu nước mắt, anh đã dốc cạn cho người vợ hiền xấu số: “Thôi, đến nước này, tôi cũng đành. Nhưng thỉnh thoảng anh chị nhớ dẫn cháu về thăm cho đỡ tủi...” Anh ôm chặt con vào lòng: “Trời không cho con ở với mẹ, với bố. Về nhà bố mẹ Hảo, con ngoan nhé! Khi nào lớn... nhớ.... Con ơi!...” Mọi người chứng kiến không ai cầm được nước mắt. Buộc tấm khăn kín cằm cho con bé kẻo lạnh, tôi an ủi: “Đây với Quang Châu, chẳng bao xa. Sẽ nuôi cháu nên người!...”
Ông Hảo đã mấy lần dẫn Trầm về thăm quê. Nhưng lần thứ hai thì bố Trào không còn nữa. Năm ấy Trầm vừa 9 tuổi. Thời nhọc nhằn của gia đình đã qua. Ông bà Hảo đã xây được ngôi nhà nhỏ và Trầm đã ăn học thành tài. Giờ đây, con bé Trầm ốm nhóc đã là một thiếu nữ tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, giữ đúng lời hứa thành cô giáo sẽ về với đảo. Chị Vân trên Trầm do ông bà sinh ra đã là một cán bộ phụ nữ, lấy chồng trong phố huyện. Hai chị em, nhìn kỹ, ông bà lại thấy chúng giống nhau từ dáng đi, nét đứng, từ đường ăn lẽ ở. Không chỉ hiếu thuận với ông bà, Trầm còn là người có nghĩa có tình với quê hương. Bà Hảo giãi lòng: -Cứ nghĩ đến chuyện ông Trào nhặt được nó ngoài cánh đồng là chúng tôi không nỡ mắng mỏ. Đời cũng lắm kẻ dã man. Ai lại đẻ con rồi, nỡ vùi đất bỏ đó. Một tẹm nữa thì con bé hoá cát bụi! Ông Hảo đặt tiếp chén nước vào tay bà Lan:
-Nhân gian chẳng khác gì thửa ruộng của đấng Tạo hoá. Bà nhỉ? Để gieo cấy được mùa màng Tạo hoá phải san chỗ nọ vào chỗ kia. Nếu không, vạn vật sẽ tuyệt giống! Có lẽ trời sắp đặt cho chúng tôi được gặp nhau trên đường nhân thế bà ạ! Ông Trào đã trao cho vợ chồng tôi một cục vàng! Ngày giỗ ông bà ấy, năm nào chúng tôi cũng cúng khấn chu đáo...
Những lời chân thật của ông bà Hảo đã vô tình như lưỡi dao sắc cứa từng khúc ruột bà Lan. Trái tim bà se lại, ngỡ cục vôi sắp rơi xuống nước, muốn tan biến. Con bé ấy, đúng nó đây rồi! Hòn sinh linh vô tội ấy đang hiện thân một cô giáo trước mặt bà! Gương mặt nó tươi sáng, đằm thắm lạ lùng. Một đoá hoa. Một thiên thần! Nếu không có những tấm lòng nhân ái thì đoá hoa ấy, thiên thần ấy sẽ là gì trên cõi trần gian? Vậy mà vì cơn khát trả thù ích kỷ, bà đã trốn chạy nó!... Tự vấn mình, bà Lan thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn trộm sang Trầm. Bà cố trấn tĩnh, nhưng vẫn thấy mình nhỏ bé hẳn đi. Trầm cũng linh cảm có gì đó rất lạ trong ánh nhìn của bà. Đằng sau ánh nhìn ấy là những suy tư, những nỗi niềm khó thổ lộ? Giọng bà Lan hơi lạc đi: -Kể ra tôi cũng có một đứa con gái... như con Trầm! Nhưng số kiếp đã hành tôi. Trông thế này, mà tôi rất vô duyên...
-Ấy bà đừng nói vậy! Thì bà đã có cậu kỹ sư trẻ? Thời buổi bây giờ sinh đẻ có hạn, chứ không đường con, đường của, bà chẳng kém ai!
-Vâng! Nhưng tôi vẫn thèm một mụn con gái! Dạ thưa... tôi muốn tuyển cháu Trầm vào công ty, cho cháu tiếp tục học cao học và công tác trong thành phố, liệu ông bà có vui lòng không? Tự dưng bà giám đốc buột miệng đặt vấn đề với ông bà Hảo và nhìn Trầm thăm dò: -Cháu nên thoát ly để đổi mới cuộc sống. Đời người, cơ hội chỉ đến có một lần. Chứ ở ngoài đảo... Xin ông bà và cháu hiểu cho ý tôi muốn nói ngoài đảo không có điều kiện để phát huy khả năng lâu dài...
-Việc này thì... Ông Hảo ngập ngừng nhìn Trầm: Do cháu...
-Cảm ơn bá. Cháu dạy học ở đây thế này là tốt, là hạnh phúc lắm rồi!... Tuy thiếu tình bố mẹ đẻ, nhưng cháu có tình bố mẹ nuôi cưu mang, dưỡng dục bấy nay... Đôi mắt Trầm nhoè ướt. Mới ngày nào theo đám trẻ trong xóm đi bắt ốc, đào sá sùng trên bãi biển... Mới ngày nào vừa học vừa chăn bò, đan lưới...  Hết trường làng, lại vào thị trấn lưu trú theo tiếp cấp ba, rồi vào Cao đẳng Sư phạm... Nhiều bạn bè chạy chọt xin ở lại thị trấn hoặc vào thành phố từng rủ Trầm: Mày đỗ điểm cao, có tài, có sắc, cứ “chạy”! Đi cửa nào, nhìn, họ cũng ưng! Chứ về đảo, mỗi lần vào phòng Giáo dục họp tập, xa hàng dặm sóng, mệt lắm! Người ta đang tìm cách chuồn khỏi vùng cát cô liêu không được. Còn mày chả hiểu nghĩ thế nào? Bám đảo để chết già ư?... Nhưng Trầm lại nghĩ khác: -Đảo xa còn nhiều khó khăn, mình càng phải về! Nơi ấy có bố mẹ, có người yêu, có đàn em nhỏ đang đợi. Những năm trước, mùa khai giảng nào Trầm và các bạn cũng đỏ hoe mắt ra bến ngóng chờ những chuyến tàu ra đảo, cả những chiếc thuyền nan, xem có các thầy, các cô cùng đi không. Và cũng bao lần khép năm học, thầy trò lại bịn rịn chia tay trên bến. Đợi con tàu khuất khỏi ghềnh đảo, Trầm và các bạn mới lặng lẽ quay về... Bây giờ, dọc con đường bê tông trải từ bến tàu đến cuối làng tận rừng trâm nguyên sinh đã mọc lên những ngôi nhà cao tầng khoe sắc màu tươi rói. Đấy là những ngôi nhà của dân có được nhờ những con tàu đánh cá tuyến khơi; nhờ bán đất đổi công trình do mấy năm nay các công ty, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân ra đảo thăm dò, đầu tư các dự án. Khu đất trung tâm làng tự nhiên có giá. Rồi đây, ngôi trường Quang Châu sẽ thay dáng vóc. Viên ngọc Quang Châu nạm chắc vào trái tim cô sẽ sáng trên biển xa... Trầm nhìn thẳng vào mắt bà Lan:
-Bá thông cảm! Dẫu cuộc sống vất vả đến đâu cháu cũng không bao giờ bỏ bố mẹ cháu một mình!... Bà Lan đỏ mặt, một thoáng cúi xuống, nghĩ bụng: Con bé có ánh nhìn thật thẳng thắn và cũng chính kiến ghê quá! Bà muốn ôm chầm lấy nó, mà đôi chân cứ bủn rủn, không cất lên được. Bà lại càng bất ngờ, choáng váng khi Trầm nói tiếp, nghẹn ngào:
-Bá ơi! Ngày một ngày hai, cháu sẽ về quê tìm bố mẹ đẻ...
Những ngày sau đó, hình ảnh cô giáo Trầm cứ ám ảnh mãi trong bà. Niềm u uẩn như dòng nước muốn tràn. Bà đã kể, nhưng chệch đi, cho cậu con trai câu chuyện về một người mẹ trong làng cùng trang tuổi với bà. Người mẹ đó đẻ con ngoài cánh đồng và bỏ chạy. Đứa con gái cũng nằm dưới vầng cày...
-Đấy là một người mẹ hèn đớn và khốn nạn! Ra đây, gặp cô giáo này, tự dưng mẹ bàng hoàng sao nó lại giống cái người đàn ông mà mẹ biết đã để nỗi đa mang cho bạn gái mẹ đến thế? Giống lắm con ạ!
-Hay là thật hở mẹ? Sao mẹ lại khóc? Người mẹ ấy còn sống không?
-Vì mẹ quá xúc động! Người ấy vẫn còn. Gã đàn ông thì... nghe đâu làm tới chức gì đó cũng to trên huyện. Nhưng lại dính vào mấy vụ tham nhũng đất đai, bị ra toà. Bẵng đã lâu mẹ chưa về quê ngoại. Nghĩ thương con bé, lại oán giận kẻ bạc tình!
-Hay mẹ cứ nói cho cô ấy biết người bạn của mẹ, để mình giúp cô ấy tìm về nhận xem sao?
-Khoan đã! Cô ấy chả thèm nhận người mẹ đốn mạt đó đâu! Vả lại, người mẹ ấy có gặp cũng chẳng còn mặt mũi nào dám nhìn đứa con. Sợ nói ra, bẽ bàng thì lại lôi thôi! Kể về “người khác” mà bà như kẻ tự thú trước con trai. Cảng khẳng định:
-Con thấy cô giáo đầy thân thiện! Ban đầu con đã thích ngay. Thế mới lạ! Chỉ tiếc là... cô ấy hơn tuổi con! Kể cũng chẳng sao! Đã yêu thì đắn đo gì tuổi tác. Phải không mBà giật mình, nghiêm nét mặ
-Không được hỗn! Con phải gọi cô giáo ấy bằng chị hẳn hoi! Là người có học, con không được phép nghĩ vớ vẩn! Đây là một cô giáo có bản lĩnh và lòng tự trọng. Mẹ con mình sẽ tìm hiểu và kết thân lấy chỗ đi lại làm ăn lâu dài...
Mùa biển nữa trôi qua. Những ngôi biệt thự như những bông hoa nở rộ trên vùng đảo cát trắng. Thêm lứa học trò lên lớp. Tình cảm giữa gia đình, giữa cô giáo Trầm với mẹ con bà giám đốc ngày càng gắn bó. Nhạy cảm và lo sợ bọn trẻ dễ bất ngờ vượt quá giới hạn, “xảy một ly đi một dặm”, mình sẽ vô tình mắc tội lần nữa, bà Lan gợi ý với Cảng: Con nên nhận Trầm làm chị. Mẹ sẽ là mẹ nhận của Trầm. Có một mình con, mẹ rất cần tình cảm! Sau một chút ngần ngừ, may mắn Cảng thuận ý và lập tức đi tìm Trầm. Trầm rất vui. Trong thâm tâm, cô cũng rất quí Cảng, coi như một cậu em trai. Nhớ hồi bé, chị em Trầm thường nũng nịu vòi mẹ Hảo: Bố mẹ sinh cho chúng con một đứa em giai!...
 Bà Lan xin ông bà Hảo được soạn một mâm cơm thắp nén hương kết nghĩa. Từ đó, hai chị em, hai nhà càng thêm thắm thiết. Có lần dãi dề, Cảng khoe: -Mẹ bảo chị rất giống một người ở làng mẹ em... Trầm ngạc nhiên: -Thật vậy ư? Tháng ba tới mùa Thanh minh, cậu về tạ mộ bố Trào, mẹ Liên với chị nhé! Chị em mình sẽ nhờ mẹ Lan đến nhà người ấy hỏi thăm xem... Biết đâu...
Trầm lấy chồng. Đêm đêm, bà Lan lại không chợp mắt. Trong nỗi mừng, là một nỗi buồn từ nay cuộc đời Trầm sẽ sang hướng khác. Cô sẽ xa khỏi tầm tay bà! Bấy lâu bà vẫn dằn vặt cõi lòng: Sao mình vẫn hèn nhát, không dám nhận con gái đẻ? Nhưng đôi mắt của nó? Hiền hậu đấy mà sao mình vẫn sợ?... Bà đã mưu mẹo dùng kế kết nghĩa chị em hòng chặn tình cảm dễ bột phát thành tình yêu nam nữ giữa hai đứa. Nhưng cố chặn bao nhiêu bà càng hụt hẫng bấy nhiêu. Bà sẽ không bao giờ thực hiện được ý đồ đưa Trầm về thành phố để mai ngày già lão, nơi đô thị phồn hoa bà vẫn được cảnh nhà có mẹ có con. Trớ trêu thay! Đứa con gái ngay trước mặt, mà bà chẳng thể với tới được ! 
Sau khi tặng trường làng đảo một số suất trợ cấp học sinh nghèo và học sinh giỏi, bà Lan quyết định tặng vợ chồng cô giáo Trầm một biệt thự xinh xắn cạnh rừng trâm ven bãi tắm. Sửng sốt, không tin nổi bỗng dưng lại có sự lạ kỳ này, vợ chồng Trầm và ông bà Hảo nhất mực từ chối. Bà Lan cười tươi tắn, cố giấu đi nỗi niềm:
-Tình cảm mới là vô biên, ông bà và các con ạ! Đời người ngắn ngủi, chết có mang được tiền của đi đâu. Đây gọi là tấm lòng thành của chúng tôi cho con gái nhận. Tôi hiếm hoi, con nhận cũng là con đẻ!... Bà run run trao cho Trầm một chiếc phong bì to gấp bằng tấm bìa màu hồng dán kín. Trong đó, bà đã giấu một bức thư riêng: Đây là giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu nhà đất của các con, mẹ đã vào huyện làm xong! Con hãy giữ lấy. Nhưng mẹ yêu cầu chỉ khi nào về tới đất liền, mẹ điện lại, các con mới được mở ra! Nào, hãy hứa đi!
Trầm càng ngỡ ngàng như người trong mộng. Trên đời sao lại có một người đàn bà, một người mẹ nhận tốt bụng đến vậy? Đằng sau lòng tốt là gì đây? Đọc được ý nghĩ của Trầm, bà Lan đắm đuối cầm chặt tay cả hai vợ chồng, tưởng nghẹt thở: -Các con tin mẹ đi. Đó là niềm hạnh phúc của mẹ mà!
Sáng nay mẹ con bà Lan cùng các cán bộ công ty xuống tàu về đất liền tiếp tục công trình mới. Con tàu lướt nhanh trên vịnh biếc. Dân xứ đảo nói chuyện ồn ào như sóng. Mọi ngày bà rất thích nghe những câu chuyện không đầu không cuối của họ. Nhưng lúc này, bà thèm một không gian yên lặng quá, vì bao ý nghĩ đang ngổn ngang, vò xé trong lòng. Bà vừa mừng xong một công việc, đúng ra một sự đền đắp, nhưng lại vừa sầu muộn vì một nỗi dở dang. Sau đây bà sẽ về quê cúi lạy trước linh hồn ông bà Trào. Bà sẽ tìm lối cỏ xưa, đến cái nơi bà đã bỏ hòn sinh linh, đã vứt nhúm rau, để tạ tội cánh đồng... Kéo con trai lại gần, giọng bà não nùng, đẫm lệ, nhưng rất rõ: -Cảng ơi! Bây giờ, mẹ mới nói với con một điều hệ trọng...
-Vâng! Con xin nghe. Mẹ lại bảo con lấy vợ chứ gì? Liệu ở thành phố có người như chị Trầm không ?
-Đâu cũng có người tốt con ạ! Rồi con sẽ gặp người như chị con... Nhưng mẹ muốn nói cho con hiểu một điều... Con ơi! Trầm chính là con đẻ của mẹ, là chị ruột của con!
- Trời ơi! Sao cơ này mẹ mới nói với con?                    

 Tháng 2-2009 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 19.04.2014.