Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





ĐI THĂM MỘT VÙNG ĐẤT PHẬT





Trong tuần lễ kỷ niệm Đại lễ Phật đản năm 2011, Phật lịch thứ 2555, Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội đã tổ chức chuyến đi du khảo về vùng đất Phật tỉnh Bắc Ninh được đa số hội viên hưởng ứng

   Băc Ninh trong lịch sử là vùng Kinh Bắc, vốn là một nơi có nhiều đình chùa, nhiều lễ hội và đến đâu cũng gập câu hát lời ca quan họ tha thiết trữ tình bên sông Tiêu Tương Nhưng trong lịch sử Bắc Ninh cũng là một vùng mà đất Phật đã sớm ăn nhập, xây dựng nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu và vùng Phật tích huyện Tiên Du
   Trong lần du khảo này, chúng tôi đi từ chùa Phật tích về chùa Dâu sau đó sang chùa Tiêu Sơn .
   Xe dừng lại trong sân chùa Phật tích, từ lúc ngồi trên xe, chúng tôi đã thấy xa xa trên đỉnh núi Lạn Kha có một pho tượng đá tạc hình A Di Đà đàng ngôi thiền trên đỉnh núi . Nay đã đến tận nơi, đất Phật đón chúng tôi bằng quang cảnh thanh tịnh ,thâm u
   Mọi người leo qua các bậc thềm lên núi. Tại tòa tam quan có treo một bảng đồng ghi sự tích chùa để khách tham quan đọc ở đây mà hiểu đôi điều.
    Bản sự tích viết rằng :
     - Phật tích – Dấu ấn đầu tiên của Phật giáo Ân độ truyền vào Việt Nam
   Chùa Phật tích tên chữ là Vạn Phúc tự nằm ngang trên núi Tiên Du (còn gọi là núi Lạn Kha) nay thuộc xã Phật tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh Chùa Phật tích giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Phật giáo, là nơi có dấu ấn đầu tiên của Phật Giáo từ ấn độ truyền vào nước ta. Sách cổ kể về câu chuyện nhà sư Khâu đà la vào thế kỷ thứ II sau Công nguyên đến lập am tu hành tại núi Phật tích, dùng mật chú cầu mưa thuận gió hòa cho người Việt.
   - Chùa Phật tích ngay từ đầu công nguyên đã giúp cho Phật giáo vào bản địa.
Lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng ghi lại rằng : từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VI sau công nguyên , tại khu vực trên núi Tiên Du Phật tích đã là một trung tâm Phật giáo lớn, đây cũng là nơi hội tụ của nhiều dòng Thiền của Phật giáo như Tỳ ni đa lưu chi , Vô ngôn thông, Thảo đường,
   Theo sách Đai Nam thiền uyển truyền tăng thì đệ tử Vô ngôn thông là Cảm Thành thiền sư trụ trì trên núi Tiên du đã hỏa thiêu xá lỵ Thầy và dựng tháp trên núi năm 826
   Thời Lý (1010- 1225) đời vua Lý Thái tông có Truyền lão thiền sư cùng với truyền tăng là Cửu chỉ cũng thuộc phái Vô Ngôn thông khổ hạnh trên núi Tiên Du suốt 6 năm không xuống núi , Tiếng đồn tới kinh thành Thăng Long , nhà vua đã tới thăm chùa .
    Năm 1041 vua Lý Thánh Tông đã cho xây Viện Từ thị diên phúc trên núi Tiên du thờ Phật Di lặc. Năm Long thụy thái bình thứ 4 vua Lý Thánh tông đã cho xây dựng ở sườn phía Nam núi Tiên Du một ngọn bảo tháp cao 10 trượng, bên trong thờ một pho tượng Phật bằng đá trắng ngồi trên tòa sen cao 5 thước (tức là cao 2m10) Cùng năm đó, nhà vua đặt tên cho chùa là Vạn Phúc tự, nhưng dân gian vẫn quen goi là Chùa Phật tích, Đến đời vua Lý Thần tông nhà vua khánh thành 84.000 bảo tháp bằng đất đặt xung quanh chùa Phật tích
   Chùa Phật tích không những là một trung tâm Phật giáo lớn mà sang thời Trần , còn là một trung tâm văn hóa chính trị của nước Đại Việt . Phật giáo đã xây dựng tại đây một tu viện lớn gọi là Viện Lạn Kha chùa Phật tích. Năm Quý Hợi niên hiệu Xương Phù đời Trân, thượng hoàng Trần Nghệ tông đã đến đây, tập hợp và sáng tác tập “Bảo Hòa dư bút” tại cung Bảo Hòa . Năm Giáp Tý 1384 Ngài đã cho tổ chức thi Thái học sinh quy mô toàn quốc tại chùa Phật tích

   - Phật tích sự linh thiêng và chứng nghiệm tâm linh
   Đặc biệt tại chùa Phật tích đến ngày nay còn giữ được di hài xá lợi của Thánh tổ Chuyết Công hòa thượng . Ngài là nhà tu hành vào đầu thế kỷ XII , đã cùng học trò xuất sắc của mình là Minh Hành thiền sư lập am thiền và tu tập tại chùa. Thiền sư nguyên họ Lý tên là Chuyên Tộ trùng danh với Lý Anh Tông, nên người đời cho rằng Ngài là hậu duệ của vua Lý Anh tông, Ngài hóa thân vào ngày vu lan (15 tháng Bẩy năm Giáp Thân niên hiệu Phúc Thái để lại nhục thân xá lợi trong tư thế ngồi kiết già. học trò đã phủ sơn lên tượng và đặt Ngài trong khám của chùa, hàng năm nhân dân trong vùng làm lễ thờ đức Thánh tổ vào ngày sinh nhật 2 tháng Hai âm lịch.
   Trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, chùa Phật tích bị tiêu thổ kháng chiến phá hủy hoàn toàn, chỉ còn để lại pho tượng A di đà bằng đá và 5 đôi tượng thú bắng đá. Ngày nay, chúng ta coi đó là những báu vật quốc gia Hai hàng linh thú gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa với những nét chạm khắc, những di vật đó cho thấy dáng dấp văn hóa cung đình tại vùng đất địa linh, Trên chùa Phật tích có 40 ngọn tháp đá để lại dấu ấn tổ truyền chốn trùng lâm Phật đạo
   Ngày nay, trong không khí đổi mới đất nước, nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long chúng ta xác định chùa Phật tích là công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng, một di tích quan trọng có giá trị nhiều mặt trong lịch sử cũng như trong du lịch và cảnh quan
   Từ năm 2008 nhà nước đã phê duyệt dự án phục hồi tôn tạo chùa Phật tích, Nhiều hạng mục trong khu di tích cũng được tôn tạo như Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Nhà Tăng,
   Cùng với việcxây mới chùa Phật tích, xây dựng tượng Phật Adida bằng đá trắng trên đỉnh núi với kinh phí hàng trăm tỷ đồng, Trong quá trình thi công tôn tạo chùa Phật tích đã làm lộ móng chân tháp cổ đời Lý được xây dựng tại cấp nền thứ hai . Với di chỉ móng tháp liền với chùa là một di tích quý hiếm đời Lý, việc phát hiện chân móng đã đóng góp nhiều tư liệu về xây dựng tháp gạch không cần vôi vữa, tư liệu kỹ thuật về gia cố xung quanh móng bằng sỏi xen kẽ đất đồi, tư liệu tạo góc cong chung quanh chân tháp . . Kỹ thuật thời Lý Thánh Tông khác hẳn kỹ thuật xây dựng tháp Chương Sơn thời Lý Nhân tông bởi tháp Chương Sơn xây đá là chính
   Dưới thời Lý, chùa Phật tích là một quần thể với quy mô to lớn bao gồm chùa, tháp, hệ thống tượng thú và các công trình khác
   Bản hướng dẫn dài, kể lể nhiều điều trong thời cuộc hiện đại, nếu một vị khách nóng ruột có lẽ không đủ kiên nhẫn mà đọc, cho nên không có ai đọc đến hết mà anh em trong đoàn đều bỏ qua mà đi lên tòa Tam bảo . Nơi đây có 9 gian, đều vàng chói nét mới, không thấy đâu là nét riêng của chùa Phật tích ngày xưa. Đi sâu vào phía trong nhà Tam bảo là nơi đặt pho tượng Adiđà bằng đá trắng ..Đó là pho tượng quý hiếm mà bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã làm phiên bản trưng bày, nay xây dựng lại chùa Phật tích mới, người chủ dự án đã nhân gấp nhiều lân pho tượng mẫu để làm một pho tượng lớn đặt trên đỉnh Tiên Du .
    Theo dòng người, anh em chúng tôi lên cao, tại đây gập một cái chân móng đồ sộ, với 35 hàng gạch lớn xếp lên nhau , Viên gạch nào cũng có một khoảng giữa có in con dấu với 2 dòng chữ “Lý gia đệ tam đế- Long thụy thái bình tứ niên tạo”
   Tại đây ngoài bảng hướng dẫn không có một tài liệu nào để tặng hoặc bán cho khách cứ như là đánh đố mọi người muốn hiểu thế nào cũng được . Để tìm hiểu thêm điều nầo đó về chùa Phật tích tôi xuống chùa và lang thang trong làng , gập cụ già đang dắt cháu đi chơi, tôi hỏi cụ một vài điều về sự tích làng , cụ nói :
   - Ngày xưa ở đây chưa có chùa, chỉ có một cái tháp cao. Đến khi nhà vua (không biết là vua nào?) đi dạo cảnh qua đây, Ngài thấy cái tháp cao mới chỉ tay hỏi “ Sao lại có cái tháp cao thế, đẹp thế mọc đơn lẻ ở chốn này ? ” Cái chỉ tay của nhà vua thế mà ứng nghiệm lắm, cây tháp bị đổ vật xuống, thân tháp dài lại xây bằng gạch nên khi đổ xuống làng tôi đã tạo thành một cái ngõ, ngày nay vẫn còn vết tích, Làng tôi gọi nơi đó là Ngõ Gạch. Từ khi đổ tháp mới lộ ra pho tượng Adi đà đấy. Nhân đó làng tôi mới có tên là Phật tích,
   Theo các cụ trong làng tôi kể lại thì ngày xưa có một tài liệu cổ ghi rằng “Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly . Trên bậc thềm đằng trước có bầy 10 đôi thú lớn bằng đá Phía sau núi có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh”
   Về sau, chùa ngày càng xây dựng to hơn, nhiều nóc nhà hơn, đẹp lắm nhưng đến năm 1948 thì tiêu thổ kháng chiến người ta phá hủy toàn bộ, Khi hòa bình, dân làng đi quyên góp tứ phương ,.lại được Nhà nuóc giúp đỡ làm cái nhà nhỏ để đặt pho tượng Adiđa
   Cụ chỉ tay về phía núi Tiên Du, kể tiếp “ Trên ấy có bàn cờ tiên, dưới núi có Ao Rồng có cây đa cổ thụ , nhiều năm thay đổi nên bây giờ các ông không nhận ra đâu”
   Tiếng còi xe giục đã đến giờ lên đường, không có dịp để khai thác chuyện dân gian vùng này, xin hẹn một lần tái ngộ .

   Bắc Ninh trong lịch sử là vùng Kinh Bắc, vốn là một nơi có nhiều đình chùa, nhiều lễ hội và đến đâu cũng gập câu hát lời ca quan họ tha thiết trữ tình bên sông Tiêu Tương Nhưng trong lịch sử Bắc Ninh cũng là một vùng mà đất Phật đã sớm ăn nhập, xây dựng nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu và vùng Phật tích huyện Tiên Du `Luy Lâu vốn thuộc huyện Siêu Loại (nay là huyện Thuân Thành tỉnh BắcNinh) .có hệ thống chùa thờ Tứ Pháp , mà cốt truyện đã được phản ảnh trong tập “Cổ Châu Phật bản hạnh”
    Năm 1994 các cán bộ khoa học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân Văn quốc gia sau nhiều lần về thăm ngôi chùa Dâu cổ kính đã có duyên may được nhà sư trụ trì bản chùa và cán bộ sở tại giúp đỡ nhiều bề nên đã trực tiếp khảo sát được kho ván khắc chữ Hán, Nôm hiện đang lưu giữ tại chùa Dâu, và nhóm các nhà khoa học đó đã thực hiện việc in rập và phiên âm từ nguyên văn chữ Nôm tác phâm Cổ Châu Phật bản hạnh để giới thiệu với bạn đọc (Lời tựa sách “Sự tích đức Phật chùa Dâu” do Nhà xuất bản VHTT in năm 1994)
   Từ đó đến nay, có nhiều người đã sử dụng Cổ Châu Phật bản hạnh trong luận văn, trong các bài viết nghiên cứu của mình và các tác giả đó thường coi Luy Lâu – thủ phủ Giao Chỉ xưa, là trung tâm của Phật giáo khi được truyền bá từ ấn Độ vào Viêt Nam
   Khi chúng tôi đến thăm chùa Dâu đã được Ni sư Thích Đàm Tùy tiếp đón, giới thiệu với khách về chùa Dâu . Trong buổi sáng ngày hè, nắng chang chang ngoài sân, anh chị em trong đoàn tham quan lắng nghe từng lời kể :
   - Theo truyền thuyết và văn bia thì chùa Dâu có từ cuối thế kỷ thứ II đầu thế kỷ thứ III với nhiều tên gọi khác nhau : chùa Cả, Cổ Châu tự, Duyên ứng tự, Pháp Vân tự tồn tại đến ngày nay. Lúc đó, nước ta còn bị phương Bắc cai trị, nhà Hán chia nước ta thành 9 quân, trong đo quận Giao Chỉ là trung tâm . Mỗi quận có một vị Thái thú cai trị, tại quận Giao Chỉ có thái thú Sỹ Nhiếp. Ông ta đã sống ở Giao chỉ từ năm 187 đến năm 226 . Trong thời gian đó, ông ta đã đem văn hóa phương Bắc truyền dạy cho dân bản địa, Chùa Dâu trong thời gian này khởi công xây dựng từ 187-226. nhưng vẫn là một ngôi chùa nhỏ Cho đến năm 1313 dưới thời vua Trần Anh Tông mới xây dựng theo quy mô lớn. Công việc xây dựng đã tạo nên một chùa Dâu với quang cảnh mới ; cầu chín nhịp, tháp chín tầng . Đến đời Nguyễn , trong sách Đại Nam Nhất thống chí phần tỉnh Bắc Ninh còn ghi : “ Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa Trăm gian, xây tháp chín tầng, cầu chín nhịp nền cũ nay vẫn còn”
   Chúng tôi nhìn theo tay của sư thầy Thích Đàm Tùy thấy tháp bây giờ chỉ còn 3 tầng , nhưng vẫn sừng sững cao trên 15 mét, còn cầu chín nhịp đã bị đổ , nay không còn nữa. Thời gian qua đi, xóa đi nhiều cảnh cũ, nhưng người đời vẫn nhớ câu thơ cổ :
                                                         Nam Băc kiều đầu lộ tứ phân
                                                   Huyên huyên thị ngữ bất kham văn

    tạm dịch là :

                                                  Đầu cầu Nam Băc đường chia bốn ngả
                                              Chợ họp ồn ào khụng nghe rừ tiếng người núi
    Năm trước, tôi đã về chùa Dâu dự lễ hội, thuở đó, mọi người thường đến chùa Tổ Phúc Nghiêm tự nơi thờ Man Nương. Tại chùa Tổ tôi được dự lễ “rước Tứ Pháp về

   Bà con thường kể về lễ hội chùa Dâu. Đoàn rước gồm có : đi đầu là Đức Thạch Quang , tiếp theo là kiệu của các vị Pháp Vân, Pháp Vũ, Phấp Lôi và Pháp Điện sau cùng là kiệu bà chúa Trắng, bà chúa Đỏ. tất cả là 11 kiệu được khiêng bởi hơn 100 đô tùy. Ngày đó, người làng dẫn giải cho tôi biết : “đó là lễ Con đưa Mẹ Nuôi về thăm Mẹ Đẻ ”
    Họ nói thêm :
   - Bà Man Nương là mẹ đẻ, và Thạch Quang chính là con đẻ của bà,
   - Cây du nay tạc thành 4 tượng Phât Pháp Vân, Pháp Vũ , Pháp Lôi, Pháp Điện nhưng bốn vị đó đều làm bằng gỗ cây du nên họ là chị em , do đó đối với Thạch Quang đều là mẹ nuôi phân thân ra . Cho nên các vị Vân Vũ Lôi Điện đều ngang vai với bà Man Nương
   Đi đầu đám rước là Thạch Quang, dẫn theo các vị Phật Tứ Pháp nên dân gian coi đó là buổi lễ “con đưa mẹ nuôi về thăm mẹ đẻ ”
   Dân làng Mãn Xa chỉ giải thích được như vậy, còn sự tích Bà Trắng, bà Đỏ là ai thì họ không biết. Tôi cứ mang mãi nỗi thắc mắc trong lòng cho đến khi nghe sư thầy kể sự tích “ Ghênh đẻ- Khe nuôi” mới hiểu rõ: Bà Trắng là bà Trịnh thị Ngọc Chử là mẹ đẻ chúa Trịnh Cương , dân gian gọi là Bà chúa Ghênh, còn bà Đỏ là bà Nguyễn thị Cảo vú nuôi chúa Trịnh Cương ngày bé, tục gọi là Bà vú Khe Thì ra về chùa Dâu, chuyện gì cũng có cơ duyên, có sự tích! Rất mừng là các tác giả Nguyễn Quang Khải, Nguyễn Duy Hợp, Nguyễn Hữu đã tham khảo nhiều tư liệu, gập các cố lão vùng Luy Lâu để lưom lặt ghi chép viết nên sách nhằm quảng bá ngôi chùa linh thiêng và tục lệ rước hội vùng này.
   Dời chùa Luy Lâu, chúng tôi còn kịp ghi lại Lịch Hội chùa để sang năm theo đó về Thuận Thành dự hội :

                                                                   Dù ai buôn đâu bán đâu
                                                         Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
                                                                   Dù ai buôn bán trăm nghề
                                                          Tháng Tư ngày Tám nhớ về Hội Dâu

    Chùa Phật tích có nhục thân xá lỵ thì chùa Tiêu Sơn cũng có nhục thân xá lỵ. Ông Nguyễn Lân Cường đưa mọi người đến vừon tháp chùa Tiêu Sơn rồi chỉ vào một cây tháp cổ, Ông nói :
    - Đây là tháp cổ, căn cứ chữ Phạn trên tháp, ta biết được vị thánh tăng quàn tại đây là Maha Đặng tỳ kheo. trên tháp có một vết nứt vỡ, không có gì báo hiệu đây là tháp nhục thân kiết già của vị thánh tăng hay là xá lỵ của Ngài. Nhưng vào khoảng năm 2008 có một người chăn trâu đã tò mò cầm que chọc vào trong tháp, vì cử chỉ hỗn láo đó nên nhục thân của vị thánh tăng bị xâm phạm . Sau chuyện này, làng xóm có động, phải mời các vị cao tăng về cúng tạ
. Trong số các vị về làm lễ có hòa thượng Thích Kiến Nguyệt , Cụ đã tìm đến giáo sư Nguyễn Lân Cường nhờ chữa tượng ở Tiêu Sơn như đã làm ở chùa Đậu huyện Thường tín
    Theo lời mời đó, ông Nguyễn Lân Cường đến chùa Tiêu Sơn và quan sát, quả thực có một pho tượng đặt trong tháp theo tư thế “thiền táng”,
    Ông Nguyễn Lân Cường nói : “Trong thế giới có các phương pháp táng : đó là
    - địa tàng
    - hỏa táng
    - thủy táng
    - thiên táng (hay điểu tỏng)
    - huyền táng
  nhưng sau khi làm việc ở chùa Đậu (Thường Tín) thì tôi đã có ý nghĩ mới về việc ông cha chúng ta đã có phương pháp “thiền táng hay tượng táng” nay có pho tượng ở Tiêu Sơn thì ý nghĩ của tôi là đúng”
Chùa Tiêu Sơn ở trên cao, không có nguồn nước nào ở gần nên công việc phục chế pho “thiền táng” rất khó khăn, chúng tôi đã xin ý kiến giới Phật giáo và chính quyền làm lễ đưa tượng về thôn Nội Duệ để thực hiện công việc tu chỉnh pho thiền táng, Khi được phép mở cốt, mới biết rằng do cái que vô lễ chọc vào nên mắt của tượng bị thủng, từ vết thủng đó, khí oxy vào trong thân làm hỏng nhục thể . Mọi người đã cấp cứu sửa chữa tượng theo các bước : sấy thuốc 72 giờ để diệt khuẩn trong thân pho thiền táng, dùng kỹ thuật sơn ta để gìn giữ pho tượng, Tất cả mọi công việc đều có sự chứng kiến của hòa thượng Thích Kiến Nguyệt ”
   Làm xong công tác bảo quản pho “thiền táng” Hội Phật Giáo đã khoác áo Phật lên thân tượng, đặt tượng trong khám kính, có bơm khí nitơ để bảo quản lâu dài sau đó rước về chùa Tiêu Sơn đặt long trọng trên nhà tổ, còn trong tháp cổ thì làm một pho tượng bằng compôsitơ theo đúng mẫu cũ đặt vào, trân trọng như vẫn có Ngài tại đó
Mọi người lên chùa Tiêu Sơn, khác với mươi năm về trước, chùa Tiêu Sơn ngày nay có nhiêù hạng mục làm mới, nhưng dáng vẻ sư cụ trụ trì vẫn vồn vã đôn hậu như xưa, Người đến đây nhiều lần thường có nhận xét : Cụ Tiêu là một vị sư hết lòng vì đất Phật, cụ gìn giữ mọi thứ cho chùa nhưng không giữ cho mình vật gì. Đã có người biếu cụ tiền, cụ không nhận, nhưng khách đến chùa lễ Phật thường được cụ ban lộc cho hết thẩy
   Không nhiều đâu, khi thì miếng giầu , khi thì cái bánh, lộc chùa có bao nhiêu cụ phân phối hết nên ai cũng quý
   Qua vùng đất Phật, mỗi nơi một dáng vẻ nhưng bao trùm tất cả là một vùng ánh sáng chiếu trong tâm hồn, khiến cho ai nấy đều cảm thấy một sự hiểu biết sâu sắc về các di tích cổ, phải chăng đó là Từ quang Phật mà ai nấy đêu cảm thụ sau chuyến đi này
   

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 05.04.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn