Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Từ Di Cảo Của Cha Tôi






Ai cũng có một người cha. Nhưng mỗi người cha thường để lại trong lòng con cháu những ấn tượng khác nhau. Cha tôi không phải là người nổi tiếng, không danh vị chức tước cao sang, nhưng cụ thật sự là một người cha khả kính, một người cha với đầy đủ phẩm chất mà tạo hóa đã ban cho.

       Cha tôi là Hoàng Bá Chuân, hiệu Minh Sơn, một nhà Nho, gốc Mạc, hậu duệ của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và của Hoàng đế Mạc Đăng Dung. Cụ tổ nhánh chúng tôi là một hoàng tử, phải thay tên đổi họ bởi lệnh tru di tam tộc của vua Lê - chúa Trịnh, di cư vào vùng đất Bố Chính (Quảng Bình ngày nay) khai phá điền thổ và đã tạo lập nên một chi họ lớn bây giờ. Cha tôi là trưởng tộc của chi họ đó. Có lẽ vì tiếp thu cái gene di truyền từ cụ Thái tổ Mạc Đĩnh Chi mà dù điều kiện học hành thi cử gặp thời suy vi, bị hạn chế, cha tôi cũng thông thuộc “tứ thư” “ngũ kinh”, trở thành một nhà Nho khá tiếng tăm của cả một vùng. Suốt cuộc đời cha tôi đã sáng tác hàng ngàn bài thơ, hàng trăm bài văn, bài phú và vô số câu đối cả bằng Hán tự và bằng quốc ngữ. Cũng cần nói thêm là cả chữ Hán và chữ quốc ngữ, cha tôi đều hầu như hoàn toàn tự học. Do điều kiện chiến tranh, nhà bị đốt, phải chạy giặc khắp nơi qua thời Nhật chiếm đóng và qua 2 cuộc kháng chiến dài lâu, các tác phẩm của cụ đã thất lạc mất mát rất nhiều. Tuy vậy, trước khi vĩnh viễn ra đi cụ còn để lại cho con cháu 5 tập văn thơ chép tay, trong đó có 1 tập là thơ chữ Hán. Cứ như thời buổi bây giờ, có sẵn điều kiện xuất bản và in ấn thì có lẽ cụ đã có hàng chục tác phẩm văn chương trình diện với đời. Gần đây anh em chúng tôi đã cố gắng sao chép và in một phần trong số đó, thành một tập với chừng trên 300 bài thơ, một số bài văn và câu đối để bảo tồn di cảo của cụ.
       Năm tròn 80 tuổi, cha tôi đã làm bài thơ “Bát tuần tự vịnh” để tổng kết cuộc đời, để giáo huấn và nêu gương cho con cháu. Bài thơ đó tôi xin được chép ra đây:

Bát tuần đã trải việc đời nhiều
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
Nhân hậu thói nhà in một nếp
Trung kiên việc nước đủ trăm chiều
Lòng son phới phới vầng trăng dọi
Tóc bạc phơ phơ ngọn gió phiêu
Hôm sớm sân Lai (*) thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo!

       Khi đọc bài thơ này chắc mọi người cũng hình dung ra được cái cốt cách nhà Nho trong con người cha tôi. Một nhà Nho thật sự chân chính bao giờ cũng đặt nghĩa nước lên trên tình nhà, đặt tinh thần lên trên vật chất và không bao giờ hệ lụy cầu mong phú quý vinh hoa. Suốt cuộc đời cha tôi đã làm theo điều đó và luôn dạy anh em con cháu chúng tôi điều đó. Cha tôi đã động viên anh em con cháu chúng tôi lên đường cứu nước, không ngại hy sinh, không nề gian khổ. Bản thân cả cha và mẹ tôi đều tham gia kháng chiến, hoạt động ngay trong vùng du kích rất gian khổ và hiểm nguy. Các cụ đã tự tay “tiêu thổ kháng chiến” theo lời hiệu triệu của Bác Hồ. Cha tôi là hội trưởng Hội Liên Việt địa phương trong những năm kháng chiến chống Pháp. Mẹ tôi cũng là hội trưởng hội Mẹ chiến sĩ. Từ thập kỷ 50 của thế kỷ trước, cha tôi đã từng hiến tất cả tài sản ruộng vườn cho chính quyền địa phương, không giữ lại một thứ gì ngoài hai bàn tay trắng với niềm tin vô hạn vào sự thành công của cách mạng. Cũng với niềm tin đó mà cha tôi đã là tấm gương để chúng tôi mãi mãi noi theo, tuyệt đối trung thành với nước với dân, sẵn sàng hy sinh vì nước vì dân.
       Cha mẹ tôi sinh được 7 người con, toàn trai. Người ta vẫn thường nói là các cụ có thất hiền. Là một gia đình làm ruộng nghèo, sống ở một vùng quê nghèo nàn khắc nghiệt nhưng cha mẹ tôi luôn coi trọng việc học hành của con cái. Anh cả tôi là Hoàng Bá Trình luôn ốm yếu nên không thể đi học trường xa, nhưng anh vẫn được cha tôi cho học hành đầy đủ ngay ở quê nhà. Tôi còn nhớ anh là người viết chữ rất đẹp, ít có ai sánh bằng. Người anh thứ hai của tôi là Hoàng Thúc Cảnh sau khi học xong bậc tiểu học ở quê nhà, được cha tôi động viên, khuyến khích, đã tìm được chỗ làm gia sư ở An Cựu (Huế) để có điều kiện đi học tiếp trung học. Anh xin vào học trường trung học Thuận Hóa do cụ Tôn Quang Phiệt cùng những nhà cách mạng và những trí thức nổi tiếng phụ trách, như các cụ Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh, Trần Đình Đàn, Hoài Thanh, Tế Hanh, Nguyễn Đỗ Cung … Chính nhờ học ở ngôi trường này, được đích thân thầy Tôn Quang Phiệt dìu dắt mà anh Cảnh đã dần dần đi theo cách mạng, hoạt động từ những ngày còn trong bí mật. Vì nhà nghèo, cha mẹ không thể chu cấp nên anh Cảnh vừa phải làm gia sư vừa đi học. Được chừng hơn 2 năm thì anh Cảnh kéo thêm người anh thứ 3 của tôi là anh Hoàng Thúc Tuệ vào theo. Anh Tuệ cũng vào Huế, cũng đi làm gia sư, cũng học trường Thuận Hóa. Anh Tuệ cũng nối tiếp anh Cảnh tham gia hoạt động cách mạng. Khi anh Cảnh ra trường đi làm ngoài tỉnh Thanh Hóa thì anh thứ tư của tôi là Hoàng Thúc Cẩn tiếp tục vào Huế, cũng lại làm gia sư, cũng lại học ở trường Thuận Hóa. Bằng nghề gia sư các anh tôi đã “cõng” nhau đi học. Có thể nói trường Thuận Hóa của cụ Tôn Quang Phiệt là vườn ươm, đào tạo biết bao nhiêu thanh niên, trong đó có các anh tôi, trở thành những trí thức, những nhà cách mạng, những cán bộ cao cấp sau này. Và cũng có thể khẳng định rằng cha tôi là người đã đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp của tất cả các con, và cả thế hệ các cháu sau này.
       Cách mạng tháng 8 bùng nổ, anh Cảnh tham gia cướp chính quyền ở Thanh Hóa, anh Tuệ và anh Cẩn thì tham gia ở ngay tỉnh nhà. Cũng từ đó các anh trở thành những cán bộ cách mạng trên nhiều cương vị khác nhau. Anh Cảnh công tác ở Liên Khu 4, có thời gian là bí thư của cụ Hồ Tùng Mậu trước khi cụ mất. Anh đã công tác liên tục tại Văn phòng Chính phủ suốt gần bốn chục năm liền cho tới ngày về hưu. Anh Tuệ vào học khóa 1 Trường sĩ quan Lục quân Quảng Ngãi ngay từ năm 1946 và giữ nghiệp binh cho đến cuối đời. Anh từng là người chỉ huy đánh thắng trận Phù Trịch trên sông Gianh, cuối năm 1949, một trong những trận thắng lớn, nổi tiếng, ở vùng đất Quảng Bình. Anh Tuệ cũng đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên lịch sử. Anh là một sĩ quan cao cấp ở Bộ Tổng Tham mưu cho đến khi về hưu. Anh đã mất từ năm 2004. Anh Cẩn cũng giữ nghiệp binh, một sĩ quan cao cấp. Anh là người chỉ huy đánh trận Phát Diệm, năm 1951, nả loạt pháo phủ đầu viên đại tướng Đờ Tat xi nhi khi ông ta đến đây họp bàn âm mưu đánh phá chúng ta. Trong chiến dịch Hòa Bình (1952) anh từng được “truy điệu”, nhưng đã chỉ huy đơn vị tự giải vây trở về sau hàng tuần bị địch vây hảm, bị mất liên lạc và hoàn toàn bị chia cắt khỏi đại quân. Anh Cẩn sau khi về hưu đã trở thành một người viết văn không chuyên.
       Người anh thứ tư của tôi là Hoàng Thúc Tấn, khi cách mạng thành công thì mới học xong tiểu học. Anh từng là học sinh trường Thiếu sinh quân Liên Khu 4 của Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn. Cuối năm 1953 anh chính thức thành anh bộ đội cụ Hồ. Sau khi đi học đại học ở Liên Xô về, anh trở thành một cán bộ kinh tế đối ngoại. Anh từng là Phó chủ nhiệm (thứ trưởng) Văn phòng Chính phủ, Phó đại diện thường trực Chính phủ Việt Nam tại Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV). Anh thứ 6 là Hoàng Quý Thân, cũng từng phải làm gia sư để đi học ở Nghệ An trong những năm kháng chiến, xa nhà. Anh đã nhận bằng tiến sĩ ngành Hệ thống Điện tại Hungari, từng phụ trách hợp tác quốc tế của Uỷ ban Xây dựng Cơ bản Nhà Nước, từng đi dạy đại học ở Angeri. Người con thứ 7 của cụ chính là tôi, nay đã ở tuổi xấp xỉ 70, từng là anh bộ đội, là kỹ sư Vô tuyến điện, là nhà giáo và nay là một nhà thơ. Tôi là người con duy nhất theo đòi nghiệp thi thơ của cụ, mặc dù hầu hết các anh đều có viết văn và đều được cha tôi dạy làm thơ từ bé. Anh Cẩn đã xuất bản 2 tập truyện ký và đang in tiếp tập thứ 3; các anh khác cũng đã viết nhiều bài báo.
       Mẹ tôi và anh cả tôi đã mất trong thời kháng chiến chống Pháp. Cũng như cha tôi, mẹ và anh cả tôi không có cái may mắn được hưởng trọn một ngày bình yên, được hưởng niềm vui ngày đại thắng, được hưởng phút giờ đoàn tụ cùng anh em con cháu. Ngoài anh cả và tôi thì 5 người anh còn lại đều đã từng “cùng tiến vào 5 cửa ô” trong ngày giải phóng thủ đô (10/10/1954), mà nhiều báo và đài phát thanh đã nhiều lần nói tới. Đất nước thống nhất, tất cả con cháu của các cụ đã trở về họp mặt và bắt tay vào xây dựng đất nước, xây dựng gia đình ngày càng phát triển. Từ 2 cụ, sau khoảng 90 năm, nay con cháu đã lên tới 74 người, có rất nhiều người thành đạt, nhiều người được tặng thưởng huân huy chương, trong đó có 2 huân chương độc lập, 2 huân chương quân công, rất nhiều huân chương kháng chiến, huân chương chiến công, huân chương lao động và có tới 4 huân chương chiến thắng của nước Lào anh em trao tặng... Bản thân cụ được Nhà nước tặng “Bảng vàng danh dự” và được UBND tỉnh Quảng Bình mời, với tư cách là người có công với cách mạng, tham dự buổi đón tiếp Hồ Chủ Tịch, khi người vào thăm Quảng Bình năm 1957. Ngày nay, thế hệ các cháu cũng đã có nhiều người trở thành cán bộ trung cao cấp, trở thành nhà quản lý hay nhà khoa học, đã từng in lại dấu chân trên khắp bốn biển năm châu. Đó là sự khẳng định công lao của cả gia đình, của chính cha mẹ tôi. Đó cũng chính là phúc ấm tổ tiên, là phúc ấm mà cha mẹ tôi tạo dựng.
       Tuy mỗi người đứng ở một cương vị khác nhau nhưng có thể nói gia đình chúng tôi mà công đầu là của cha mẹ tôi, đã góp một phần đáng kể công sức vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ, xây dựng Tổ quốc. Đây chính là điều mà tôi nói cha tôi là một người bình thường nhưng cũng thật lớn lao. Cụ thực sự là một người tiêu biểu, một điển hình về một công dân, một người cha đất Việt.
       Cha tôi là một nhà Nho, cũng có thể nói cụ là một nhà thơ, tuy không nổi danh tên tuổi. Có lẽ chỉ ai đọc tập di cảo của cụ mới có thể khẳng định điều đó.
       Năm 1946, khi cách mạng mới thành công ít lâu, Cụ Huỳnh Thúc Kháng làm giám khảo hai cuộc thi thơ để mừng xuân Bính Tuất và để cổ vũ phong trào Bình dân học vụ trong toàn bộ các tỉnh Trung Kỳ. Cha tôi đã dự thi và đoạt giải. Năm 1948, nhân ngày “Thương binh liệt sĩ”, Liên Khu 4 tổ chức cuộc thi viết “Văn tế liệt sĩ”, cha tôi cũng đoạt giải nhất. Và còn nhiều giải thưởng khác ở Quảng Bình và Hà Nội sau này. Điều đó cũng đã nói lên một phần nào mức độ chất lượng các sáng tác của cụ.
       Năm 1951, nhân hội nghị Phụ lão toàn quốc, Hồ Chủ tịch có gửi cho các cụ một bức thư. Đó là một bài thơ thể thất ngôn khá dài (46 câu) viết theo mạch vận “Tam thiên tự”: “Phụ lão ta chín mươi lăm phần trăm thống nhất/ Đoàn kết lại như thiên trời địa đất/ Đồng nhất tâm cử cất tồn còn/ Ông cha ta gây dựng nước non/ Để truyền lại tử con tôn cháu …”. Cha tôi đã có một bài họa đáp lại kịp thời và đã kính dâng lên Bác: “Công đức Cụ như thiên trời địa đất/ Chúng ta nên cử cất tồn còn/ Bắt tay nhau giữ lấy nước non/ Cho hưng vượng tử con tôn cháu…” Bài thơ của Bác và bài họa của cha tôi (dài tới 56 câu) mấy năm trước chúng tôi đã cho đăng trên nhiều tờ báo như báo Văn nghệ, tạp chí Kiến thức ngày nay, tạp chí Xưa & Nay và cũng đã in trong một số tập sách như tập “Hồ Chí Minh – hiện thân của Văn hóa, Hòa bình” . Người đọc có thể nhận thấy sự uyên thâm của Bác, sự nhạy cảm, kịp thời và cả tấm lòng của cha tôi đối với Bác, với cách mạng và kháng chiến.
       Trong di cảo của cha tôi có đủ thể loại, có lắm đề tài, từ những bài gia huấn đến những bài ca ngợi Bác, ca ngợi cách mạng; từ vịnh cảnh, vịnh tình, đến vịnh quê hương đất nước và cổ vũ phong trào kháng chiến kiến quốc; thậm chí có cả thơ châm biếm đã kích. Nhưng có lẽ mảng thơ viết về gia đình, về mẹ tôi, về con cháu làm cho chúng tôi xúc động sâu sắc nhất. Khi mẹ tôi mất (1951), cha tôi đã viết: “… Rồi đây đánh giặc giặc tan/ Đoàn con cứu quốc khải hoàn thăm quê/ Nhớ lời mẹ dặn ngày về …” Các anh tôi lên đường đi kháng chiến theo lời động viên của Tổ quốc và của chính cha mẹ tôi, nhưng sau ngày đại thắng các anh đã không bao giờ được gặp lại mẹ! Khi mẹ tôi mất, anh Cảnh đang ở Việt Bắc, anh Tuệ ở mặt trận Thượng Lào, anh Cẩn tham gia chiến dịch Hòa Bình, anh Tấn học ở Nghệ An, còn anh Thân cũng học ở Nghệ An may vừa về kịp. Anh cả tôi thì đang đau yếu. Chỉ một mình tôi là đứa con út ít nhỏ nhoi luôn được gần bên mẹ. Chỉ tiếc là tôi quá bé nên chưa đỡ đần được gì cho mẹ.
       Trước đây mọi công việc ruộng vườn đều do một tay mẹ tôi lo toan tất cả. Quê tôi khi ấy là vùng du kích. Mẹ vừa hoạt động, làm hội trưởng hội Mẹ Chiến sĩ, vừa làm cơ sở bí mật cho bộ đội về nắm tình hình đồn bốt địch, vừa chạy đi chạy lại giữa vùng tạm chiếm và vùng tự do, vừa cày cấy để nuôi hai cha con tôi đang tản cư ở một vùng giáp ranh. Mẹ mất đi, cha tôi phải gánh lấy việc cấy cày. Là một nhà Nho, chỉ quen bút nghiên sách vở, để nuôi thân và nuôi con (khi ấy tôi mới chưa đầy 9 tuổi), đến tuổi 60 rồi cha tôi lại phải bắt đầu tự cuốc xới vun trồng. Cũng cần nói thêm là hồi ấy người ngoài 50 tuổi đã gọi là già lão. Tuổi 50, thậm chí là 40 người ta đã làm lễ mừng thọ. Năm 1945 Bác Hồ mới 55 tuổi mà mọi người đều gọi “Cụ”, gọi “Cha già”. Cha tôi chỉ kém Bác 2 tuổi. Tôi không nhớ rõ là từ bao giờ nhưng khi ấy cha tôi đã rụng không còn một chiếc răng nào. Ở tuổi 60 cụ đã trông già lắm, má hóp, râu dài, chỉ đôi mắt là luôn giữ nét tinh anh. Hai cha con tôi trồng khoai, trồng bí và trồng hành tỏi. Mọi việc rồi cũng quen dần, chúng tôi có đủ cái ăn và cả cái để dành. Tôi còn nhớ, có năm chúng tôi thu hoạch tới hơn 150 quả bí ngô, quả rất to, có quả 2 người khiêng mới nổi. Có lần cha tôi tặng cho bộ đội đang đóng quân trong xóm 1 quả bí ngô mà nấu chè lên đủ cho gần trung đội cùng ăn. Những lúc cần tiền để mua một thứ gì, tôi lại mang khoai, mang bí, mang hành tỏi đi chợ bán. Đúng là: “Đói thì đầu gối biêt bò/ Cái chân hay chạy, cái giò hay đi!”. Việc chợ búa hoàn toàn do tôi đảm nhận. Mỗi chiều đi bán khoai, bán bí hay bán hành tỏi (tôi thường phải đi chợ chiều mặc dù hơi xa, vì buổi sáng còn bận đi học), thường chỉ đủ tiền mua vài lon gạo hoặc chai nước mắm, có khi chỉ mua được lưng chai dầu hỏa, chẳng mấy khi có tiền thừa để mua quà dù chỉ tấm bánh đa. Bữa ăn đạm bạc, một phần cơm, bốn phần khoai, đã khi có khi không, lấy đâu tiền để bồi dưỡng cho tuổi già sức yếu! Mỗi hào bạc đều phải chắt chiu dành dụm. Một lần bán xong mớ tỏi thì đã nhá nhem tối, không kìm được cái thèm cộng chung cái đói, tôi đã liều mua một miếng kẹo mè xửng bằng hai ngón tay và nhấm nháp suốt trên quảng đường về rét mướt tối om. Miếng kẹo thật ngon, ngon như chưa bao giờ có miếng kẹo nào ngon như vậy, tôi vẫn nhớ tới bây giờ. Tôi đã ăn vụng cha tôi! Miếng kẹo ấy giá như tôi không mua thì có thể dành tiền mua thêm nắm tép cho bữa tối của cả hai người. Về sau tôi cứ ân hận mãi vì miếng kẹo này. Tôi biết là nếu có nói ra thì cha tôi cũng vui lòng, không trách cứ gì đâu. Nhưng tôi đã ăn vụng cha tôi, thật là xấu hổ. Tôi đã có dịp chuộc lỗi khi một thời gian sau đó, trong thời kỳ “giảm tô” cha tôi bị quy địa chủ, bị tịch thu tài sản, bị tập trung cải tạo, thiếu thốn đủ đường, tôi đã cố lầm lũi đi mót khoai và dành dụm được lưng rổ khoai tương đối lành lặn, tiếp tế cho cha, trong khi bản thân tôi cũng đang rất đói ăn. Khi tôi đã ra Hà Nội, cha tôi một mình ở lại trong quê. Cải cách ruộng đất, do sự ấu trĩ của những người nông dân thất học bị kích động mà mặc dù nhà nghèo, chỉ có hơn mẩu ruộng, có 5 người con và cả bản thân cụ đã thoát ly đi kháng chiến, cụ vẫn bị quy địa chủ, bị đấu tố nhục hình rất dã man tàn ác. Người ta đã sỉ nhục cụ nào là nhà Nho, nào là có nhiều con đi kháng chiến mà không một ai ... tử trận! Thật là vô lý và kỳ cục! Chúng tôi đều ở xa, chỉ được nghe bà con kể lại mà đau lòng quặn thắt. Sau khi được sửa sai (“hạ bậc” xuống trung nông lớp dưới!), cha tôi không những không oán thù, không đòi lại những gì mất mát mà còn đem hiến tất cả tài sản cho chính quyền địa phương. Với cụ, của cải chỉ là “phù vân”, nên cụ thường căn dặn chúng tôi cái triết lý “sắc sắc không không” của đạo Phật và cái triết lý nhà Nho: “Của phù vân rày có mai không”. Điều đó đã làm cho chúng tôi suy nghĩ rất nhiều về cách hành xử trong đời của cụ. Cha tôi đã bỏ qua tất cả những gì đau khổ, uất ức từng nếm trải, không thù hận, không oán trách cả những người đã một thời dùng nhục hình hành hạ, đầy ải cụ. Đấy chính là cách hành xử của một bậc túc Nho. Cụ chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Nho hay đạo Phật? Có lẽ cả hai, mặc dù cụ không là tín đồ của một tôn giáo nào. Sau khi được “sửa sai”, cha tôi tiếp tục sống ở quê một mình, không chịu ra Hà Nội cùng các con. Lý do rất đơn giản, đó là vì cha tôi không thể xa bàn thờ tiên tổ, không thể xa nấm mộ mẹ tôi, cũng không muốn xa xóm làng, bà con thân thuộc. Mãi tới năm 1966, chiến tranh ác liệt, được tỉnh giúp, cha tôi mới ra Hà Nội sống cùng anh em chúng tôi. Nhiều khi thấy cha tôi móm mém nhai mà chúng tôi ứa nước mắt. Cha tôi không còn răng nhưng cụ cũng không chịu làm răng giả để có thể ăn ngay cả những món ăn quen thuộc mà thời trẻ cụ thường yêu thích! Những năm tháng bị quy kết và nhục hình oan nghiệt làm cho cụ đã già càng thêm già yếu! Chỉ có mặt tinh thần là cụ luôn phấn khởi lạc quan.
       Ra Hà Nội chẳng bao lâu cha tôi đã kết giao được với nhiều cụ nhà Nho đất Hà Thành. Đó là các cụ Tùng Lĩnh, Lăng Vân, Công Bình, Đại Trạch, Chấn Hưng (thân sinh của nhà thơ-giáo sư Phạm Huy Thông), Lê Hào, nữ sĩ Ngân Giang… Các cụ lập thành tổ thơ Hoàn Kiếm, một dạng câu lạc bộ thơ như bây giờ, hoạt động rất sôi nổi. Có lẽ nhờ hoạt động này mà cha tôi dường như khỏe ra, dường như trẻ lại. Suốt ngày các cụ họp mặt, đến thăm viếng nhà nhau, ngồi ngâm nga, xướng họa. Cha tôi cũng đã từng họa thơ các cụ Trần Huy Liệu, Phan Anh, Xuân Thủy, Đào Duy Anh, Hoàng Trung Thông, Lê Xung Kích và rất nhiều người khác. Nhiều bài thơ của cụ đã được in trên các báo Cứu Quốc, Thống Nhất, Độc lập ... Báo Cứu Quốc số 3572 ra ngày 16/1/1972, trong bài tổng kết cuộc họa thơ “Cây cao bóng cả” của Bộ trưởng Phan Anh có viết: “...Một buổi tối mùa hè 1971, lúc 8 giờ , cụ Hoàng Bá Chuân, một nhà Nho lão thành ở 64 Hàng Bạc Hà Nội, tới tòa soạn cùng với con là kỹ sư Hoàng Gia Cương đưa thơ họa mà cụ vừa sửa lại. Đồng chí Hoàng Gia Cương cũng đã họa một bài. Cụ Chuân còn có 3 người con nữa là kỹ sư Hoàng Thúc Tấn, đại úy Mai Cẩn (tức Hoàng Thúc Cẩn) và đồng chí Hoàng Quý Thân, nghiên cứu sinh hiện đang học ở nước bạn Hungari. Cả 3 đồng chí đó đều có thơ họa gửi tới tòa soạn. Thơ họa của đồng chí Thân từ thủ đô Budapest gửi về. Tất cả những bài thơ của gia đình cụ đều mỗi bài một vẻ khác nhau ...”
       Tuy cùng ở Hà Nội nhưng anh em chúng tôi mỗi người mỗi phường, mỗi quận, cách nhau khá xa. Vậy mà vào ngày chủ nhật hay nghĩ lễ là cha tôi lại theo tầu điện hay cuốc bộ một vòng, đến từng nhà thăm con cháu. Chiến tranh lan ra Hà Nội, cụ cũng đi sơ tán như mọi người. Đi sơ tán, các cụ trong tổ thơ vẫn tìm cách liên lạc với nhau, gửi cho nhau tác phẩm mới và mời nhau xướng họa. Cụ Lê Hào gửi cho cha tôi: “Trông mây thì nhớ Lăng Vân/ Trông cây Tam Đảo nhớ gần Minh Sơn/ Ngàn trùng cách trở nước non/ Xa xa Tùng Lĩnh nghe chòm thông reo...” Cụ Lăng Vân thì viết: “Minh Sơn ơi, bác Minh Sơn ơi/ Nhớ ai ai có nhớ chăng ai ?…” Cha tôi gửi các cụ: “Hội nghị Diên Hồng đành vắng mặt/ Xa xa khát vọng quặn lòng thơ”. Cụ Lăng Vân lại viết thư trả lời: “Tổ thơ Hoàn Kiếm thường xuyên họp/ Chống Mỹ không ngừng cất tiếng tơ”
       Đây không phải là một bài điểm thơ nên tôi không muốn trích nhiều. Tôi chỉ muốn nói lên một điều là cha tôi tuy lắm lúc nổi chìm sóng gió vẫn luôn là một người lạc quan yêu đời. Cụ có một tâm hồn thanh thản, nhân hậu mà không phải người nào cũng có thể đạt được. Với tôi, đó thật sự là cái lớn lao mà suốt đời anh em con cháu chúng tôi luôn hướng tới và luôn mong đạt tới.
       Ở cõi vĩnh hằng chắc hẳn cha tôi đã siêu sinh tịnh độ. Tôi tin rằng những người sống nhân hậu, luôn có một tâm hồn rộng mở thì dù có về cõi vĩnh hằng vẫn luôn để lại trong lòng mọi người, không riêng gì con cháu, một ấn tượng sâu sắc không thể nào phai.

9/2008

*Sân Lai: Theo điển tích: Lão Lai Tử khi đã về già hàng ngày vẫn đến trước mặt cha mẹ làm trò cho cha mẹ vui. Sân Lai có nghĩa là sân nhà cha mẹ.
**Bài này đã in trên báo "An ninh thế giới cuối tháng"số tháng 9/2008.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 19.04.2014.