Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHƯ ÁNG MÂY TRÔI





ĐÔI LỜI TÂM SỰ

Tôi đang bước vào tuổi 67, cái tuổi chưa quá già - mà cũng không còn trẻ nữa! Người ta thường có suy nghĩ, viét “Hồi Ký” là chỉ dành cho người già? Tôi không nghĩ vậy. Viết về đời mình mà cũng quy định “già/trẻ” sao? Điều quan trọng là mình có “thích viết” hay không, có gì cần ôn nhớ lại hay không, và sau cùng là nên “viết như thế nào”? Nếu thấy “thích”, thì hãy cứ viết… Có sao đâu?

Có một người bạn rất thân, đã nói với tôi: “Thời đại ngày nay - trong xã hội luôn quý trọng phương tiện khoa học kỹ thuật làm nền tảng cho đời sống, người ta đánh giá sự thành đạt, vinh hiển, đáng nhớ, là ở sự giàu sang, danh vọng! Kẻ không giàu có, là “phó thường dân hạng bét” (chữ của nhà thơ Trần Huiền Ân), lại nghèo nữa, thì được xem là kẻ bất tài, kém cỏi; sẽ chẳng được ai nể trọng cả, nếu không muốn nói là sẽ bị khinh rẻ, thấm chí xa lánh; thì viết Hồi Ký để làm gì, ai thèm dọc?”

Cũng có bạn bảo: “Viết Hòi Ký chỉ để dành cho danh nhân, thiên tài (vvv), chứ “vô danh tiểu tốt” như ta, thì viết làm chi?”

Lại một người bạn thân thiết nữa góp ý: “Viết hồi ký, là viết về “mình”, về “cái ta” (cái “ngã” đáng ghét), sao tránh khỏi chủ quan, sao tránh được lời người cho là mình tự “tô hồng” cho cá nhân, tự đề cao, tự mãn (và rất nhiều cái “tự” khó ưa khác)?”

Chỉ vừa mới nhắc qua ba nhận xét “đơn giản” thôi, tôi cảm thấy (và tự xét), mình là người không đủ “điều kiện”, và khả năng viết Hồi Ký theo “quan điểm”… thông thường ấy được rồi!

Lời người đời là vậy, nhưng tôi lại có cái nghĩ riêng cho mình, để làm việc tôi “thích”: Tôi viết cho những giờ phút cô dộc, phiền muộn đã và dang bước qua đời sống tôi, một cách trống rổng, vô vị; để chia sẻ “đôi điều” đã trải nghiệm, cùng người thân, bạn bè! Tôi xem từng trang viết là một “phút thư giãn”, để an ủi và xoa dịu cuộc sống tôi, như bao “trò chơi” khác mà con người đang ham thích như mê làm giàu, ham danh vọng, chơi cây kiểng, đá gà, cờ tướng (vvv). Chỉ giản dị có vậy thôi.

Từ rất lâu, tôi có suy nghĩ: Đời người là một chuỗi dài nhân duyên huyền vi, linh hoạt, biến chuyển không ngừng, mãi cho đến ngày kết thúc (và lại tiếp tục…). Duyên khởt trùng trùng, nhưng không vô tình, mà chính là do duyên nghiệp mầu nhiệm kết tụ. Nếu không là bậc cao tăng đắc đạo, thì không có ai có thể “nghĩ bàn” (hay biết trước) về dòng nhân duyên từng sát-na ngày đêm trôi chảy qua đời mình…

Có lẽ mỗi người là một chiếc lá trên dòng nước cuộc đời chảy xiết, một áng mây lửng lơ trên nền cao vời vợi của cõi trầm luân, không hẹn trước sẽ tấp vào bến bờ ghềnh thác nào, hay sẽ tan rã giữa xanh thẳm vô biên cõi tạm nào!

Ở gần vào tuổi “xưa nay hiếm”, tôi lại cảm thấy dòng thời gian trôi qua đời mình chậm - rất chậm! Thời gian không ồ ạt cuồn cuộn như thuở thanh xuân; cũng không rộn ràng, réo gọi như thời trung niên năm mươi nữa; mà dòng thời gian tháng năm gần cuối đời như ngày càng lơ lửng, nhẹ nhàng, chậm chạp hơn!

Trong cái “lắng đọng” của thời gian ở tuổi gần 70, đã trải qua bao thăng trầm lận đận, tôi chợt nhận ra cuộc đời tôi đã từng có bao “duyên lành” linh nhiệm dẫn dắt, che chở, và đưa tôi từng bước đi vào đời cho đến hôm nay (và cả mai sau): Tôi muốn ôn nhớ lại, ghi lại - cho dù chưa thật trọn vẹn, bởi thời gian trải dài trên mấy chục năm lận đận, trí nhớ cũng dần hao mòn vì bao nỗi khổ phải lo toan, phải đối diện thường trực với những biến cố thúc giục hằng ngày, và nhiều lý do “nhạy cảm” khác…

Bởi vậy, tôi đã tự dặn mình khi đặt bút viết những dòng đầu tiên: “Hãy viết với tấm lòng thành, với sự trong sáng vô cầu, với ước mong nhỏ nhoi là chia sẻ đôi chút tâm tình của mình, cho người đọc trong những giờ phút được thư thả, cho vui!”

Và tôi nghĩ tiếp: “Rồi thời gian sẽ cứ thản nhiên trôi qua, cuộc đời cứ lần bước vào bóng tối của sự hủy diệt; tất cả chỉ là một hồi kịch, một trang tiểu thuyết, mà mình đã từng là một “nhân vật”, hay một diễn viên - không hơn!”

Tóm lại, tôi viết “Như Áng Mây Trôi” - tập hồi ký ngắn ngủi nầy, là cốt ghi nhận vài biến đổi không bao giờ quên, những kỷ niệm một thời đau buồn hay hạnh phúc, đôi chặng đời thăng trầm mà tôi đã phải trải qua; để “tiêu xài” những giờ phút được nhàn rỗi, khi “ngồi mà nhớ lại” - mong tự an ủi mình, tự vui với những hoài niệm; tuyệt nhiên không có tham vọng mong cầu gì lớn lao khác! Có thể tập Hồi Ký nầy, sẽ cùng theo tôi về với lòng đất một ngày nào?

Và cũng có thể, nếu “đủ duyên”- nó sẽ đến tay bạn, như một lần ghé thăm…

Xin có đôi lời “thưa gởi”- rất mong sẽ được tất cả hỷ xả cho những thiếu sót, những “chủ quan” (chứ không phải tự mãn, không thể tránh hết, dầu đã rất hạn chế, cẩn trọng!) đã chân thành (và vô tình) được nhắc kể. ở đây!

Trân trọng cám ơn!

Quê nhà, ngày Mồng 1, tháng Ba, Canh Dần
        (ngày 14 tháng 4 năm 2010)


         Huệ Thành
         MANG VIÊN LONG

VI

NGÀY THÁNG Ơ NÚI RỪNG SƠN ĐỊNH & NGÂN ĐIỀN

Tôi trở về trường Nguyễn Huệ dạy lại được một niên khóa, đến năm học tiếp theo, đang gần cuối học kỳ, thì đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 - ngày chế độ Việt Nam Cộng Hòa sắp đến thời điểm sụp đổ hoàn toàn! Tỉnh Phú Yên, thị xã Tuy Hòa được ban quân quản tiếp nhận một cách êm ả vào ngày 01 tháng 4, sau đó vài tuần, nhà trường đã có hiệu trưởng mới được điều động từ khu về, tạm thời sắp xếp lại ban giám hiệu, và kịp tổ chức buổi lễ “khai giảng đầu tiên”!

Trước ngày khai giảng khoảng một tuần, tôi được người hiệu trưởng mới mời gặp riêng trong văn phòng của ông. Nôi dung cuộc gặp là: phân công tôi là người điều hành buổi lễ khai giảng. Tôi đã từ chối vì cảm thấy mình không đủ khả năng, kinh nghiệm, cũng như tuổi tác không thích hợp ( vừa 29 tuổi), trong lúc nhà trường có nhiều vị giáo sư lớn tuổi hơn (có vị trên 50), uy tín hơn tôi nhiều. Nhưng ông ta không thay đổi quyết định. Tôi cũng rất phân vân, chẳng hiểu đây là “phương sách” gì, do ai đề nghị, khi ông ta là người mới đến? Rồi tôi cũng dã nhận ra, tuy nói là “phân công”, hay đề nghị - nhưng đó cũng là một mệnh lênh! Tiếp theo, cũng không rõ ai đã “giới thiệu”- ông ta lại nhờ tôi viết giúp cho ông bài diễn văn sẽ đọc nhân buổi sáng ngày khai giảng đầu tiên ấy. Chuyện nầy làm tôi quá ngạc nhiên, và vô cùng bất ngờ, vì lẽ - từ xưa nay, tôi đâu quen viết “loại văn” nầy? Tôi đã nêu ra một số lý do hạn chế của tôi, để mong ông tìm người thay thế, nhưng cuối cùng ông vẫn không chịu –tuy có tỏ ra rất thông cảm, nhưng ông nói: “Anh cứ viết giúp đi! Tôi sẽ đọc và chỉnh sửa lại, nếu cần…!” Một lần nữa, tôi cũng không thể làm khác!

Vào năm học, tôi lại “bị” giáo viên trong khối khoa học xã hội của nhà trường, bầu làm “tổ trưởng”. Không giống các môn Khoa học tự nhiên, môn Xã hội bị thay đồi hoàn toàn mới, nhưng sách và tài liệu giảng dạy chưa có. Các môn Anh văn, Pháp văn, Lịch sử, Địa lý, Việt văn, Triết học – đều không thể sử dụng sách giáo khoa cũ! Nếu cần, thì phải xét kỹ nội dung, mới có thể cho sử dụng một phần, từng phần thôi! Tôi đã phải liên hệ với Ty giáo dục, để “mượn” một số tài liệu tạm thời, đánh máy, quay roneo cho giáo viên các bộ môn để tất cả có “chút tài liệu” mà lên lớp! Thời gian nầy, chúng tôi đều hưởng lương “bồi dưỡng” như nhau: 13 ký gạo và mười mấy đồng tiền rau mắm!

Sau hai tháng hè dẫn học sinh về các miền quê khai hoang vỡ hóa theo sự điều động của Ty Giáo dục xong, đang chuẩn bị vào năm học mới, thì những giáo viên có thời gian bị động viên vào lính như chúng tôi được lệnh tập trung để di “học tập”. Trong năm học, đang ngồi dạy ở lớp, thỉnh thoảng chúng tôi cũng đã nghe tiếng loa tay vọng vào từ các hàng rào bao quanh trường, yêu cầu các thầy hãy đi trình diện cải tạo. Chẳng biết tiếng loa từ đâu, nhưng, đây là một việc làm hết sức tùy tiện và thô bạo.

Chúng tôi được tập trung ở phòng họp hội đồng - nghe đọc quyết định tập trung học tập, trong thời gian 1 tuần lễ. Chúng tôi đã đến trình diện ở các phường đội, chờ ngày hẹn được chở đi. Rồi chúng tôi được chở lên khu trại tập trung miền rừng núi Sơn Định thuộc huyện Đồng Xuân. Trong tuần lễ đầu tiên chờ đợi “học tập”, chúng tôi đều nghĩ rằng , không phải một tuần như lời ông Hiệu trưởng hay phường đội trấn an nữa rồi! Không ai trong chúng tôi có sự chuẩn bị lâu hơn một tuần, ngay cả thuốc chữa bênh, hay các vật dụng tối thiểu hằng ngày như kem đánh răng, xà phòng giặt, chai dầu gió xanh…

Sơn Định là một trại tập trung “tù tàn binh” gom được từ tỉnh lộ 7 nối liền Pleiku, Phú Bồn đến Tuy Hòa trong các trại tạm giam trước đó. Ở đây có nhiều binh chủng khác nhau được chuyễn từ nhiều trại giam tạm thời dọc tỉnh lộ, cọng với lớp sĩ quan của tỉnh Phú Yên, nên rất đông. Có lẽ, họ đã ở đây trước chúng tôi nhiều tháng, để chờ “điều tra và cải tạo” trước khi được phóng thích trở về. Chỉ vừa đến Sơn Định một tuần, tôi đã nhận ra ngay khí hậu ở đây rất khắc nghiệt, độc hại, khi da mặt và da bụng dày lên thấy rõ. Không khí nặng nề, âm u, khiến mọi hoạt động động trở nên chậm chạp, buồn bã. Nhìn các bạn cùng láng, trong trại, nước da người nào cũng vàng bủng, tái xanh - tôi mới hiểu được mấy chữ “tù tàn binh” ở đây.

Lán của tôi ở có nhiều bạn trẻ, cấp bậc chuẩn úy, có lẽ họ vừa mới ra trường được một hai năm, Trông họ vô tư, nhàn nhã, và vui tính; nhờ vậy, tôi cũng đỡ đi sự phiền muộn, vì lúc ra đi cả hai đứa con gái tôi đều đang nằm ở bệnh viện vì bệnh sốt xuất huyết chưa hồi phục! Tôi đã lấy lại dần được sự yên tĩnh, với tình bạn hồn nhiên chân thành, đang chịu cùng chung số phận “tàn binh” như mình!

Sau hai buổi sáng và chiều được cán bộ trại phân công vào rừng chặt tre, phát quang, cuốc đất, trồng mì bắp, cắt tranh, vân vân, chúng tôi thưởng ngồi lại phì phà khói thuốc Cotin, nhắc kể đủ chuyện trên trời dưới đất, mà cười cho khuây khỏa vào buổi chiều tối trước lệnh kiểng báo giờ ngủ! Hoạt động chính trong giờ rảnh rỗi (hay chủ nhật) cũng là lúc chúng tôi “sưu tầm” thức ăn thêm cho đỡ đói. Mọi thứ rau, củ có thể ăn tìm được quanh rừng, đều được tranh thủ góp nhặt, lén lút chế biến. Bạn trẻ thì tìm thuốc hút, café, hay bánh kẹo được trao đổi, mua bán lẫn nhau, cho đỡ buồn. Tôi được anh em trẻ thương, luôn được mời “hút hơi thuốc lá thơm đầu tiên” quý hiếm , hay uống “ngụm café bằng hữu” thứ nhất, rồi sau đó, chuyền tay nhau, mỗi người hít một hơi, chiêu một ngụm café, rung đùi khề khà. Vô tư! Tôi cảm thấy rất ấm áp, may mắn, khi nhận được tình cảm, chia sẻ quý báu từ anh em dầu rất xa lạ. Người bạn trẻ cao to đẹp trai, trông rất phong độ, người miền Nam - luôn có sáng kiến hay về những vụ café thuốc lá như vậy, cho dầu, trong giờ lao động đã từng… nổi tiếng là lè phè, chẳng nể ai! Trong cách pha chế café, cũng như thưởng thức điếu thuốc thơm Ruby, Cotab, Capstan tìm được, cậu ta rất điệu đàng, một cách cẩn trọng. Tôi nhận ra, đây cũng là phong cách rất riêng của những người trẻ tuổi miền Nam… Tôi cũng có vài bạn văn, bạn đọc thân thiết ở Saigon, Bến Tre, Châu Đốc, Cân Thơ - nên luôn dành tình cảm ưu ái đặc biệt như ruột thịt.

Do khí hậu miền rừng núi cao u trầm, vì bị bắt rất sớm từ cuộc rút lui giữa đường không có một sự “chuẩn bị” nhỏ nào. vì chưa liên hệ được với người thân ở quê xa (…), những người thuộc “tù tàn binh” trên lộ 7 có nhiểu người đã ra đi vì những cơn sốt ác tình, bệnh phù thủng thiếu dinh dưỡng, và một số bệnh thuộc đường ruột mà không có thuốc chữa trị kịp thời… Thân xác họ được anh em trong trại mang ra đầu suối,  bìa rừng, moi đá, lấp vội. Tôi được nghe người bạn trẻ kể lại, mẹ của một người bạn trẻ chuẩn úy vừa chết chưa đầy tháng, đã tìm đến thăm anh muộn - nhưng, chỉ thấy một đống đá trơ trọi. Bà không khóc. Yên lặng một lúc lâu, bà nói: “Vậy là một giọt máu của mẹ đã tan  vào hư vô rồi!” Và bà quay đi xuống núi, tìm thuê người lên “hốt cốt” con trai mang về lại quê nhà ở tận lục tỉnh!

Hơn ba tháng sau, chúng tôi được lệnh chuyển trại. Nơi chúng tôi đến là miền rừng núi Ngân Điền, thuộc huyện Củng Sơn, dọc tỉnh lộ 7. Chúng tôi đều ở chung trại 53, tổng trại 5, quân khu 5. Trước chúng tôi đã có trại 51 và 52, cách nhau khoảng vài cây số. Trại Ngân Điền được tổ chức chặt chẽ, bài bản cho một “trại tù binh” hơn ở Sơn Định, với một ban giám đốc và bộ phận chuyên môn, hậu cần, cảnh vệ.

Chúng tôi vẫn được giữ ở chung nguyên lán, nhưng căn lán thì thoáng hơn, chu vi khu trại cũng rất rộng. Khi chúng tôi đến, mùa mưa cũng đang đến, với những cơn mưa dầm, tối trời đất.          

Trại có một hội trường bằng tranh tre khá lớn, do anh em tù binh “có tay nghề” dựng lên, để làm chỗ hội họp và học tập hằng ngày. Buổi sáng, sau chén lưng cơm lót bụng, nghe tiếng kiểng báo là cbúng tôi lũ lượt kéo lên hội trường để nghe cán bộ thuyết giảng, buổi chiều được về lán thảo luận, thu hoạch. Chúng tôi đã vừa học tập, vừa lao dộng, ròng rã nhiều dợt, mối đợt học tập kéo dài một hai tuần. 

Sau đợt học tập đầu tiên kéo dài một tháng, Trại đã ra thông báo cho phép thân nhân được lên thăm tù binh vào ngày chủ nhật hằng tuần, với thời gian 15 phút, và 2 kg quà, khi đi phải xin giấy giới thiệu của địa phương. Phần lớn cha mẹ, vợ con, anh chị em những người ở Phú Yên, nhất là ở ngay thị xã Tuy Hòa, có điều kiện về kinh tế lên thăm sớm (và nhiều lần) hơn những anh em ở tính khác.

Ngoài gói quà phải mở ra cho cán bộ trại kiểm tra, nhưng bằng nhiều cách, vài anh em cũng nhận dược ít tiền để có thể mua thêm thức ăn, vật dụng (phần lớn là đường, bánh ngọt, kẹo đậu phụng, thuốc tây, kem đánh răng) cải thiện thêm lúc có dịp đi “công tác” chuyễn gạo hay thức ăn từ thị trấn Củng Sơn về. Phần tôi, một lần được vợ tôi lên thăm ở Sơn Định, và một lần được bố vợ lên thăm ở Ngân Điền. Nhưng, có nhiều anh em suốt thời gian nhập trai cho đến ngày được ra trại, không có người thân nào đến thăm viếng cả! Tôi nghĩ, gia dình họ đang gặp muôn vàn khó khăn hay chưa hề nhận được tin tức từ chốn rừng sâu nầy?

Chúng tôi đã chia sẻ cùng nhau, từng chút bánh kẹo, miếng đường, điếu thuốc - như thời còn trẻ nhỏ vậy! Trong chúng tôi, ai cũng có thể ăn một lần nửa ký đường miếng, mà vẫn cảm thấy như… chưa ăn miếng nào! Một tuần một lần được phân phát cho một chén chè đậu đen, một gói thuốc lá quấn tay hiệu Cotin, nhưng chẳng thấm vào đâu so với sự thiếu dinh dưỡng lâu ngày, sức ăn và sức lao động cật lực theo chỉ tiêu đã quy định! Hai sét chén cơm, một chén nước canh, và vài con cá khô kho mặn mỗi bữa ăn, chỉ là lưng lửng bụng mà thôi!

Trong một lần chúng tôi được phân công lên thị trấn Cửng Sơn cách xa trại khoảng mười cây số để cõng gạo và mì củ. Phải di chuyển trong mưa to, đường trơn trợt, gồ ghề, nên quả thật là khó khăn cho những anh em sức yếu, đang bị đau, hay chưa quen cõng mười lăm ký trên vai đường trường không được nghỉ. Trong chuyến trở về, dầu tôi đang bị sưng ở đàu gối chân phải, nhưng phải gắng đi sao cho không lọt vào người cuối của đoàn. Tôi đi trước vài ba anh em. Được nửa đường về, tôi bỗng nghe tiếng roi quất, cùng tiếng la hét của người vệ binh theo canh giữ: “Đi mau lến!” Ngoái nhìn lại, tôi thấy người bạn nhỏ con, hơi lùn, đang vất vả lê bước trên con đường trơn, lây lội - nghĩ đó là Tín-lùn, người bạn đồng nghiệp của tôi dạy văn ở trường Nguyễn Huệ, cũng vừa ra trường đại học sư phạm Huế vài năm. Cậu nầy nổi tiếng là “công tử bột”, vì chẳng có chút kinh nghiệm gì về lao động, vóc dáng lại nhỏ thấp, nên luôn bị ghi tên là “không đủ chỉ tiêu”. Tiếng mấy người đàn bà đang đi cùng đường, một bên lề, vang lên: “Sao đánh ngưởi ta vậy? Để ổng đi từ từ chứ?”.

Suốt mùa đông, tôi bị bệnh thấp khớp mãn hành hạ sưng nhức, và nóng sốt liên tục. Bố vợ tôi có mang lên cho vài vỉ Oradexon, mối vỉ mười viên, nhưng không đủ kéo dài trong suốt mùa mưa lạnh. Bên cạnh đó, tôi cũng không thể nghỉ nhiều ngày trong tuần, mà phải có mặt cùng anh em đi lao động chặt tre, cuốc đát, chuyễn hàng; để không bị ghi tên vào danh sách “không đạt ngày công lao động”. Tôi lo sợ nhất là mối lúc đêm về, khí hậu âm u, nặng nề, giá buốt mà áo quần, chăn mền thì chẳng có đủ ấm! Tôi bị mất ngủ nhiều đêm, cảm thấy hoang mang, lo lắng cho ngày mai của mình và gia đình.

Trong một đêm, tôi đang nằm ngủ ở võng treo giữa lán, lại gặp một giấc mơ chợt đến bất ngờ: Người đàn bà năm xưa đã vài lần ghé thăm tôi trong giấc ngủ mê, đã xuất hiện. Bà đứng ở đầu võng, tay vịn vào một đầu võng, khẽ rung rinh như ru tôi. Tôi ngước lên nhìn bà, thấy bà vẫn yên lặng, ánh mắt nhìn tôi đầy thương cảm. Nhưng, gương mặt - một gương mặt an nhiên đến lạnh lùng, bà chỉ mỉm cười. Bỗng dưng tôi cảm thấy trong tôi một sức sống mới, dào dạt, và yên lành hơn bao giờ. Tôi muốn vùng ngồi dậy bước ra khỏi võng, nhưng -- tôi chợt hiểu, đó là giấc mơ. Đêm đang dày đặc quanh tôi, và tiếng kiểng đổi phiên gác từ bốn phía cổng trại từng hồi vọng lại; tôi cố dỗ lại giấc ngủ chập chờn…

Vậy là tôi đã qua được mùa đông khắc nghiệt để bắt đầu đón những ngày đầu xuân nắng ấm. Mùa Xuân cũng góp phần làm cho tất cả chúng tôi cảm thấy vui hơn, khi mọi nẻo đường lên rừng, ra lộ đều khô ráo, lát đát hoa rừng dìu dặt hương. Trong hai tuần cuối tháng Chạp, trại đã cho anh em ra quét dọn lại khu tiếp tân, sắp xếp bàn ghế, và treo ở đó tấm giấy croquis lớn ghi rõ chương trình đón Tết của Trại.

Vào một buổi sinh hoạt chung đầu tháng, anh em đã “nhất trí” bầu tôi làm đại diện cho Trại, để đọc lời ngỏ chúc Tết đến Ban giám đốc trại và gia đình anh em vào buối sáng đầu năm ở hội trường. Bức “Thư chúc Tết“ ngắn nầy do tôi “sáng tác”, nhưng đã được ban giám đốc trại “duyệt xét kỹ” trước khi cho đọc, rôi cho viết chữ lớn, treo ở khu tiếp tân để thân nhân anh em cùng đọc trong mấy ngày Tết được lên thăm nuôi. Lại một “tình cờ” từ trên trời rơi xuống mà tôi không thể làm khác…             


   
... CÒN TIẾP ...

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 13.04.2014.