Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Những Niềm Vui Trong Hội Lim





Năm 1997, tỉnh Bắc Ninh tái lập, hội Lim được mở lại đúng ngày 13 tháng Giêng nên mọi nơi kéo nhau về dự hội đông lắm. Đường đi xứ Bắc vẫn còn sương ẩm đầu năm, người đi chìm trong sương, và cảnh vật bên đường cũng chìm trong sương .

Phố Vân Tương trên đường 1A , nơi có làng Lũng Giang, có đám rước thần đi tới hội Lim và xa xa trên một ngọn đồi thấp, hàng ngàn người đã đến. Họ đi từ đâu, họ đến từ đâu nào ai được biết, nhưng cứ nhìn cái vẻ mặt vui tuơi thành kính của họ khi bước đến chùa Lim ta hiểu Hội Lim đó đi vào lũng người từ bao đời trước.

Đoàn người hành lễ, rẽ qua khu sân khấu, ở đó, Sở Văn hóa tỉnh Bắc Ninh đang tổ chức một cuộc thi hát dân ca quan họ

Đám rước từ Lũng Giang đang chầm chậm đi trên đường phố. Mặc cho những vướng mắc cản trở, năm nay đình Lim xây lại, đám rước Thánh Bà tưng bừng đông vui Những ông tổng cờ, tổng trống ăn mặc cổ trang , như một võ tướng đấnh trống, khua chiêng vang vang trên phố.

Như một phép mầu, cả một khu đất nền đình cũ từng bị san ủi làm nơi xây Hợp tác xã mua bán, nay chỉ một sớm mai dân đến dọn sạch để xây nên ngôi đình, tuy nét cổ kính không còn , nhưng cứ nhìn cái đình to đẹp ấy, mọi người đều thấy vui vui.

Hội Lim thế là đã mở lại sau nhiều năm “đắp chiếu im lìm” làm vui lòng biết bao người. Trong cái vui chung ấy, tôi gập ông Nguyền Hữu Huệ ,một ngơời dân Lũng Lim đã nhiều năm kiên trì gìn giữ hội Lim. Bây giờ xuân về hội mở, trong niềm vui chung, ông kể cho tôi nghe một số nét về Hội Lim .

Chuyện kể rằng hội Lim là một hội lệ của vùng quê Kinh Bắc, mỗi lần đến tháng giêng người khắp nơi lại nô nức kéo về xem hội và nghe hát quan họ. Trong khung cảnh mùa xuân, nơi nơi đều có hội mà Hội Lim sức quyến rũ bởi những câu hát quan họ trữ tình , đằm thắm , với cách ví von nói cảnh sinh tình đã làm du khách đi dự hội mê mải. Ai đó một lần đến Hội Lim khi chia tay ra về, làm sao mà không bâng khuâng nhớ nhung vì câu hát “người ơi người ở đừng về “

Cuối năm nào cũng vậy, từ tháng Chạp tại các làng trong tổng Nội Duệ rộn rịp sửa lễ đi dự Hội.

Vui Tết xong, từ ngày 7 tháng Giêng các làng mời mọi người ra đình bàn việc. Trong buổi họp đó, làng sẽ cắt cử các ông làm cai đám , tổng cờ, tổng trống, tổng chiêng, cắt cử các trai làng vào các chân khiêng kiệu , cầm cờ, dắt ngựa ...

Tục lệ làng trong ngày hội có dâng cỗ Thánh, đó là lễ quan hèm cỗ chay gồm kẹo vừng, chè kho, mứt nộm , người nào đến vai làm Cai Đám cũng phải chuẩn bị hàng trăm cái kẹo vừng , mỗi cái to như bát cơm để sau khi giã đám có quà biếu hàng giáp mỗi ngơời mỗi cái. Ngoài lễ dâng của ông Hội, các gia đình cũng làm kẹo vừng, chè kho để con gái đội theo đám rước dâng cúng Vua Bà,

Tục lệ làng Lim cho phép các em gái từ 13 tuổi nếu có thanh có sắc sẽ được các liền chị thưa với gia đình xin cho phép đi “ngủ bạn”. Đi ngủ bạn nghĩa là các cô gái đó hằng đêm ở bên liền chị, được các liền chị rèn cập cho đến năm 18 tuổi đã vững giọng hát, mới được các liền chị cho phép theo đi hội hát với quan họ làng khác. Lệ làng còn truyền đến bây giờ không cho phép các liền anh - liền chị cùng làng được hát đối với nhau, không cho phép các liền anh- liền chị hai làng đã kết nghĩa được kết hôn với nhau

Mùa xuân đến, trai gái làng này gập trai gái làng kia tỏ tình với nhau qua lời hát, uốn lời trao duyên trong ngày hội để rồi lại chia tay “người về con nhện giăng mùng” họ dặn nhau “xa em xin chớ đứng ngồi với ai”. Bởi cái nỗi ai oán đó mà nhiều người khách đi dự hội Lim cảm thấy diễn viên đang hát hộ lòng mình nên hội đông khách vì lẽ đó

Ngày xưa , hội Lim không những có tế thần, rước sách và hát quan họ vào ngày đầu xuân, mà hội còn có nhiều trò chơi khác như nam nữ đánh đu, đấu vật, đánh cờ người và chọi gà, nhưng đặc sắc là thi tài dệt vải giữa các giáp, các làng với nhau

Đã có nhiều năm hội Lim tổ chức thi dệt vải, một nghề truyền thống của làng. Người ta thường nói “gái Nội duệ cầu Lim” cũng là nói đến sự đảm đang tinh xảo của các cô gái thợ dệt làng Lim.. Các cô gái làng từ tấm bé đến lớn đã quen với công việc quay tơ đánh ống, giăng mắc sợi ngang sợi dọc để rồi ngồi lên ghế ,đêm ngày chăm chỉ đưa thoi

Thi dệt vải tổ chức tại Đình Hàng Vải, ai muốn dự thi thì ghi tên và tự mang khung cửi của gia đình đặt tại nơi quy định. Các khung cửi dự thi đặt song song cách đều nhau, người dự thi và gia đình phải chuẩn bị xong mọi công việc ngay từ ở nhà mình, sao cho khi đến hội người dự thi chỉ việc ngồi trên khung cửi chờ hiệu lệnh là bắt đầu dệt

Người chấm thi là các bà các mẹ giỏi nghề canh cửi , đã từng đoạt giải thi dệt nhiều năm, vừa quan sát theo dõi các cô thợ thao tác, vừa chấm điểm, ghi lỗi nếu ai đó mắc phải.

Các cô gái dự thi dệt vải đều là những cô gái thanh tân, xinh đẹp , thạo nghề canh cửi, phần lớn họ là những “liền chị” đã đi hát quan họ khắp nơi. Tuy dày dạn trận mạc như vậy, thế mà khi ngồi trên ghế đợi hiệu lệnh thi, họ cũng hồi hộp lắm. có người tỏ ra lúng túng vì trong đình lúc này đã đông đủ các ông bà trong làng đến xem thi dệt vải. các cô phân tán tơ tưởng, có người luống cuống đánh rơi thoi hay làm đứt sợi, thế là bị loại ngay ra khỏi cuộc thi.

Trong bài thơ tả cảnh dệt vải, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã viết :

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhấc
Một suốt đâm ngang thich thích mau
.............

Cái miếng gỗ đẽo hình con cò nếu ở nhà được buộc chặt vào xà nhà, trong cuộc thi tài này, con cò buộc trên đỉnh khung giữ vai trò rất quan trọng cộng với việc kê khung sao cho cân bằng, bởi vậy “con cò” mang tính chất quyết định giữ cho mặt vải phẳng, hai bên mép căng đều. Đây là công việc quan trọng của người con gái đi thi nên nhiều cô được mẹ truyền dạy mọi bí quyết trong nghề, nên ít có trường hợp rơi thoi, đứt sợi

Tuy cuộc thi dệt không phải là cuộc chơi quan họ, nhưng các cô gái vừa dệt vừa hát một mình. Tiếng hát véo von của các cô, tự làm yên lòng thí sinh trong khi thao tác . Các cô gái dự thi đã hát những bài như “ngồi tựa mạn thuyền” “ngồi tựa song đào”, ‘con nhện giăng mùng”....Người dự Hội Thi dệt vải vừa lắng nghe lời hát, vừa ngắm từng khuôn mặt ửng hồng lấm tấm mồ hôi, nghe tiếng thoi reo lách cách đêù đều trong không gian ngôi đình Hội Thi thấy đầm ấm lắm.

Thời gian thi không hạn chế, nhưng ai làm ra sản phẩm trước đều được ưu tiên tính điểm, số vải phải dệt chừng 1,5m (1 tay vải) có mặt vải mịn, mép vải nhẵn đẹp là được giải nhất

Giải thưởng cuộc thi chỉ là vuông nhiễu đỏ hay tấm khăn đào, nhưng nó vô cùng quý giá đối vời người dự thi, Giải thưởng ấy đánh giá tay nghề cô thợ, (như chúng ta ngày nay gọi là có “thương hiệu”)

Với gia đình, giải thưởng được gìn giữ lưu truyền nhiều năm có tác dụng trong việc nêu gương , rèn luyện lớp con cháu trong nhà.. Năm 1937, trong cuộc thi dệt vải tại Hội Lim có cô Niêm, cô Dung là người đoạt giải nhất. Cuộc thi dệt vải trong hội Lim duy trì đến năm 1957 thì tạm dừng, nhưng người làng không ai quên năm đó cô Mơ, cô Phin đã là những người đoạt giải.

Mấy chục năm đã qua, người làng vẫn kể mãi chuyện “thi dệt vải năm xưa” và các cô thợ đoạt giải nhất, giải nhì, tuy đã lên cụ, lên bà nhưng ngơời làng còn kính trọng lắm

Thi dệt vaỉ là hình thức trình bày, biểu diễn tay nghề của các cô gái làng Lim. Hình thức thi vừa lao động vừa ca hát phản ánh một sinh hoạt văn hóa lành mạnh của người lao động. Đây cũng là cuộc thi độc đáo của vùng nghề, vùng quan họ Kinh Bắc

Đêm ấy chúng tôi ở lại thung Lũng Lim, Từ sơn Bắc Ninh để cùng dân làng vui một canh quan họ Trong ngôi nhà ngói năm gian cổ kính, quan họ bên Nam, bên Nữ đã chia, khách ngồi yên lặng nghe các diễn viên quan họ làng Lũng Lim hát mà không cần sự trợ giúp của micrô điện tử, lúc đó mới thấy tiếng hát “ấm làm sao”, và cũng thật là “mê mẩn tâm hồn”.

Bà cụ Cai đám bảo với khách :

- Các bác có bài thơ, bài ca nào cần hát , xin đưa chúng tôi để phân vai người trợ giúp

Như thế thì tuyệt quá, trong đoàn khách chúng tôi ,đa số mang tâm hồn thi sĩ nên nhiều người đã có chùm thơ lục bát đưa cho liền anh liền chị tìm giọng cho bài Có lời thơ ca ngợi, nhưng cũng có lời thơ tỏ tình :

Làng cho quan họ giao duyên
Không cho quan họ kết nên vợ chồng
Để cho nay ngó mai trông
Để cho ra ngõ mà mong thế này
Tôi từ Hà Nội lên đây
Xin hỏi lệ này có buộc vào tôi
Mà sao trầu chẳng thắm môi
Mà sao câu hát của tôi dở chừng .

Nghe tới đây, bà cụ Cai Đám cười hiền từ bảo :

- Lệ làng đã có, các bác ở đâu đến cũng phải theo thôi!!!..

Sự giao lưu kéo dài, chủ và khách quên cả đêm đã sang canh, Mỗi người đều cảm thấy cái “tình thật của lời ca quan họ” và lưu luyến mãi . Cho đến khi các liền chị hát : “Giã bạn” thì gà đã gáy sớm.

Một Canh Hội Lim đã đi qua lòng người, để lại biết bao thương nhớ . Hội Lim như vậy đi sâu vào lòng người, và đến nay đã chính thức được UNESSCO vinh danh.


   

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 29.03.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn