Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHƯ ÁNG MÂY TRÔI





ĐÔI LỜI TÂM SỰ

Tôi đang bước vào tuổi 67, cái tuổi chưa quá già - mà cũng không còn trẻ nữa! Người ta thường có suy nghĩ, viét “Hồi Ký” là chỉ dành cho người già? Tôi không nghĩ vậy. Viết về đời mình mà cũng quy định “già/trẻ” sao? Điều quan trọng là mình có “thích viết” hay không, có gì cần ôn nhớ lại hay không, và sau cùng là nên “viết như thế nào”? Nếu thấy “thích”, thì hãy cứ viết… Có sao đâu?

Có một người bạn rất thân, đã nói với tôi: “Thời đại ngày nay - trong xã hội luôn quý trọng phương tiện khoa học kỹ thuật làm nền tảng cho đời sống, người ta đánh giá sự thành đạt, vinh hiển, đáng nhớ, là ở sự giàu sang, danh vọng! Kẻ không giàu có, là “phó thường dân hạng bét” (chữ của nhà thơ Trần Huiền Ân), lại nghèo nữa, thì được xem là kẻ bất tài, kém cỏi; sẽ chẳng được ai nể trọng cả, nếu không muốn nói là sẽ bị khinh rẻ, thấm chí xa lánh; thì viết Hồi Ký để làm gì, ai thèm dọc?”

Cũng có bạn bảo: “Viết Hòi Ký chỉ để dành cho danh nhân, thiên tài (vvv), chứ “vô danh tiểu tốt” như ta, thì viết làm chi?”

Lại một người bạn thân thiết nữa góp ý: “Viết hồi ký, là viết về “mình”, về “cái ta” (cái “ngã” đáng ghét), sao tránh khỏi chủ quan, sao tránh được lời người cho là mình tự “tô hồng” cho cá nhân, tự đề cao, tự mãn (và rất nhiều cái “tự” khó ưa khác)?”

Chỉ vừa mới nhắc qua ba nhận xét “đơn giản” thôi, tôi cảm thấy (và tự xét), mình là người không đủ “điều kiện”, và khả năng viết Hồi Ký theo “quan điểm”… thông thường ấy được rồi!

Lời người đời là vậy, nhưng tôi lại có cái nghĩ riêng cho mình, để làm việc tôi “thích”: Tôi viết cho những giờ phút cô dộc, phiền muộn đã và dang bước qua đời sống tôi, một cách trống rổng, vô vị; để chia sẻ “đôi điều” đã trải nghiệm, cùng người thân, bạn bè! Tôi xem từng trang viết là một “phút thư giãn”, để an ủi và xoa dịu cuộc sống tôi, như bao “trò chơi” khác mà con người đang ham thích như mê làm giàu, ham danh vọng, chơi cây kiểng, đá gà, cờ tướng (vvv). Chỉ giản dị có vậy thôi.

Từ rất lâu, tôi có suy nghĩ: Đời người là một chuỗi dài nhân duyên huyền vi, linh hoạt, biến chuyển không ngừng, mãi cho đến ngày kết thúc (và lại tiếp tục…). Duyên khởt trùng trùng, nhưng không vô tình, mà chính là do duyên nghiệp mầu nhiệm kết tụ. Nếu không là bậc cao tăng đắc đạo, thì không có ai có thể “nghĩ bàn” (hay biết trước) về dòng nhân duyên từng sát-na ngày đêm trôi chảy qua đời mình…

Có lẽ mỗi người là một chiếc lá trên dòng nước cuộc đời chảy xiết, một áng mây lửng lơ trên nền cao vời vợi của cõi trầm luân, không hẹn trước sẽ tấp vào bến bờ ghềnh thác nào, hay sẽ tan rã giữa xanh thẳm vô biên cõi tạm nào!

Ở gần vào tuổi “xưa nay hiếm”, tôi lại cảm thấy dòng thời gian trôi qua đời mình chậm - rất chậm! Thời gian không ồ ạt cuồn cuộn như thuở thanh xuân; cũng không rộn ràng, réo gọi như thời trung niên năm mươi nữa; mà dòng thời gian tháng năm gần cuối đời như ngày càng lơ lửng, nhẹ nhàng, chậm chạp hơn!

Trong cái “lắng đọng” của thời gian ở tuổi gần 70, đã trải qua bao thăng trầm lận đận, tôi chợt nhận ra cuộc đời tôi đã từng có bao “duyên lành” linh nhiệm dẫn dắt, che chở, và đưa tôi từng bước đi vào đời cho đến hôm nay (và cả mai sau): Tôi muốn ôn nhớ lại, ghi lại - cho dù chưa thật trọn vẹn, bởi thời gian trải dài trên mấy chục năm lận đận, trí nhớ cũng dần hao mòn vì bao nỗi khổ phải lo toan, phải đối diện thường trực với những biến cố thúc giục hằng ngày, và nhiều lý do “nhạy cảm” khác…

Bởi vậy, tôi đã tự dặn mình khi đặt bút viết những dòng đầu tiên: “Hãy viết với tấm lòng thành, với sự trong sáng vô cầu, với ước mong nhỏ nhoi là chia sẻ đôi chút tâm tình của mình, cho người đọc trong những giờ phút được thư thả, cho vui!”

Và tôi nghĩ tiếp: “Rồi thời gian sẽ cứ thản nhiên trôi qua, cuộc đời cứ lần bước vào bóng tối của sự hủy diệt; tất cả chỉ là một hồi kịch, một trang tiểu thuyết, mà mình đã từng là một “nhân vật”, hay một diễn viên - không hơn!”

Tóm lại, tôi viết “Như Áng Mây Trôi” - tập hồi ký ngắn ngủi nầy, là cốt ghi nhận vài biến đổi không bao giờ quên, những kỷ niệm một thời đau buồn hay hạnh phúc, đôi chặng đời thăng trầm mà tôi đã phải trải qua; để “tiêu xài” những giờ phút được nhàn rỗi, khi “ngồi mà nhớ lại” - mong tự an ủi mình, tự vui với những hoài niệm; tuyệt nhiên không có tham vọng mong cầu gì lớn lao khác! Có thể tập Hồi Ký nầy, sẽ cùng theo tôi về với lòng đất một ngày nào?

Và cũng có thể, nếu “đủ duyên”- nó sẽ đến tay bạn, như một lần ghé thăm…

Xin có đôi lời “thưa gởi”- rất mong sẽ được tất cả hỷ xả cho những thiếu sót, những “chủ quan” (chứ không phải tự mãn, không thể tránh hết, dầu đã rất hạn chế, cẩn trọng!) đã chân thành (và vô tình) được nhắc kể. ở đây!

Trân trọng cám ơn!

Quê nhà, ngày Mồng 1, tháng Ba, Canh Dần
        (ngày 14 tháng 4 năm 2010)


         Huệ Thành
         MANG VIÊN LONG

IV

DUYÊN LÀNH GẶP GỠ Ở TUY HÒA

Thi đậu xong Trung học đệ nhất cấp (cuối năm đệ tứ), anh tôi nói: “Mày học vậy là đủ rồi, nhà không có tiền nuôi ăn học tiếp được nữa. Tìm ngành nào thu nhận bằng THĐNC thì nộp đơn xin thi, tìm cái nghề để sống, hay ở nhà làm nghề hình với tao! Nếu có vào lính, cũng được lon Trung sĩ!” Tôi biết, có vài ngành sử dụng bằng THĐNC khi thi vào, như trường Cán Sự Y Tế ở Huế, Phụ tá phòng Thí nghiệm ở Saigon, Sư phạm cấp tốc ở Nha Trang; nhưng tôi rất muốn được đi học thêm. Chị tôi và tôi thầm nghĩ, với số tài sản của mẹ để lai là bốn căn nhà, và một mẫu ruông loại một, có thể nuôi cả hai chị em tôi ăn học ít nhất là qua hết bậc trung học; nhưng chỉ một mình tôi đi học mà anh Nguyên đã luôn than phiền “nhà rất nghèo”; chúng tôi không dám nói gì hơn là im lặng!

Tôi xin tiền chị tôi dể đi Qui Nhơn một ngày, tìm nhà dạy kèm (hay công việc lặt vặt gì đó) để có thể có cơm ăn ngày hai bữa mà đi hoc. Suốt buổi sáng tôi thất vọng vì nhà nào cũng đã có người dạy từ năm trước rồi, không thể nhận thêm. Buổi trưa, đang lang thang dọc phố Gia Long - tôi chợt nhớ một người quen đồng hương An Nhơn có hiệu buôn lớn trên con đường này. Tôi ghé lại thăm, và ngỏ lời xin anh giúp hay nhờ anh giới thiệu cho những gia đình khác, vì có người quen giới thiệu, người ta mới tin tưởng mà nhận. Nghe tôi tha thiết trình bày ý nguyện, anh cười: “Em ở lại đây đi! Nhà anh năm nay có hai đứa học đệ tứ, sắp thi THĐNC, một đứa sắp thi vào đệ thất kỹ thuật, một đứa đang học lớp ba trường Bùi thị Xuân ở Cầu Đôi cần người chở đi về; anh biết hoàn cảnh bất hạnh của em, nhưng em thiệt thà học giõi nên anh muốn giúp đỡ…”
Tôi qua khỏi năm đệ tam với kết quả cuối năm đạt học sinh khá. Ba đứa con người chủ nhà cũng đều thi đậu, tuy tỷ số đậu năm ấy cũng rất thấp, nhất là trường Trung học Kỹ thuật chỉ chọn 8 phần trăm. Gần ngày khai giảng năm học mới, tôi lại xuống Qui Nhơn thăm người chủ nhà cũ đã dạy kèm năm ngoái, với hy vọng sẽ được “giúp đỡ” thêm ít ra cũng một năm nữa; nhưng đã bị ông ta từ chối, với lý do “dạo nầy họ kiểm tra người ở trọ gắt quá!”
Sau khi ra khỏi nhà người chủ quen, tôi mệt lã người, nhưng chân vẫn bước đi lang thang không định hướng dưới cơn nắng trưa như lửa đổ. Tôi ghé vào hiệu kem Ngọc Thành trên đường Phan Bội Châu để có chỗ ngồi nghỉ ngơi một chút, rồi sẽ đi tiếp cho hết buổi chiều. Vừa bước vào, tôi đã nghe tiếng Thanh gọi tôi. Thanh lớn hơn tôi vài tuổi, đang học ở trường Bồ Đề, thường lui tới chơi với mấy người bạn cùng ở trọ với tôi thuở trước. Cậu ấy đang ngồi ở góc trong bên trái, với ly cafe đá. Tôi mệt mỏi tiến lại, kéo ghế ngổi, và gọi một ly kem ăn cho đỡ khát. Thanh gọi thêm bánh ngọt cho cả hai. Thanh lấy làm lạ, hỏi tôi đang đi đâu giữa trưa, tôi nói ý định của mình, như một lời tâm sự. Thanh vỗ tay “đốp” một cái, cười thoải mái: “Vậy mày về ở với tao. Năm nay tao cũng học thi lại Tú Tài Một…” Tôi hỏi: ”Ở là sao?” - “Tao sẽ nói với bà già, cho mầy ăn ở không, hướng dẫn tao học ôn thi lại, chắc là bà già mừng lắm!” Tôi biết Thanh là con một của một gia đình trung lưu, ba Thanh có hiệu hớt tóc trên đường Cường Đễ, hằng ngày tôi vẫn đi qua, có hôm ghé lại chơi. Cha mẹ Thanh rất cưng chìu cậu ấy, rất mong Thanh chăm học, bớt đi chơi hoang, chắc chắn là lời nói của Thanh sẽ được bà chấp thuận. Thanh giành trả tiền, chở tôi về nhà luôn, trên chiếc xe đạp mới. Đúng như tôi nghĩ, mẹ Thanh rất hài lòng với quyết định của Thanh… Năm ấy, tôi có chỗ ăn ở đàng hoàng, tươm tất, thi đậu Tú Tài một hạng Bình, còn Thanh cũng đậu hạng thứ với điểm vớt vì bão lụt.
Năm đệ nhất tôi không còn ở nhà Thanh nữa, vì cậu ấy đã đúng tuổi động viên, nên vào Thủ Đức. Thanh giới thiệu tôi với một người quen, lớn tuổi, chỉ dạy ông ấy môn Anh Văn, nhưng tiền thù lao không đủ chi dùng trong tháng. Tôi phải nhờ chị Thục trong mấy tháng đầu, sau đó mới tìm thêm được hai chỗ kèm cho trẻ đang học lớp Năm. Cuối năm tôi đã thi đâu Tú tài hai, ban C, với hạng “Bình Thứ”- dầu tỷ lệ đậu khi thi viết là 8 phần trăm, vào thi vấn đáp chỉ còn 6 phần trăm! Đậu tú tài hai, có nghĩa là tôi chưa bị động viên sớm như một số bạn học cùng trang lứa, thi hỏng, đã phải trình diện nhập ngũ vào Thử Đức, nếu không có con đường “chạy” nào khác! Tôi xin tiền chị Thục vừa đủ vào Saigon mấy hôm để ghi danh học trường Luật và tìm kiếm một việc làm cho năm học thứ nhất. Saigon rộng lớn và phồn hoa là vậy, nhưng tôi không tìm được một chỗ nào có thể chen vào. Saigon với tôi vô cùng xa lạ, vô cùng buồn tẻ, và cũng vô cùng lạc lõng. Trong lúc lòng hoang mang, lo lắng, vì số tiền chị Thục cho đã sắp cạn, mà chẳng tìm ra chỗ trú chân cho mình; thì tình cờ tôi gặp Minh (đang ghi danh học ở Văn Khoa- khoa Triết Đông – có bút danh Đam San) - bạn đồng hương, học cùng lớp thời tiểu học ở cùng đường phố, từng “đánh đáo, chơi vụ, bắn bi”, đã vào sống ở Saiogn với người chú từ năm đệ tứ, đang có mặt ở sân trường Văn Khoa. Nghe tôi kể, cậu ta góp ý: “Cậu về nộp đơn thi vào Trường Sư Phạm Qui Nhơn đi. Nếu thi đậu, cậu có tiền học bổng đủ sống trong hai năm, được hoãn dịch, ra trường được bổ nhiệm di dạy có lương ngay. Chuyện học Luật hay Văn khoa để mình sẽ nhờ “nhóm sinh viên phụ trách trợ giúp sinh viên ở xa” của Hội gởi cours bài hằng tháng cho cậu học, đến ngày thi thì vào Saigon thi, lo gì? Sau hai năm tập sự, qua một kỳ thi sát hạch, cậu đương nhiên là giáo sư trung học đệ nhất cấp, nếu có đủ cử nhân, cậu sẽ được vào ngạch giáo sư trung học đệ nhị cấp ngay thôi mà…” Người bạn đưa tôi về nhà người chú ở đường Bùi Viện nghỉ chơi một ngày, trước khi về lại Qui Nhơn, theo sự góp ý bạn, tôi nộp đơn xin thi vào Trường Quốc gia sư phạm…
Gần 12 năm dạy học ở Phú Yến, thị xã Tuy Hòa, tôi đã có duyên gặp Đại Đức Thích Giác Lượng. Một buổi sáng, Thầy tìm đến nhà trọ thăm tôi, cho biết, Thầy là người đồng hương với tôi (thôn Bằng Châu, xã Đập Đá), hằng tháng có nhiệm vụ ghé thăm các tịnh thất của hệ phái khất sĩ ở miền trung và cao nguyên. Thầy đã đọc các tạp chí văn học, biết tôi đang dạy học ở đây, nên đến thăm. Lần gặp đầu tiên, Thầy mang đến “tặng” cho tôi bộ Kinh Hoa Nghiêm, và một tập thơ của Thầy vừa ấn hành, ký bút danh Tuệ Đàm Tử. Sau đó, cứ vài ba tháng, Thầy ghé thăm tôi một lần, cho tôi vài cuốn Kinh mới, hay tập sách của Thầy vừa xuất bản. Và tôi đã theo Thầy về tinh thất Ngọc Phú trên đường Nguyễn Công Trứ để thọ trai, cùng nhau trò chuyện về Đạo, về Thơ văn, rất đầm ấm, chân tình!
Một lần, vào mùa hè năm 1969, Thầy ghé thăm tôi ở Qui Nhơn và hỏi: “Ngày mai đoàn quý Sư về thuyết pháp ở tịnh xá Ngọc Hòa, Vũng Bấc - đảo Phước Hải, huynh đi không?” Tôi đã thưa với Thầy, rất vui mừng được “tháp tùng” đoàn của quý Sư trong chuyến hoằng pháp một tuần nầy.
Buổi sáng hôm sau, tôi đi theo đoàn của quý Sư ra bến ca nô, bắt đầu chuyến hành hương. Ca nô cập bến Phước Hải vào buổi trưa, Phật tử trên đảo đã có mặt sẵn gần một trăm người, áo tràng chỉnh tề, đón tiếp đoàn về tịnh thất Ngọc Hòa trên triền núi cao. Tôi lại tiếp bước đi sau cùng đoàn người áo vàng... Tối hôm đó có buổi thuyết giảng của quý Hoà Thương, Thượng Tọa, Đại Đức ngay trong khoảng sân chật hẹp của tịnh thất, một số Phật tử phải ngồi chung quanh trên các tảng đá cao. Tôi cũng tìm một tảng đá, hơi cách xa - ngồi nghe giảng pháp. Chương trình khai giảng đã chọn đứng vào đêm Rằm, những ngày có trăng, quang cảnh thật mát mẻ, yên lành. Sau buổi thuyết pháp, bà con lần lượt xuống bãi, về nhà. Thầy Giác Lượng đã đến ngổi trên tảng đá với tôi, Thầy tró vừa uống trà, vừa trò chuyện đến khuya… Tôi cũng đã được Thầy dành cho một chiếc cốc nhỏ để ngã lưng, có thể nhìn ngắm trăng và đón gió biển qua khung cửa bỏ trống!
Ở Tuy Hòa, qua hai người bạn văn đồng nghiệp là anh Trần Huiền Ân và Đỗ Chu Thăng đang dạy ở trường Trung học Bồ Đề Tuy Hòa và Hiếu Xương; tôi được gần gũi thân thiết với quý Thầy Thích Thiện Đạo, Thích Minh Tâm và một số quý Thầy trong ban giám hiệu. Thầy Thiện Đạo vẫn thường cho chúng tôi xem vài bài thơ thấm đượm Thiền vị, tình Đạo, tình Đời rất sâu sắc. Thỉnh thoảng Thầy ghé cho tôi vài tập sách báo, vài quyển kinh mỏng, để “làm quen” với Đạo. Tôi bắt đầu “tiếp cận” với Đạo từ dạo ấy…
Sau đó không lâu, Thầy MinhTâm đổi về Phan Thiết. Trước khi đi, Thầy vui vẻ hỏi tôi: “Thầy đi, Long muốn Thầy tặng món gì?” Tôi cười: “Tôi thích một món, nhưng có lẽ không được!” – “Long cứ nói đi!” – Sau một phút do dự, tôi thưa: “Tôi muốn Thầy tặng cho tấm áo cà sa!” – Thầy cười: “Được rồi!” Ngay hôm sau, Thầy gói chiếc áo ca sa vàng thật kỹ, đem dến nhà trọ thăm và cho tôi. Tôi vô cùng ngạc nhiên và biết ơn Thầy…
Cũng tại cái thị xã bé nhỏ yên vắng thân thiêt nầy, nhân lúc anh Nguyên bị Bộ chỉ huy 5 Tiếp vận thuyên chuyển lên Buôn Mê Thuột vì “vợ anh có dính líu đến vụ mua bán hàng hóa với lính Mỹ”, tôi đã đưa đứa cháu mười tuổi (trưởng nam, con anh Nguyên) từ NhaTrang ra trọ học; đồng thời viết thư “minh oan, khiếu nại” gởi cho Chỉ Huy trưởng BCH 5 TV; sau đó vài tháng, anh Nguyên đã được chuyển về lại Nha Trang với gia đình; chú cháu đã có những tháng ngày sống chung thật êm đềm!
Ở Tuy Hòa, tôi đã gặp và kết thân với những anh em đồng nghiệp và bạn văn, rất chân tình: Quý anh Lê Tăng Mính, Phan Tiên Hương, Đàm Khánh Hạ, Phan Long Côn. Khánh Linh, Y Uyên, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Tường Văn, Bùi Đăng Khuê, Trương văn Điềm, Phan Việt Thủy, Trương Can, và nhiều thân hữu, học sinh chí tình (…) – ghi dấu một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng…

V

TRUỞNG THÀNH TRONG BOM ĐẠN

Giữa năm 1972, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, hai bên đang giành giật từng tất đất, cảnh tương tàn thương tâm hằng ngày xảy ra trên mọi vùng miền, không thể nói hết. Trong lúc ấy, Hội nghị ở Paris về chiến tranh Việt Nam đang căng thẳng. Lệnh tổng động viên đã được Đại Tướng Cao Văn Viên - Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH - ban hành khẩn cấp. Theo sắc lệnh nầy, tất cả các trường hợp hoãn dịch trước đây đều bị gác lại, hoãn dịch chỉ dành cho sinh viên đang học năm cuối, đang chuẩn bị thi ra trường, khi thi xong, phải trình diện nhập ngũ.

Tôi và một số giáo sư ở trường Trung học Nguyễn Huệ phải ra đi. Sau gần hai tháng lên xuống trình diện ở Trung Tâm 3, chờ sắp xếp khóa học ở Thủ Đức; chúng tôi lần lượt được máy bay chở ra Nha Trang, vào học ở trường huấn luyện hạ sĩ quan Đồng Đế vì Thủ Đức không còn chỗ dung nạp. Lớp hạ sĩ quan ở Đồng Đế phải dời lên trung tâm huấn luyện Lam Sơn ở Ninh Hòa. Tôi vào trường Đồng Đế, thuộc tiểu đoàn 3; trước đó đã có 2 tiểu đoàn là sinh viên của các trường đại học đang học các năm thứ 1, 2 và 3.
Đang sống trong một môi trường tương đối ổn định, với đám học sinh hồn nhiên, tôi phải rời bỏ, để bắt đầu “làm quen” với mọi thứ sinh hoạt bất thường, mọi ám ảnh đau buồn, và một tương lai mờ mịt trong cảnh tương tàn ngày càng sôi sục, thảm khốc, đang hiện rõ từng ngày ở đây! Chỉ chưa được một tháng, sau tiểu đoàn của tôi, từng lớp trẻ đã được chở vào Đồng Đế lên đến mười sáu tiểu đoàn, Và còn tiếp tục các khóa mới, sau đó… tôi không nhớ hết!
Tôi nghĩ, đa số bạn trẻ vào đây cũng có cùng tâm trạng như tôi: là không ai thích chiến tranh, chém giết; không ai muốn rời bỏ cây bút và bạn bè, quê nhà thân thương mà cầm lựu đạn hay M16 cả! Tuổi trẻ đang bị dồn đuổi vào bước đường cùng, không còn con đường nào khác giữa bao bủa vây, rượt đuổi bằng nhiều cách, của mọi “nhãn hiệu” được sơn phết. Qua được giai đoạn 1, đang học giai đoạn 2 - tôi bị đau, được xe cấp cứu chở vào Quân Y viện Nha Trang. Tại đây, khi tạm thời ngồi dậy, bước ra hành lang được, tôi đã chứng kiến cảnh tiếp nhận thương binh từ các nơi dồn về càng nhiều. Cảnh tang thương ly biệt diễn ra hằng ngày, khiến tôi càng phiền muộn và thất vọng. Tôi đã viết bài thơ “Những Dãy Hành Lang Buồn Bã” để bày tỏ sự tuyệt vọng và phản kháng về một cuộc chiến tương tàn đã kéo dài dai dẳng trên đất nước nghèo khó; nhờ người quen ra bưu điện Nha Trang, gởi cho tạp chí Bách Khoa. Bài thơ đã được BK chọn đăng ngay sau đó, nhưng, cũng đã làm phiền cho tòa soạn BK phải chậm phát hành 1 tuần, khi buộc phải đồng ý “cắt bài thơ ra khỏi tạp chí” theo lời yêu cầu của cơ quan “Phối hợp nghệ thuật” thuộc Bộ VHTT thì báo mới được phát hành.
Trong một đêm nằm mê man ở giường bệnh không ai chăm sóc, tôi đã có một giấc mơ “không mong đợi”, nhưng vô cùng mầu nhiệm, đã đến đúng lúc để an ủi và tiếp thêm thêm nhiều nghị lực để tôi vượt qua được sự thất vọng cùng cực vào lúc nầy: Người đàn bà choàng khăn trùm đầu mỏng màu xanh, toàn thân một mầu áo choàng trắng, đã xuất hiên ngay trên đầu giường tôi, chỉ nhìn tôi mỉm cười. Nụ cười hiền từ, ấm áp, gần gũi đến nỗi tưởng như tôi đã gặp được nhiều lần ở đâu dó. Tôi cảm thấy rất vui mừng, khoan khoái, biết ơn. Tôi choàng mở mắt, và nhận biết, chỉ là giấc mơ. Đồng thời, tôi cũng cảm thấy cổ họng khô khốc, khát nước vô cùng. Trong đêm tối lờ mờ, tôi lần mò đến các giường bên cạnh, tìm chai nước uống. Tôi vớ được một chai - không biết là chai gì, vội mở nút ra uống ừng ực! Tôi đã uống hết chai nước, và trở lại giường nằm cho đến sáng rõ, khi người y tá và bác sĩ trực đang đi đến khám lại cho tôi…
Hơn một tuần nằm bệnh viện, tôi đã trở về trường, để tiếp tục qua giai đoạn 2 với nhiều cam go, thử thách đang chờ đợi. Người đã thăm hỏi, an ủi tôi đầu tiên khi về đến trường là nhà thơ Duy Năng; anh luôn dành cho tôi những tình cảm ưu ái đặc biệt, trong những ngày tháng gian truân ở Đồng Đế. Tôi xem anh như một người anh đáng kính.
Ngay hôm tôi trở về, tối hôm ấy, đại đội được lệnh bầu lại ban đại diện sinh viên, vì ban đại diện cũ “không được tín nhiệm” của sinh viên, mà do vị trung úy đại đội trưởng thiên vị chỉ định, đã làm mất lòng tin của anh em trong đại đội. Chẳng may, tôi lại “bị” anh em trong đại đội bầu làm đại diện, với người thư ký mới tên Minh-lùn hiền từ phụ tá. Tôi không thể nào từ chối, bởi quyết định của anh em, cũng là một “mệnh lênh” mà trong quân trường không thể không “chấp hành”! Công việc “đại diện” không có gì quan trọng và nặng nhọc, chỉ nhận và phát hàng quân tiếp vụ cho anh em đúng ngày, đầy đủ, là xong! Nếu anh em có đề nghị gì, thì chuyển đạt lên, hay lúc cần giao thiệp với chủ thầu nhà ăn, giặt áo quần, thì “đại diện” có mặt. Cái khó nhất là trong “mùa thi” qua giai đoạn, và nhất là thi cuối khóa, phải rất “tế nhị” với sĩ quan huấn luyện ở các khoa phòng, để… tất cả đều đạt điểm cao! Chuyện nầy, thì tôi gắng làm tốt được, nhưng chuyện… “ăn thịt chó” thì xin thua! Tôi đã từng bị vị trung úy đại đội trưởng mới đến hướng dẫn cho đại đôi “khiển trách và hăm dọa” nhưng, cũng đành ”xin lỗi và nhận khuyết điểm” thôi!
Dù đã là đại diện cho sinh viên của đại đội, tôi từ chối không dọn lên nằm ở phòng riêng với vị trung úy đại trưởng như ban đại diện cũ, mà vẫn nằm ở phòng tập thể với anh em, vì nằm riêng lẻ vậy rất buồn! Hằng đêm, và mỗi buổi sáng sớm, khi còn nằm ở giường, tôi đều luôn niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ tát mà tôi vẫn thường trì niệm hằng ngày từ thuở nhỏ… Một lần được ra phép Nha Trang vào ngày chủ nhật, tôi đã tìm mua được xâu chuỗi hạt Bồ đề rất đẹp. Tôi thường lấy ra khỏi rương khi đã leo lên giường mỗi đêm, nhưng có một lần vị trung úy đại đội trưởng bước vào láng, bất ngờ thấy được, ông lắc đầu: “Tôi… chán ông quá, hèn chi ông không dám ăn thịt chó!”
Nhờ vào sự thay đổi bất ngờ ngoài mong đợi nầy, bệnh thấp khớp mãn của tôi được giảm dần, vì có thể “ở nhà” bất cứ lúc nào, khi chân hay tay bị sưng nhức. Được miễn giảm các món chạy nhảy leo trèo nguy hiểm. Thậm chí, khi đại đội bị “phạt dã chiến”, tôi cũng có thể... được giảm nhẹ. Khi thi, lắp ráp khẩu súng lục không được, cũng được… thông cảm! Tôi đã qua được giai đoạn 2 khó khăn, một cách an toàn!
Trong một dịp đại đội được trường đưa về Ninh Hòa công tác một tháng, tôi đã viết được truyện “Dì Lucia” (đăng ở Bách Khoa, số 304, tháng 11 năm 1973), và truyện “ Chiều Trên Sông Đá Bàn” (đăng ở tạp chí Phổ Thông 1973 - chưa tìm lại được báo cũ đã thất lạc sau năm 1975). Nếu truyện “Dì Lucia’ viêt về mối tình lãng đãng, nhưng đằm thắm với người nũ tu xinh xắn, nhạy cảm tại một ngôi nhà thờ ở xã Ninh Đông, để giải bày tâm trạng về “tình yêu và chiến tranh”; thì “Chiều Trên Sông Đá Bàn” là chuyên tình thơ mộng với một cô giáo trường làng xã Ninh Giang tên Tạo, nhưng cũng lắm ưu tư, trăn trở của một cuộc tình thời chiến! Tư tưởng phản kháng cuộc chiến tương tàn dai dẳng trên quê hương nghèo khổ mà tôi được chứng kiến, luôn là điều tôi mong ươc được chia sẻ, được góp phần, trong khả năng và hoàn cảnh rất bất hạnh của mình!
Sau đó không lâu, khi trở lại quân trường, hai tin vui liên tiếp đến với tôi: tập tùy bút “Đóa Hồng Cho Người Yêu” do nhà xuất bản Bông Hồng mưa bản quyền trước đó, đã in xong, và gởi sách ra tặng. Tập truyện ngắn “Có Những Mùa Trăng”, do nhà xuất bản tạp chí Văn ấn hành, cũng đang có bày bán ở các kiosque sách trong quân trường. Trong lúc chưa có sách tặng trong tay, tôi đã mua mấy cuốn, gởi tặng cho vài người bạn thân thiết ở đây…
Từ giấc mơ đêm nằm ở Quân y viện Nha Trang cho đến ngày được ra khỏi quân trường Đồng Đế, rồi được trả về Bộ giáo dục, trở lại nhiệm sở cũ ngay sau đó, tôi đã gặp nhiều thuận duyên, mầu nhiệm và bất ngờ! Đã nhận được bao tình cảm sẻ chia hết lòng của bạn bè, của bạn đọc (…) Tôi thầm nghĩ, có lẽ, tôi không sẽ còn cô độc và bất hạnh như xưa nữa…

... CÒN TIẾP ...

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 05.04.2014.

Quay Lên Đầu Trang