Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Đồi Trăng Phế Tích Phú Hài






T rên đường ra khu du lịch Mũi Né, cách trung tâm thành phố Phan Thiết 7 cây số là ngọn đồi Bà Nài thuộc phường Phú Hài, nằm bên bờ biển. Địa hình dãy đồi Phú Hài là triền động cao từ Lại An, Núi Cố chạy dài đến đồi Bà Nài và bờ biển Rạng Hào tạo thành bức bình phong cho làng chài cửa sông Phú Hài. Cũng có người cho rằng, xa xưa Phan Thiết còn là vùng trũng (phường Đức Thắng, Lạc Đạo, Bình Hưng…) nước biển lấn sâu. Người Chăm chọn đồi cao làm quần thể cư dân và đặt lỵ sở vừa gắn với nghề biển để sinh sống nên người kinh gọi nơi ấy là Phố Hời (tên gọi cũ Hời, Chiêm, Chàm, Chăm…). Về sau địa danh chuyển hóa từ cách phát âm của người Việt, đọc trại thành Phố Hài (Pajai) thuộc thôn An Hải, huyện Tuy Định/ Tuy Lý (theo sách xưa, từ giữa thế kỷ 16 đã có địa danh đạo Phố Hài). Nhưng để đẹp tên cho vùng đất, đổi từ Phố ra Phú. Năm 1975, thấy nơi này là một làng biển thuận lợi nên lại đổi thành xã Phú Hải… Nói đến đồi Phú Hài ngày nay, phải nói đến hai di tích gây ấn tượng nhất. Đó là cụm tháp Pô Sah Inư và phế tích Lầu Ông Hoàng. Đứng trên ngọn đồi cao Bà Nài, có thể nhìn bao quát được biển sóng mênh mang và con sông Phú Hài với ghe thuyền đan xen rộn rịp

    Di tích kiến trúc nghệ thuật cụm đền tháp Chăm trên đồi Bà Nài được coi là ngôi tháp cổ nhất của vương quốc Chăm Pa trên đất Bình Thuận được xây dựng từ cuối thế kỷ thứ 8 để thờ vị thần Shiva đánh dấu thời kỳ suy tàn của vương quyền Chăm Pa và nền móng bị chôn vùi rải rác. Hiện chỉ còn 3 tháp đền Pô Sah Inư, tên người con gái vua Chăm Pô Par Chanh (Trà Chanh), được xưng tụng Nữ Vương Tranh của Chiêm quốc, người dân thường gọi là đền Thánh Mẫu có từ thế kỷ 15. Dù qua nhiều lần phục chế nhưng tháp vẫn còn lưu giữ những đường nét kiến trúc tinh xảo, điêu khắc độc đáo qua bàn tay tài hoa của người Chăm. Trong tháp thờ bộ Linga- Yoni bằng đá là biểu tượng thần Shiva. Trên đỉnh đồi Bà Nài, ngọn tháp cao nhất 15m sừng sững dưới bầu trời lộng gió, thênh thang với phong cách thanh thoát, uy nghiêm đầy huyền bí. Hàng năm mùng một tháng 7 lịch Chăm, lễ hội Katê được diễn ra tưng bừng với những nghi thức cúng tế, rước y phục, múa quạt, trống nhạc…và biểu diễn các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc dân tộc Chăm. Những nhóm người Chăm ở các huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tuy Phong, Hàm Tân và kể cả từ Phan Rang cũng tề tựu về đây đãnh lễ ngưỡng vọng thần linh cầu mưa và mong sự an lành. Trên đường dẫn lên quần thể di tích này còn có ngôi chùa cổ bằng đất nung chín. Theo sách Đại Nam nhất thống chi, thuở đầu Nguyễn trung hưng triều Nguyễn, vua Cao hoàng có đến viếng và đặt tên “Ngự tứ Bửu Sơn Tự”.
    Không những dấu xưa tích cũ của vương quốc Chăm Pa mà sau này người ta còn biết bên cạnh đó có một phế tích lâu đài với tên gọi Lầu Ông Hoàng nằm trên ngọn đồi cao 107 mét đầy sỏi đá hoang sơ. Đây là điểm dừng chân của một ông hoàng, công tước De Montpensier, cháu nội hoàng đế Pháp trên đường đi du lịch và săn bắn. Dù đã từng đi qua các vùng đất khách giàu đẹp nhưng thật bất ngờ trước một không gian biển trời thơ mộng, đầy quyến rũ nên công tước chọn nơi này để xây tòa lâu đài dành cho cuộc tình đầy nồng cháy vào năm 1911. Công trình xây dựng khá nguy nga, vật liệu trang trí đều mang từ Pháp đưa sang. Các phòng khách, đại sảnh yến tiệc, phòng ngủ… được trang hoàng lộng lẫy. Nhưng chuyện tình của ông hoàng với một kết cục khá bi thiết, lâu đài trở thành hoang vắng và tàn tạ. Năm 1917 biệt điện này chuyển qua chủ khác cho đến khi cuộc chiến chống Pháp năm 1945 bắt đầu thì chỉ còn trơ trọi một nền nhà với những phiến đá rêu phong và hầm ngầm chứa nước bị sụp đổ phủ đầy cỏ dại. Năm 1946, quân đội Pháp lập một tháp canh (Tour) và nhiều lô cốt cách đó không xa để làm cứ điểm phòng thủ Phan Thiết nhưng cũng bị đánh sập. Một phần tháp canh, nền móng công sự còn sót lại đã gây nên sự nhầm tưởng là dấu vết lâu đài của ông hoàng lãng mạn ngày xưa.
    Câu chuyện tình ngang trái của Hàn Mạc Tử và nữ sĩ Mộng Cầm từ năm 1934 xa xưa đọng lại trong câu thơ tình tuyệt vọng của chàng thi sĩ tài hoa bạc mệnh:“Ta lang thang tìm tới chốn lầu trăng/ Lầu Ông Hoàng nơi thiên hạ đồn vang/ Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết/ Ôi trời ơi! Là Phan Thiết! Phan Thiết”. Từ đó, nhiều bài thơ tình hay nối tiếp nhau ra đời mang cảm xúc diệu kỳ khi liên hệ đến cuộc đời bất hạnh của nhà thơ đa cảm Hàn Mạc Tử. Cũng có nhiều ca khúc cảm xúc từ phế tích Lầu Ông Hoàng, bóng tháp Pô Sah Inư, chuyện tình Hàn Mạc Tử nhưng có lẻ bài “Hàn Mặc Tử” (1964) của Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường, quê Phan Thiết với một giai điệu dặt dìu và ca từ đầy tâm trạng đã làm cho nhiều người thấy bâng khuâng: “Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa/ Lầu Ông Hoàng đó thuở nao chân Hàn Mạc Tử đã qua/ Ánh trăng treo nghiêng nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng/ Tiếng chim kêu đau thương như nức nở dưới trời sương/ Lá rơi rơi đâu đây sao cứ ngỡ bước chân người…”.
Hình ảnh ngọn đồi Lầu Ông Hoàng lặng lẽ dưới đêm trăng như lung linh, mờ ảo và vang vọng sóng biển dạt dào. Ôi huyền diệu làm sao!

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhTuy ngày 13.04.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn