Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ HAI
LÀNG MỚI TRÊN ĐẢO



CHƯƠNG XX


 Nhụ bàng hoàng cả người khi nghe Ngạnh nói bốn tiếng: Chú Thuận chết rồi!

Lúc ấy Nhụ vừa đi đá bóng về, người còn đầm đìa mồ hôi.
   - Cái gì? Mày nói... nói cái gì? - Nhụ bỗng lắp bắp.
   - Chú Thuận... - Ngạnh chỉ thốt lên được có thế rồi khóc nấc lên.
Bây giờ Nhụ mới chú ý đến khuôn mặt tái nhợt của nó, con mắt lác bạc phếch, dường như không còn có lòng đen.
Phải một lúc sau, Nhụ mới hỏi tiếp được:
   - Chú Thuận... làm sao?
   - Đêm qua... giông. Tàu chú ấy gẫy bánh lái rồi va vào cồn đá... Đồn biên phòng đã xin máy bay trực thăng để tìm... xác chú ấy.
   - Trời!
   Nhụ bỗng thấy ruột gan mình cuộn lên đến mức cổ bị nghẹn lại, nước mắt tự nhiên ứa ra, cả một khoảng trống ở trong bụng đầy những gió thổi xoáy tròn, khiến người Nhụ chao đảo. Nó phải tựa vào cột hiên nhà cho khỏi ngã và theo đường thẳng của cái cột, nó trượt lưng ngồi bệt xuống đất, trong trạng thái dường như vô thức. Mình xỉu mất. Nó chợt nghĩ thế. Nhưng không thể xỉu được, còn bao nhiêu việc phải làm. Ý nghĩ đó, làm nó dần dần tỉnh táo. Nó thấy Ngạnh đã sải những bước dài, rất vững chãi, đi về phía trụ sở ủy ban. Bố mình có gặp giông không? Nhụ chợt nghĩ và thấy nhói đau như có một vệt dao chích ở ngực bên trái. Mặc dù người vẫn còn nôn nao, nó cả quyết đứng dậy, bước vào nhà, việc đầu tiên là uống một ca nước to cho đã khát, sau đó chuyển cây luồng cho nước suối chảy vào thùng phuy tiếp theo, rồi nhúng cái khăn mặt đen nhẻm vào xô nước lau mồ hôi. Rồi vừa ra khỏi nhà, vừa xỏ tay áo, Nhụ cứ đi mà chưa biết đi đâu. Dàn cá phơi sau hàng dương, mùi cá thơm vì được gió, được nắng. Dãy quần áo cũ vừa giặt, vắt trên sào tre trước hiên nhà, mấy con chim sẻ đậu vào đó, thấy lạnh chân, bèn rối rít bay lên. Vạt rau cải xanh đậm, lá to và mỏng, gió khẽ chao nghiêng. Ngang dọc trên đầu, những cây luồng vẫn dẫn nước suối về từng nhà, rỏ giọt tí tách xuống mặt cát. Và biển, biển vẫn mênh mông dịu dàng màu lam nhạt. Và rừng, rừng vẫn âm u xanh, một màu xanh đã cứng, đã già... Cảm giác như không có gì xảy ra, và lời vừa nói của Ngạnh là không có thật.
   Không phải ngày trực, trụ sở ủy ban đóng cửa. Phòng vô tuyến ở gian đầu hồi cũng khép, Nhụ ngó qua không thấy có ai, chắc chưa đến giờ thu phát. Lá cờ đỏ sao vàng động gió, bay như hát ở trên nền trời. Nhụ hoàn toàn ra khỏi những ám ảnh đau buồn. Nó đi một lúc mới biết là mình đã quay về, và bước chân đã dẫn nó đến cửa nhà ông Trương. Ở làng đảo Bạch Đằng Giang bây giờ, Nhụ thấy chỉ có hai ngôi nhà có khóa, và cả hai ổ khóa bảo vệ hai ngôi nhà đều chưa phát huy tác dụng. Đó là trụ sở ủy ban có máy bộ đàm và nhà ông Trương có ổ rắn. Vốn là gian nhà khá rộng, được dựng lên để làm kho trung chuyển của bộ đội biên phòng, bố Nhụ nhận bàn giao, đã xếp cho ông Trương ở tạm ngay từ lần đầu ông ra đảo. Thấy cửa mở, biết là ông có nhà. Nhụ bước vào, thấy ông đang ngồi giữa bầy rắn, miệng đang lẩm nhẩm những câu gì đó, nghe tựa như người cầu kinh, rồi ông lấy miếng vải đen đeo vào cổ con rắn hổ mang bành đầu đàn. Con rắn ngước lên phun phì phì, rồi cúi đầu xuống sát đất. Sau này, Nhụ mới hiểu là ông đeo tang vị chúa đảo cho bầy rắn của ông.
   Ông vừa ở cảng cá về. Ở đấy, một số cán bộ đồn biên phòng, nhân viên ủy ban và thân nhân người bị nạn đang chờ tin. Thì ra chú Thuận xuống tàu từ sáng qua. Hai ngày sau, sẽ có cuộc họp ở đất liền về kế hoạch phát triển kinh tế đảo và bảo vệ vùng biển. Chú đi cùng năm người, trên tàu cá hai trăm sức ngựa. Một người được cứu sống đã kể lại với đồn biên phòng Cô Tô sự cố đắm tàu, và một giờ sau, đảo Mõm Cá Sấu mới nhận được tin buồn. Tàu hải quân và máy bay trực thăng ra sức kiếm tìm, mới vớt được xác một người là chiến sĩ đồn biên phòng xin phép về thăm quê, trôi lên đến tận đảo Vĩnh Thực.
   - Ông có biết tin gì về bố cháu không?
Thấy ông không trả lời ngay, Nhụ hốt hoảng hỏi lại.
   - Không... làm sao. - Ông Trương đổ thêm xô nước vào cái máng gỗ dài, dùng để cho rắn tắm, rồi bước ra:
   - Tối nay bố cháu về. Nấu cơm cả bố cháu nhé!
Chiều qua, bố Nhụ nhận được thông báo: Có bãi cá nổi ở phía biển đông nam, cách đảo khoảng tám mươi kilômét. Đấy là chỗ nước chảy vật lại, khi dòng hải lưu từ phía bắc về, bị mũi nhọn của núi Mõm Cá Sấu chẻ ra làm đôi. Bác xuống tàu ngay và lệnh cho các tàu lưới vây quay về tọa độ đó, để săn bắt. Sản lượng cá ước tính vài chục tấn.
   Nhụ về nhà chuẩn bị nấu cơm chiều. Bước qua cửa, Nhụ dừng lại ngay. Ở chân giường, con gà mái đang cào cào trên nền đất. Nó xù lông ra, đứng dạng chân, thân hơi khụyu, như đang chịu một sức nén vô hình, cổ rụt lại, mào rũ xuống, màu tím đen, kêu lên mấy tiếng rất trầm và đục: kẹc, kẹc, kẹc, kẹc... Một lát sau, nó nghển cổ lên, mắt nhìn Nhụ trừng trừng, nhưng Nhụ biết là nó không nhìn thấy gì cả. Rồi bịch một cái, một quả trứng ướt át và bóng nhãy, rơi tọt xuống. Con gà mái rùng mình và dường như rất ngạc nhiên, trước cái quả tròn kỳ lạ lăn lăn bên chân. Nó đứng nhìn một thoáng có vẻ đắn đo, mào đỏ tươi dần có thể nhìn thấy được, rồi như thể hốt hoảng, nó bỗng nhiên bay vù ra, kêu cục ta cục tác ầm ĩ...
   Đây là lần đầu tiên, Nhụ chứng kiến quá trình ra đời của một sự sống. Nhụ cầm quả trứng, còn đầm đìa sáng tạo trên tay, cảm thấy nỗi vui cứ thấm dần vào lòng mình.
 


CHƯƠNG KHÔNG ĐÁNH SỐ


  Đến chín giờ tối, vẫn chưa thấy bố Nhụ về, ông Trương và Nhụ phải ăn cơm trước. Ngọn đèn đặt trên mâm cơm, dát gió, chốc chốc lại lung lay rồi phụt tắt. Dường như không chịu đựng nổi sự ám ảnh nặng nề của nỗi mất mát và sự chờ đợi, hai ông cháu thong dong đi ra biển, xem có ánh đèn tín hiệu của tàu về không.

   - Trời này lại sắp có giông đây. Nhưng chỉ có trời mới biết, nó sẽ nổi lên ở chỗ nào. - Ông Trương lẩm bẩm. Và một phản xạ được duy trì từ thời còn lái đò ngang trên sông Bạch Đằng rộng hơn hai dặm nước, ông bỗng huơ tay ra...
   - Bão thì dù không có dự báo thời tiết, người dân chài cũng biết trước được. - Ông Trương lại nhẩn nha nói. - Nhìn chân mây, chớp cao một mét và thưa, là bão đang sinh. Ba hôm sau, chớp chạy hình rễ cây lằng nhằng và loang loáng ở ngay sát mặt nước, là bão sắp đến gần. Còn giông thì không ai biết trước được. Bủa mái chèo xuống nước, mái chèo nhẹ bẫng, không còn lực đẩy, nước quanh thuyền đã chết, nổi bọt trắng như dãi cua, và bốc lên mùi hôi lợm giọng như mùi cá ba gai ươn. Quay lại, lốc đã lừng lững hiện ra ở ngay phía sau lưng rồi. Con lốc cuồn cuộn xoáy tròn hình trôn ốc, quay cuồng dữ tợn và đen tối như thần chết... Nó đến chỉ một loáng rồi đi, nhưng sức tàn phá thì khủng khiếp...
   Ông Trương đặt bàn tay ấm và nặng lên vai Nhụ, kéo Nhụ ngồi xuống bờ cát. Phía sau, rặng núi Mõm Cá Sấu tím sẫm, in hình răng cưa lởm chởm lên nền trời màu thiếc, bí hiểm và ngang tàng. Những rặng cây khẽ rì rào trong đêm dịu dàng và mượt như nhung. Dăm khung cửa hình chữ nhật, sáng hồng ánh đèn, như lỗ thông hơi của một biển lửa đang cháy mang mang ở trong ruột trái đất. Trước mặt, biển thẫm đen. Quả là trong đêm, biển đồng lõa với trời về những mưu đồ phản trắc và bí mật. Âm u trên chín tầng cao, những ngôi sao thoi thóp thở rồi chết đuối trong khoảng không vô tận màu máu cá.
   - Cu Cõn! - Ông Trương bỗng thì thào. - Rồi lớp người như cháu sẽ làm chủ hòn đảo này. Còn bây giờ, dù muốn dù không, gánh nặng sẽ đặt lên vai bố cháu. Lúc này, ông thấy không thể bỏ bố cháu lại mà về được. Ông sẽ ở lại đảo, sẽ ở lại đảo...
   Rồi sau đó, Nhụ im lặng lắng nghe mà không rõ ông Trương nói những gì. Đêm đen và biển cả đã bỏ bùa mê vào tâm hồn ông. Giọng ông bỗng lang thang như một người mê sảng...


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 05.04.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn