Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh của họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận





CHUYỆN LẠ Ở LÀNG ĐOÀI






Một buổi sáng ở làng Đoài thôn ngoài thành Hà Nội, người ta thấy một chiếc xe bóng nhoáng nhãn hiệu TOYOTA từ quốc lộ số 3 lượn vào làng.

Mấy ông ngồi ở quán nước bảo nhau:
     -Hôm nay tuần tứ cửu của cụ Hậu. Ông Hai đánh xe về ăn cồ.
     -Thảo nào tôi thấy chiều hôm qua nhà ông Cả Lộc che rạp kê bàn ghế.
Một ông tiếp lời.
     -Chắc cỗ bàn phải to lắm. Nhà ấy toàn con cái làm to cả. Khách khứa phải nhiều lắm.
     -Thế mới biết anh em họ chém nhau đằng dọng chứ không chém nhau đằng lưỡi – Một ông nhận xét:
     -Nhà người ta anh em đều có học mà lỵ.
  Họ nhìn theo chiếc xe bàn tán xôn xao. Chiếc xe con vè vè theo hướng nhà ông Cả Lộc. Nhưng lạ chưa, xe không đứng ở nhà ông Cả Lộc mà lướt vòng vèo rẽ theo con đường cái quan rồi phóng thẳng ra nghĩa địa.
  Nắng sớm mùa hạ nóng bức. Nghĩa địa làng Đoài ngổn ngang gò đống. Những cụ cao tuổi lần lượt lượt ra nằm ở đây những người xấu số mỗi năm một đông đảo về đây an nghỉ.
   Người ta đua nhau xây mộ đủ kiểu to nhỏ để tỏ ra mình có của và hiếu nghĩa. Cả những ông khi bố còn sống quanh năm bị bỏ đói, mặc rách, nay bố nằm xuống cũng xây mộ tam cấp, khắc bia đá có khảm long vân. Ông Hà là con thứ hai của cụ Hậu có học làm giám đốc một nhà máy lớn ở Hà Nội. Ông lấy vợ thành phố, có  biệt thự trong một khu phố sầm uất ở Thủ đô.
   Mỗi khi đi xe hơi về làng, ông hay ra viếng mộ các cụ. Nhìn những nấm mồ ngổn ngang trong cảnh chiều tà tĩnh lặng ông lại rùng mình nghĩ đến cái chết mà ai cũng phải trải qua. Những người nằm dưới những nấm mồ kia, khi còn sống ông đều biết cả. Có người là anh em trong họ. Có người là người làng. Nhiều người nằm đây cả đời lam lũ vất vả khi mát mặt  lại phải ra đi, để lại vợ góa con côi. Có cả những người chết yểu vì căn bệnh hiểm nghèo...Mỗi người một hoàn cảnh khi mất lại ra đây quây quần. Ai cũng phải trở về cát bụi. Thật tiếc nhỉ. Biết như thế nhưng khi sống vẫn cứ tranh giành nhau khôn dại không ai chịu ai. Khi biết thương nhau thì đã vào cõi thiên thu vĩnh việt. Có hối cũng chẳng xóa được lỗi lầm? Thói đời vẫn vậy.
   Chiếc xe con đỗ ở đầu nghĩa địa dưới gốc cây xà cừ râm mát. Bà vợ và cô con gái cùng ông bước xuống. Họ lúi húi xếp một mâm đầy những giò hoa chả quế, hương hoa, vàng giấy đô la âm phủ. Mấy người chậm chạp bước đến ngôi mộ cụ Hậu. Đã qua năm mươi ngày, những vòng hoa đã héo đen lại. Ngọn mía cắm trước mộ đã nảy mầm. Ông Hai để mâm cỗ xuống trước mộ thắp hương sì sụp khấn vái. Bà vợ và cô con gái cũng lấy mùi soa khẽ chùi mắt. Ông thấy thương bố vô cùng. Phụ tử tình thâm. Công cha nghĩa mẹ như núi như non mà ông báo đáp chưa được là bao...
   Khấn khứa xong họ ngồi cả xuống nhìn bó nhang cháy leo lét buồn tênh.
   Chừng nửa giờ sau, bà vợ hóa vàng mã. Chờ cho cháy hết vàng hương, ông bà mới bê mâm lễ xếp vào hai cái làn nhựa, chiếc xe ô tô nổ máy vè vè trở về làng. Chiếc xe lướt qua cổng nhà ông Cả Lộc rồi phóng thẳng ra quốc lộ 3, ngoắt về Hà Nội.
   Trong nhà ông Cả Lộc cỗ bàn bày ra ngàn ngạt. Ông Cả và mọi người cứ yên trí chú Hà ra viếng mộ cụ rồi thế nào cũng về ăn cỗ. Ai ngờ lại thế? Ông Lộc nghiến răng cằm bạnh ra làm yết hầu nhướng lên như cái cựa gà trống: - Thằng Hà đểu thật, khốn nạn thật. Nó còn phải góp giỗ cho mình mới phải chứ. Nó là em cơ mà. Thật không còn ra thể thống gì nữa. Nếp nhà mục rồi?
Cô con gái biết ý, chạy đến ghé vào tai bố:
      -Bố cứ bình tĩnh đừng có nóng nảy người ta cười cho. Chú thím ấy cư xử như thế dân làng người ta cười chú ấy chứ đâu cười nhà mình.
Ông Cả Lộc toát mồ hôi, thở dài. Ông nhìn lên bàn thờ hương hoa leo lét. Tấm ảnh cụ Hậu áo the khăn xếp nhìn ông như trách cứ. Các con hư quá, chẳng biết nhường nhịn nhau để hàng xóm chê cười.
Ông đang buồn bã, những giọt nước mắt ứa ra thì cô con gái thứ hai hớt hải chạy vào:
-Bố ơi. Vợ chồng cô Bích bên làng Dục cũng đội mâm cỗ ra nghĩa địa.
  Thử xem rồi nó có vào đây không? Còn thằng Ba Đông nữa đến giờ phút này vẫn chẳng thấy về, mà từ Hòa Bình về đây nào có xa xôi gì. Nó lại có xe riêng nữa? Ông thở dài thườn thượt rồi nén nhịn ra ngoài sân tiếp khách. Cỗ bàn được bưng ra.
  Bà con trong làng đến ăn cỗ chểnh mảng. Ai cũng hiểu sự bất đồng của anh em ông. Cổ nhân có nói: Nhà ai cũng có hũ mắm thối. Đành là vậy. nhưng họ chê cười đàn con cụ Hậu có học mà hư đốn. Cha chết mộ còn chưa xanh cỏ mà đứa nào có giỗ đứa ấy cúng. Không còn đâu là tôn ty thứ bậc cả. Anh em liền một khúc ruột còn thế...
Đêm đó ông Cả Lộc không sao chợp mắt được. Ông nghĩ tới ngày còn bé. Anh em ông con nhà giầu được cha mẹ nuông chiều nhưng dạy dỗ nghiêm khắc. Anh em ông quí nhau lắm. Trên kính dưới nhường. Cu Hà tham ăn lại mau nước mắt nhưng anh Lộc chiều hết. Anh em chẳng mấy khi rời nhau. Cái Bích em gái út hay khóc nhè cũng được anh chiều. Khi đã mười một mười hai tuổi rồi nhưng đi đâu Bích cũng theo anh. Con cái cụ Hậu hồi ấy dân làng ai cũng khen. Khen cả gia đình gia giáo nề nếp. Lớn lên anh em ông đều phương trưởng cả. Ấy thế mà nay...Ông còn mặt mũi nào mà nhìn dân làng nữa. Kiến giả nhất phận nhưng không thể cư xử tuyệt tình không có thứ bậc như thế được. Càng nghĩ ông càng buồn. Tất cả chỉ tại đất. Đất đã xui người ta làm ác. Không ngủ được, ông vùng dậy đốt nhang cắm thêm vào bát hương.
   Đất nhà cụ Hậu để lại ba sào ở ven làng cạnh con đường lớn. Ông là con cả về nghỉ hưu tại quê nhà. Còn hai em ông công tác ở xa. Bà Bích em gái của ông lấy chồng bên làng Dục. Cả ba đứa đều có đất đai nhà cửa đàng hoàng. Ông được cả đất nhà để thờ cúng tổ tiên. Ông nuôi bố mẹ. Ông là con trưởng. Nay bố mẹ mất, ông chẳng được hưởng đất đai tổ tiên thì ai hưởng.
   Ông là trưởng, các em ông phải theo giỗ tết chứ?
   Ai ngờ chúng nó chỉ là lũ tham. Có lẽ vợ chúng nó xui? Thằng Hà có biệt thự rồi. Thằng Đông ở Hòa Bình cũng có vườn cây ao cá, nhà lầu. Cái Bích cũng nhà ngói sân gạch, vườn cây ao cá. Dinh cơ nhà chồng bề thế đầy đủ cả rồi, chúng có thiếu gì đâu mà ganh tỵ. Lòng tham khôn cùng, chúng nó lại còn làm đơn kiện đòi đất tổ tiên. Ông phải ra hầu tòa. Mảnh đất bị chia làm tư. Ông chỉ được một phần. Ba phần kia chia cho ba người. Anh em chém nhau đằng dọng chứ ai chém nhau đằng lưỡi. Tưởng là yên, ai ngờ các em ông lại như thế? Ông trằn trọc thao thức cả đêm. Mắt ông mở chong chong. Không ngủ được ông Lộc lại vùng dậy đốt nhang cắm thêm vào bát hương. Trong ánh hương đèn leo lét ông như thấy cụ Hậu đang trừng mắt nhìn ông như nói: “Các con hư lắm. Không bảo được nhau thì dơ duốc với dân làng!
   Ông cả Lộc nằm xuống thổn thức. Nước mắt túa ra lăn trên gò má. Hình như cụ Hậu từ trên bàn thờ chập chờn bước xuống rồi bước ra ngoài nhòa vào ánh trăng khuya mờ ảo...
Thấm thoắt đã ba mùa lúa chín. Nhà ông cả Lộc lại đến ngày dựng bạt, thuê bàn ghế kê ngàn ngạt. Ở thôn quê, công to việc lớn, những đám hiếu hỉ, hoàn thành nhà, cải táng đều phải làm như thế. Cụ Hậu đã đến ngày sang cát, công việc dựng rạp, thuê bàn ghế, bát đĩa chuẩn bị từ ngày hôm trước. Có như vậy ngày cải táng cho cụ mới đàng hoàng. Thời gian nhanh thật. Người ta bảo sống thì lâu chứ chết thì giỗ đầu nay mai. Quả không sai. Vừa mới hôm nào đó mà cụ Hậu qui tiên đã được ba năm.
   Sáng nay, các con cháu, chắt của các ông em, bà em đã về nhà bác cả. Ông Hai và vợ đã về hưu cũng về quê. Tòa biệt thự ở Hà Nội ông giao hẳn cho con cả đang công tác. Thường thì khi trẻ thích ở phố xá ồn ào, về già nghỉ ngơi người ta lại thích về quê với họ hàng. Ông Đông em thứ ba của ông Cả Lộc cũng từ Hòa Bình đưa con về từ hôm trước. Ông cũng có ý định rút gần về quê hương. Bà Bích bên làng Dục cũng đã sang. Nhà bác trưởng thật đông đúc.
   Nghĩ lại ba năm trước tuy không ai nói ra nhưng ai cũng thấy thật xấu hổ. Khi nóng nảy cả nghĩ, anh em cư xử không phải với nhau. Việc các em sai sót với anh Cả đã để tiếng xấu với dân làng.
   Nghĩ lại dạo đó, các em ông đều thấy mình sai. Người ta sinh ra và lớn lên nhờ công ơn cha mẹ nuôi nấng dưỡng dục. Anh em cùng khúc ruột. Chết đi ai chẳng về với đất. Hai tay buông xuôi, của nả có mang đi được đâu? Tại sao cứ để đất vặt người? Anh em ông lại là người có học cả. Nghĩ lại, ai cũng thấy ngường ngượng. Các ông em đều về làm lành với anh cả. Thế là sau bão tố trời lại quang, mây lại tạnh. Anh em con cháu cụ Hậu xúm vào lo cải táng cho cha. Ông Cả Lộc nói văn vẻ là “ xây ngôi nhà mới cho cụ tôi” khi ôngđi mời bà con đến ăn cỗ.
Công việc chuẩn bị sang cát cho cụ Hậu tấp nập. Giầu vì mồ vi mả, chứ ai giầu vì kẻ cả bát cơm. Lo mồ yên mả đẹp cho cha mẹ ông bà là trách nhiệm của con cháu...
   Sáng hôm sau, những chiếc xe ô tô con, xe máy rầm rầm từ đường quốc lộ rẽ vào làng Đoài nhằm hướng nhà ông cả Lộc lăn bánh.
   Mấy người ngồi quán nước đầu làng bảo nhau:
-Họ về nhà ông Cả Lộc. Hôm nay cải táng xây nhà mới cho cụ Hậu.
-Nhà ấy anh em con cháu đông. Họ lại làm to cả. Mấy ông tuy đã nghỉ hưu rồi nhưng các con họ đang làm công việc bề thế lắm.
   Người này một câu người kia một câu, bàn tán xôn xao.
   Ông chủ quán mái tóc đã đôi sợi bạc đeo kính lão trễ xuống sống mũi như nhớ lại nói:
      -Hồi cụ Hậu mới mất, anh em họ chuệch choạc lắm tưởng như tan vỡ. Nhưng nay thì thế - Ông khách đã đứng tuổi mặc áo vét dung dúc nhận xét – Anh em họ chém nhau đằng dọng chứ ai chém nhau đằng lưỡi. Đến như ta với Mỹ đánh nhau dai dẳng là thế mà giờ cũng bắt tay hòa bình. Lẽ nào anh em lại không đoàn kết được.
   Mỗi người một câu bình phẩm rào rào. Chuyện đời dù có xấu hay tốt cũng luôn là đề tài bàn tán ở quán nước làng quê.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 06.04.2014.