Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGƯỜI CHẾT KHÔNG TRỞ LẠI






Trong đám trẻ đi nhặt vỏ đạn thường ngày thằng Độ lúc nào cũng dẫn đầu vạch đường chỉ ngõ cho lũ theo sau lần mò tới những nơi thật xa, có khi lỡ bước lang thang đi vào vùng đất của những người bên kia hoạt động, kiểm soát. Những bận như vậy thằng Độ cũng là đứa co giò chạy nhanh nhất, nó chạy băng băng bất kể đồng ruộng, hào rạch. Nó chạy một mạch cho tới lúc trông thấy được cái chòi canh của lính dân vệ gác đặt trên cành cây gòn cao chót vót trông rưòm rà cây lá, mái tranh lòa xòa giống như một cái tổ chim, nó mới chịu dừng lại ngoái nhìn một lũ thằng Bi, con Sen, con Nỹ, thằng Công mình mẩy bết đất bùn, áo quần ướt sũng, nét mặt méo lệch trâng tráo, xanh xao, hớt hải cố hết sức nhoài người tới. Trông đứa nào cũng hồn vía bay tận lên mây xanh, lúc đó thằng Độ mới gượng cười. Nụ cười ngập ngừng nửa vui mừng, nửa sợ hãi, còn phảng phất trong hơi thở hụt. Nhìn nó cười, lũ trẻ theo chân nó ít khi phàn nàn nó gì, ngay cả có lần lùi lũi vui chân đi sát tới vùng bị cấm, bị những tràng đạn rượt đuổi sau lưng tưởng cũng có đứa chết không lấy xác được. Tánh của thằng Độ hách dịch, ngang tàng, cộc cằn; nhưng trong những nụ cười của nó đứa nào cũng thấy dễ chịu. Đứa nào cũng tìm thấy ít nhiều an ủi và tin tưởng. Kết quả của chuyến trở về đứa nào cũng mang nặng trên lưng một bao đựng đầy những vỏ đạn đủ loại, càng làm cho lũ trẻ thấy sự hướng dẫn, chỉ huy của thằng Độ thực tài tình. Vì thế không có đứa nào dám hó hé cãi lại ý kiến của nó. Nó thường sừng sộ chỉ vào mặt những thằng làm trái ý nó: “Nè, ông nầy không nghe tui thì rút lui đi, lớ xớ tui đập chết nghe?” Rút cuộc đứa nào bị quở như thế đứng buồn tiu nghỉu sau một phản ứng nóng nảy ngắn ngủi. Thằng Độ thấy bộ mặt nó rầu rầu, tới vỗ vào vai nó: “Nè, nói vậy chớ ông cứ đi theo đi, mầy không biết tánh của tao sao?” Thằng Độ nhìn lướt một lượt lũ bạn còn lại, cười nửa miệng. Cả lũ cười theo, rộn rã lên đường …

Bây giờ thằng Độ đang dẫn đầu cả bọn đi sâu xuống cuối xóm. Nó mặc chiếc áo mưa nhà binh của anh Thìn nó được chị Nghệ nó cắt sửa ngắn lại nhưng trông cũng còn kềnh càng như một con kênh kênh bị ướt rũ cánh. Nó đội một chiếc mũ nĩ đen của lão Qúa, cụp vành xuống che lấp khoảng trán, lấp ló đôi mắt hấp háy nhìn lườm tới trước. Năm nay nó được mười sáu tuổi, bỏ học đã ba năm từ ngày ngôi trường bị bên kia chiếm, bị bên nầy dội bom sập nát hầm hố chênh vênh ngay giữa sân chơi. Nó theo gia đình tản cư dựng trại ở bên nầy cánh đồng trên một quãng gò rộng, trống trải, với nhiều gia đình khác cũng bỏ quê, chạy tránh bom đạn. Từ quãng gò, nó có thể trông về vùng quê của nó ẩn hiện tiêu đìều sau những hàng tre, và con đường đất quanh co dẫn vào xóm. Nhìn con đường đất này, nó nhớ tới rạp hát ông Ban những đêm nó trốn lão Quá lặn lội theo lũ thằng Minh, thằng Kỷ đi coi hát bội gánh ông Chinh, ông Trọng, ông Cá. Đêm nào có hát, nó ăn uống quơ quất rồi lên cầu đón lũ thằng Minh cùng đi. Lũ nó lãnh việc đánh trống quảng cáo hối thúc khán giả từ lúc chạng vạng, tới lúc trống lịnh đổ hồi, tụi nó lễ mễ khiêng trống vào rạp. Những đêm tới muộn, nó không còn giữ được cái trống thì theo bọn thằng Cu, thằng Dư, thằng Hải đi vòng ngã sau trèo lên bờ tường, ép mình chui vào khoảng tường trống. Nó nhớ mãi cái háo hức lần đầu tiên trèo lên khỏi bờ tường nhìn vào trong thấy màn đã mở, bà Thu đang đóng vai Lữ Bố ghẹo Điêu Thuyền làm khán giả sôi nổi bàn tán. Nó nín thở gò mình chui vào khoảng tường hở nhảy bổ xuống một hàng băng, làm mấy cô đang mê mẩn theo dõi màn trai gái của cặp Điêu Thuyền - Lữ Bố hết hồn la ó ầm ĩ. Chạy thoát được, nó mừng đáo để. Cùng chui bờ tường với nó, có mấy đứa chậm chân bị bắt trói ở gốc xoài sau rạp, nơi có tiếng nhiều ma, làm chúng một trận thun giái. Kể từ chuyến đó, cả lũ tìm ra được một nơi khác để khỏi phải trèo lên bờ tường. Đó là một nơi giếng nước một nửa ở trong bờ tường, nửa khác ở ngoài dành cho căn nhà chủ rạp ở cạnh. Bắt tay đu vào thành giếng, rồi ngóc đầu lên một nửa ở trong bờ tường là có thể trèo lên mà coi. Hôm gánh ông Trọng tới lưu diễn nhằm mùa mưa, gió lạnh. Đứng bên bờ giếng đợi tới phiên mình chui xuống thềm giếng, Độ sợ quá run lập cập. Nó chần chờ cho cả lũ chui qua hết, còn lại một mình bên nầy, nó mới làm dạn đưa người xuống miệng giếng. Hai tay nó yếu hẳn vì rét, và sợ, nên không bám được vào thành vững vàng. Nó nghe lũ thằng Thu chỉ cách, đạp hai chân vào bờ giếng nhưng rong rêu trơn trợt, đã bị trượt mấy bận. Chất rong rêu bám lâu năm trong thành giếng ướt nhớt bàn chân nó. Hai tay nó cố giữ vào bờ, gắng hết sức đưa người lên nhưng nó nghe mỏi rã ở bả vai. Khi nó biết không còn cách nào trèo lên khỏi miệng giếng, trù trừ thì có thể đuối tay rơi bủm xuống nước, chết ngạt; nó la lên. Những người đứng cạnh đó nghe kêu cứu, nhanh tay kéo nó lên. Nó thoát được chết ngạt dưới đáy giếng, nhưng không chạy khỏi một trận roi nứt đít của lão Quá. Quen lệ, hễ chiều nào thấy chiếc xe ngựa treo bảng giới thiệu đoàn hát với kèn trống xôn xao ngoài ngõ là lão Quá cột thằng Độ sau bếp. Lâu lâu nó vẫn nhớ giọng hát của bà Thu, của ông Chinh, nhất là màn hề của ông Công, năn nỉ chị Nghệ nó mở trói cho nó được đi coi vào màn cuối còn lại lúc thả cửa, khi lão Quá đã ngủ say. Trái với lão Tư, lão Hương không bỏ sót một đêm hát nào dù trời có mưa gió đường sá lầy lội; lão Quá thường nói: “Ban ngày đi làm mỏi mệt, ban đêm ngủ một giấc cho khỏe, hát xướng làm gì cho hư người, nhức mắt. Còn nhỏ mà lũ bay mê hát quá coi chừng hư thân hết cho mà coi.” Do đó Nghệ cũng giống cha, ăn rồi lui cui lụi cụi với công việc nhà, rồi ngủ.

Lão Quá và Nghệ chỉ chịu đi coi hát khi có Thìn về phép. Đôi ba tháng một lần, Thìn trở về như khuấy động sinh hoạt thường nhật của gia đình lão Quá. Thìn như mang về cái sôi nổi, vội vàng, ồn ào của đời lính. Lão Quá cũng quên bẵng cái mỏi mệt cười cợt với con, và không nghĩ tới chuyện hư thân của Nghệ khi nàng cùng đi coi hát. Với Nghệ, nàng muốn sống chìu chuộng anh như những năm kháng chiến mẹ nàng bị chết phỏng vì những thùng xăng dội xuống từ máy bay Pháp. Nàng đã tẩn mẩn thay mẹ khâu vá áo quần cho thằng Độ, và cho cả anh Thìn. Vắng mặt anh Thìn ở nhà lâu, Nghệ buồn bã như thể Thìn ra đi đem theo cả niềm vui của nàng. Nghệ còn lại lặng lẽ bên những công việc chăm sóc cha và em. Cũng như Độ, Nghệ ngong ngóng ngày anh Thìn trở về. Những buổi đi coi hát trở về rộn rã tiếng nói cười bên nồi chè đậu đen giữa sân, làm Nghệ nhớ anh da diết. Còn Độ, những chiều bị lão Quá cột chân dưới nhà bếp trông anh Thìn trở về để đôi chân được thong thả, tự do. Trong giấc ngủ chập chờn nuối tiếc, Độ thường thấy anh Thìn đi vào ngõ dòn dã nói cười …

Cả lũ láo liên nhìn xuống hai bên đường để chờ nhặt những vỏ đạn rơi rớt. Độ đi trước nghĩ bụng chuyến nầy chắc sẽ nhặt được nhiều như hôm ở đầu cầu. Gặp được hôm nào cũng như hôm đó, chắc có bộn tiền. Nó sẽ được cha thưởng và chị Nghệ hứa hẹn nhiều hơn. Còn chị Hạc sẽ khen nó hết lời, làm nó ngượng ngùng cúi mặt phân vân. Đằng nhà thằng Công vẫn thường gọi mua thêm vỏ đạn của lũ chăn bò, nhất là đằng nhà con Nỹ, lúc nào cũng thiếu vỏ để nấu. Vóc người ốm tong gầy guộc của nó làm gì so được với thằng Độ, thằng Bi. Hồi còn đi học, nó sạch sẽ sáng sủa chớ đâu rách rưới bẩn thỉu như vậy. Thằng Độ thấy nó ốm hư một cách mau chóng, lờ mờ biết được cảnh gia đình sa sút khổ cực của nó. Trong bọn, nó thường tỏ ra dễ chịu với con Nỹ hơn đứa nào hết. Với con Nỹ dù được thằng Độ thương cũng áy náy, dè dặt không dám cúi xuống lượm những vỏ đạn trước mặt thằng Độ. Thằng Độ thường nhắc lại câu này trước mặt lũ trẻ: “Đứa nào ăn hiếp con Nỹ tao đánh chết hết.”

Qua hết con xóm vắng vẻ, lũ Độ bắt đầu đi vào quãng đường trống, hai bên đường là những thửa ruộng được cày cấy vội vàng như những bóng người thường xuất hiện đột ngột vội vã trên đồng. Độ ngóng xuống cuối đoạn đường dẫn tới một đồn lính phấn khởi với sự tưởng tượng những vỏ đạn đủ loại sáng bóng vất bừa bãi trên miệng các giao thông hào, công sự. Hồi hôm nó đã nghe tiếng nổ vang dội phía nầy, chắc chắn có cuộc đụng độ lớn. Có đánh nhau dữ, thì có vỏ đạn nhiều mặc sức mà nhặt. Những vỏ đạn mới tinh còn thơm mùi thuôc súng, khỏi mất công chùi rửa. Độ lầm lũi đi dềnh dàng nhẫn nại như một con kên kên.

Người lính đang ngồi trên cái chòi canh trên cây gòn hút thuốc khói xanh bay vơ vất tan loãng trong hơi gió nhẹ buổi sáng sớm, nhìn thấy bọn Độ đưa tay vẫy gọi. Độ reo lên theo cái vẫy tay của người lính đang ngồi chơi vơi trên cao, cả lũ cũng náo nức réo gọi ầm ĩ, vang động cánh đồng. Tiền đồn nầy đã nhiều lần bị tấn công, nhiều người chết tình cờ tươi tắn như anh thằng Dư, anh thằng Minh; nhưng đồn không bị cướp mất. Nếu đồn nầy bị phá đi, cả xóm Độ cũng sẽ luôn chộn rộn, bất an. Từ trên chòi gác, nhiều lần Độ nghe mấy người lính kể lại là có thể trông thấy những người ở bên kia đi lại âm thầm, hối hả. Độ muốn được trèo lên ngồi trong cái lồng đó mà ngắm lại ngôi nhà mình, nhưng người lính cứ bảo nhà cửa ruộng vườn tan nát hết rồi còn coi ngó làm gì, nhất định không cho nó lên. Và Độ cũng không dám liều dẫn cả bọn ghé về nhà một bận vì nghe nói nếu bị bắt, nó phải đeo lựu đạn ném vào chú Cư, anh Thìn nó. Độ nhớ lại lời căn dặn của cha mỗi lần xách bao ra đi: “Mầy liệu hồn đó, lỡ sa vào tay nẫu, anh em chú cháu giết nhau thì khổ lắm.” Độ nghe lời cha dặn, nghĩ ngợi vơ vẩn, ai đời nào lại giết hại bà con như thế. Nó không tin được việc nó sẽ đeo lưu đạn mở chốt ném vào chú Cư, anh Thìn nó như thằng Kỷ ngày nào cùng nó khiêng trống để được coi hát, đã ném anh Bá nó gãy chân. Nghe lũ thằng Công, thằng Bi kể lại, nó thấy ghét thằng Kỷ quá chừng. Nó nghĩ nếu gặp mặt thằng Kỷ, nó sẽ tát cho thằng nầy vài cái như nó đã tát tai lũ thằng Công. Hết chỗ để ném lựu đạn rồi sao lại quay về ném vào chỗ bà con, anh em, bạn bè?

Đợi cho tới lúc lũ Độ chia nhau nhặt rải rác các vỏ đạn ngoài bờ rào, dưới mé ruộng, bờ mương hết sạch, người lính ở trên chòi canh nói vọng xuống:

- Lũ bây muốn vào đây nhặt vỏ đạn không?

Độ ngước lên, nói lớn:

- Muốn.

Tiếng người lính vọng xuống:

- Đi mua giúp tao gói thuốc Bát Tô …

Độ quay lại nhìn vào mặt từng đứa dò xét coi thử có đứa nào chịu chạy lên quán bà Dẹo mua thuốc, nó cười gượng hiền từ. Đứa nào cũng phân vân chờ đợi sự chỉ định của nó. Cuối cùng nó nhìn chậm vào mặt thằng Công, chỉ tay ra lệnh. Công không chút do dự, nhận tiền nơi tay Độ chạy một mạch. Ra tới giữa đồng như sực nhớ, nó quay vào chỏ miệng nói: “Chờ tao về mới lấy nghen lũ bây?”

Trên vai đứa nào cũng nặng trĩu bao vỏ đạn nhưng thằng Độ nghe lời chỉ của người lính dẫn cả bọn đi vòng xuống dưới gò ông Sao với hi vọng nhặt thêm nữa trước khi trở về đúng vào bữa cơm trưa. Cả bọn thấp thoáng băng qua cánh đồng thì trời mưa lất phất. Gió thổi rạp những thân lúa non thưa thớt. Cánh đồng vắng bóng người. Mùa rét còn đọng giọt trên những lùm cây, cành lá. Con Nỹ khó nhọc với bao vỏ nặng hơn thường ngày sau lưng, lủi thủi đi theo sau bọn Độ. Bọn Độ đã bước lên quả gò, nhưng Nỹ vẫn còn dò dẫm từng bước trên con đường bờ ruộng hẹp, nhầy nhụa bùn. Lúc nầy trông Độ như một gã lái buôn nhọc nhằn, chăm chỉ. Chân con Sen dẫm phải vết máu ướt dưới đám cỏ lấp sấp nước. Cả lũ dừng lại, ngơ ngác dõi theo vết máu. Thằng Công chợt nhìn thấy hai đứa nhỏ từ bên kia hàng tre đầu xóm, vẫy tay gọi nó. Nó lùi lại nói với Độ:

- Ai như lũ thằng Kỷ gọi lũ mình kia phải không Độ?

Độ ngửng lên, nhìn xuống hàng tre thấy thằng Kỷ mặc chiếc áo đen, quần cụt đang gọi nó. Qua màn mưa bụi, Độ thấy thằng Kỷ dạo nầy cũng ốm yếu như thuở còn đi học. Đi học thì quanh năm không thuộc hết được một bài, lên bảng thì đọc lâm râm như tụng kinh một vài câu nào đó, làm thầy cũng phải cười dù giận nó. Những lúc nó bị thầy gõ đầu, Độ thấy nó tội nghiệp quá. Nếu mẹ nó không bỏ nó để đi theo một gã đàn ông trên phố, nó đâu có hư như vậy.

Thằng Kỷ lại vẫy tay, bên cạnh nó có một thằng nhỏ nào Độ không nhớ ra. Độ cũng vẫy tay gọi lại, không dám tới gần. Dù sao câu chuyện thằng Kỷ ném lựu đạn gãy chân anh Bá vẫn còn khiến Độ tức giận. Nó đã làm anh Bá gãy chân thì cũng dám làm Độ què giò lắm! Độ chưởi thầm với lũ thằng Công: “Đm, tụi nó phỉnh lũ mình xuống dưới để đeo lựu đạn!” – rồi quay ngược trở lại cánh đồng. Một tràng súng nổ, âm thanh nghe bay vút qua đầu; bọn Độ bắt đầu cắm cổ chạy…

Ra tới dường, Độ dừng lại thở. Lũ thằng Công con Sen vừa tới nơi, vất bao vỏ đạn xuống đường, nằm soãi tay ra thở dốc. Độ xoay người lại nói với bọn Công:

- Đm thằng Kỷ, nó tay không dám mò ra đây, tao rượt nó chạy té đái trong quần cho lũ bay coi…

*

Trong khoảng vườn thưa thớt bóng cây, ánh nắng chiếu xuống từng chùm, ánh sáng trắng loang lổ khắp sân. Nghệ ngồi bên bếp lửa hực đỏ dưới phần bóng râm của giàn mướp đã khô héo lá qua một mùa sai trái được che thêm những tấm tranh cũ rách. Nàng cầm cán quay thổi lửa đều đặn, lò lửa hừng hực ánh than hồng. Mái tóc được Nghệ quấn cao lên gọn gàng đã bám nhiều bụi tro than từ lúc sáng không được giũ xuống. Nghệ giống lão Quá ở chiếc mũi cao nhưng lại giống mẹ ở khuôn mặt bầu bỉnh. Vào những buổi trưa hanh nắng ngồi quạt lửa như thế nầy, gương mặt Nghệ đỏ ửng lên như lúc nghe lão Quá nhắc tới chuyện chồng con với thàng Tự. Tự cùng tuổi với anh Thìn, đi lính cùng một tháng, là bạn thân của anh Thìn những ngày còn rủ rê nhau đi coi hát, săn cá, bắn chim. Anh Thìn cưới chị Hạc nay đã hai mụn con, còn Tự vẫn chưa định mai mối nào chắc chắn. Nghe lão Quá hỏi sao mày không chịu cưới vợ đi Tự, anh cười cười nói khổ quá bác à, thà một mình chịu cực, bắt vợ con gánh nữa tội nghiệp. Và đôi ba tuần một lần, Tự từ hòn Mò O băng qua mấy cánh đồng tìm tới thăm gia đình lão Quá. Từ ngày anh Thìn bị mất một cánh tay, giải ngũ về nằm toòng teng trên võng với chiếc radio bồng bế con cho chị Hạc giúp Nghệ nấu đồng, Tự năng lui tới hơn trước. Mỗi lần giáp mặt Tự, Nghệ lại nhớ tới lời nói về chuyện vợ con của Tự với cha, thấy thương thương anh quá đỗi. Nghệ thường nghĩ vơ vẩn về Tự bên bếp lửa, nàng cho nếu lính tráng không cột chân anh, quanh lưng anh không có những quả lựu đạn, trên cổ anh không đeo cây súng dài thượt, thì Tự chắc có vợ có con rồi. Cứ nhìn anh Thìn thì biết, nếu Tự có vợ, cũng hai ba đứa con là ít. Những buổi xế chiều sau khi đổ hết khuôn đồng cuối, Nghệ thường đứng ở bên nầy quãng gò nhìn vời vợi tới hòn Mò O mù tăm sau những cụm mây. Giấc mơ của nàng cũng mờ mịt vần vũ như thể những phút giây nghĩ nhớ tới Tự mà không nói ra được; mãi cho tới khi Độ thấy trêu ghẹo, hay nghĩ tới lúc cánh tay Tự bị đứt mất trong rừng như cánh tay anh Thìn, Nghệ buồn bã bỏ đi ra bờ mương tắm giặt…

Trên những thềm nhà bằng đất đắp cao, lão Quá và chị Hạc đang đập dẹp những vỏ đạn đã được trui cháy trên một tảng đá nhẵn thì Độ lui cui bên bờ rào đốt những vỏ đạn vừa nhặt lúc sáng dưới một cái hầm.

Lão Quá nhìn ra phía Độ thấy ngọn lửa bắt cháy vuột lên miệng hầm, nói với Hạc:

- Mấy năm tản cư tao thấy thằng Độ không hư như trước.

Chị Hạc vừa cắm cúi đập vỏ đạn, trả lời:

- Nó ham làm việc quá hả cha? Thấy khổ, nó cũng biết lo chứ …

- Tao thấy nó càng ngày càng lớn, tao lo quá sức.

- Cha lo gì nữa cho mệt?

- Lúc trước, thấy con lớn thì mừng, bây giờ trông nó lớn mà sợ …

- Cha sợ nó lại đi lính?

- Như thằng chồng mày thì khổ thân.

- Tới chừng nó lớn như anh Thìn thì nước nhà hòa bình rồi còn gì?

- Biết đâu được chuyện đó, giặc này theo sách vở thánh hiền còn dễ sợ nữa.

- Con nghe thằng Tự nói sắp sửa hòa bình mà?

- Hòa bình khỉ khô, mày không nghe đêm nào cũng có tiếng súng, ngày nào cũng có người chết sao?

Chị Hạc dừng đập, nghỉ tay. Chợt chị hỏi:

- Hình như ông Cả cũng chết rồi hả cha?

- Chết rồi.

Chị Hạc thở dài:

- Ông Cả mà chết, mấy người con dâu ổng mặc sức mà mừng …

Lão Quá cười vu vơ theo lời chị Hạc, ông nhớ tới tính nghiêm khắc với con dâu của ông Cả. Trong xóm, ông Cả nổi tiếng về việc này. Những mẩu chuyện cư xử với con dâu của ông ai cũng biết tới cả. Chẳng hạn như chuyện người con dâu vợ thằng Khải bỏ quên cái nong ngoài sân sau buổi chiều phơi lúa thu xếp vội vã, ông Cả liền sai người nhà tới mượn một người tá điền tới nhờ việc. Người tá điền tới, ông bảo người con dâu dọn ăn thực kỹ. Người tá điền ăn uống xong xuôi lên hỏi ông nhờ cháu làm việc gì, ông chỉ cái nong ở ngoài sân, lấy cất giùm vào chỗ cũ, rồi về. Hễ có điều gì trái ý như thế, ông đều nhờ tá điền làm như vậy, không hề rầy rà. Vậy mà mấy người con dâu khiếp sợ ông hơn cả bà mẹ hay mắng chửi ồn ào. Nhớ tới những câu chuyện vu vơ dưới quê, lão Quá thấy còn nhiều liên lạc với làng xóm xưa. Một nỗi hy vọng chấp chới bay lên trong lòng lão về những ngày trở lại xóm làng. Cái cảm tưởng xóm làng, nhà cửa biền biệt tan hoang cũng lắng dịu đi đôi phần, cho đôi mắt lão linh động hơn, nụ cười lão đằm thắm hơn, và giọng nói lão triền miên hơn nữa.

Độ rời hầm nung vỏ đạn, đi tới ngồi xuống bên Nghệ. Nàng nhìn em, đôi mắt bao la trìu mến cũ. Dường như từ ngày rời quê, bỏ học, Độ lặng lẽ hơn trong các công việc. Nàng thấy như nó mất hẳn tính xưa, đổi khác năm nào. Thằng Độ mỗi tối bị cột chân dưới bếp nghịch ngợm phá phách không còn phảng phất trên nét mặt âm thầm nó bây giờ. Nghệ lại nhìn em cười …

Độ nói:

- Hồi sáng thằng Kỷ nó rượt tui ở dưới gò ông Sao, chị Nghệ?

- Rồi mày làm gì nó?

- Tui chạy muốn hụt hơi, tổ cha nó còn bắn theo lũ tui nữa …

Nghệ cười:

- Ai biểu hồi trước mày rượt nó, bây giờ nó đuổi mày thì huề.

Độ cười ngượng ngùng, bỏ đi vào trong nhà. Nó thấy anh Thìn nằm ngủ tòong teng trên võng, một bên là thằng Chút, một bên là chiếc radio đang mở kêu rè rè một giọng ca cải lương rả rích.

*

Lão Quá lắng tai nghe tiếng súng nổ tận cuối xóm đâu ở ngoài gò ông Sao hay đình ông Bảng gì đó, không muốn gọi Thìn. Tiếng súng nghe khác thường đêm, gay gắt, vội vã, liên tục hơn. Lão nghĩ tới những vỏ đạn sáng bóng trong bao tải của Độ, và mấy nghìn bạc mới nhận lúc chiều, tiền bán mấy khuôn đồng đúc. Dành dụm tằn tiện để ra giêng lên chợ mở cho vợ chồng Thìn cái quán nước. Sau đó, theo ý lão, phải dành dụm cho con Nghệ ngày nó có chồng. Lo phần đứa nào cho xong đứa đó, lão mới vững bụng. Phần lão đã dành sẵn chiếc hòm dựng lâu nay sau mái hiên như vậy đã mát mẻ cho lão lắm rồi. Trước mắt lão, thời nầy chết mà không có lấy tấm áo che thân, tấm ván làm hòm thiếu gì. Đến như ông Cả mùa lúa đầy lẫm, nhà cửa thênh thang chết đi không có một nấm mồ tươm tất. Lão mơ hồ thấy những mơ ước lúc nầy thật khó khăn thành tựu, dù chỉ mong có được ngôi mộ ấm cúng. Ngày thằng Thìn trở về còn một cánh tay đong đưa lão chết điếng người nhìn con chảy nước mắt, nhưng sau nầy lão vẫn thấy như vậy nó cũng lớn phước nhà nên chỉ mất một cánh tay. Còn trở về được như ước mơ của lão để xúm xít bên gia đình sớm chiều cô quạnh. Thời giặc giã, lão thường chỉ ước mong sao cho bình yên là quí. Và từ ngày có mặt Thìn ở nhà, lão hết sửng sốt ngong ngóng tin con, buồn bã sớm chiều bồi hồi lòng dạ.

Lão lay gọi Độ thức dậy khi tiếng nổ như tiến gần tới sát bờ rào. Nghệ cũng trở dậy gọi lão ú ớ từ phía nhà bếp. Thìn vẫn im lặng trong buồng với vợ con. Nỗi hy vọng khi nghĩ tới những vỏ đạn sáng bóng tắt ngấm tan dần trong đầu lão. Cơn sợ hãi thường trực khuấy động hơi thở, khiến lão ngồi chồm dậy chạy vào buồng gọi Thìn.

Độ ngồi co ro bên Nghệ, giục lão Quá:

- Chạy ra hầm núp đi cha?

Thìn bình tĩnh:

- Cứ nằm rạp xuống sàn nhà coi thử sao đã.

Chị Hạc ngồi dựa hẳn vào vách, vạch vú cho thằng Chút bú. Thằng Anh sợ hãi co rút trong tay anh Thìn, mếu máo khóc. Tiếng nổ thôi thúc nỗi xôn xao của gia đình lão Quá. Im lặng một lát, anh Thìn nói hình như có tiếng súng của lính quận từ trên đường bắn xuống nữa, chắc đánh lớn. Lão Quá hết hồn nghĩ theo lời Thìn, nếu quả có lính quận ở trên đường bắn xuống thì làm sao mà chạy thoát khỏi tầm đạn? Ở giữa những tiếng súng và nỗi hận thù ngùn ngụt, chắc chết hết cả xóm. Đã rũ rạch sự nghiệp, đã trốn chạy mấy lượt nhưng thực khó mà thoát được tiếng súng, nỗi chết, khi thù hằn càng gieo thêm nẩy mầm trên từng dải đất, trong từng lòng người tham lam giành giựt. Vậy mà xưa nay, sống trên quãng gò cằn cỗi hoang phế này, lão cứ tưởng là được yên thân mà nhắm mắt …

Mọi người đã nghe rõ tiếng khóc la vang lên tắt nghẽn trong vài căn nhà bên cạnh. Những tiếng khóc bàng hoàng hốt hoảng sau giấc ngủ, trong nỗi chết kề cận thực giống hồi tản cư bỏ xóm. Cũng những tiếng khóc cố kiềm giữ rụng rời này lão Quá lại nhớ tới bà Miệt. Không dè, đêm nghe tiếng bà khóc cũng là lần cuối cùng, bởi thân thể bà đã nát bấy sau đó. Không còn âm thanh nào buồn bã rợn người bằng những tiếng khóc nấc cao của bà Miệt.

Lửa đã bốc cháy rào rào bên kia hàng rào nhà bà Năm. Theo kinh nghiệm, Thìn thấy tới lúc không thể nằm rạp mãi trong nhà để đợi chết, anh cầm giữ chặt tay con, hét lớn: “Mở cửa, mở cửa chạy lên đường …”

Lão Quá và thằng Độ bò ra sau mé mương lăn ào xuống ruộng bùn, nghe có tiếng gọi ơi ới rời rạc của chị Hạc phía sau. Lão Quá nằm gối đầu lên gốc rạ, chờ Hạc. Đạn bay mù mịt trong bóng tối đặc quánh nặng nề trên đầu. Nến lúc này trúng đạn, lão sẽ không còn biết là từ hướng nào, của ai nữa. Những cái chết âm u như thế thực vô cùng dễ dãi. Viên đạn nào cũng có thể giết chết một đời người nhanh chóng. Những viên đạn đầy ắp hận thù tăm tối nào cũng sẽ dễ cắm phập vào ngực những kẻ ngây thơ như lão Quá. Biết đường nào mà oán trách khi thù hận đầy trời như mấy mươi năm nay? Những mũi đạn lửa lao vun vút vạch đường đỏ ửng trong bầu trờì như những đường máu chảy. Lão nghe rõ tiếng động phía sau, đưa tay quơ nắm được chéo áo Hạc, bắt đầu lôi đi.

Lão dừng lại, hỏi Hạc thì thầm:

- Mày có gặp thằng Thìn không?

- Không …

- Còn con Nghệ?

- Con làm sao biết?

Dưới bờ đê cao, chị Hạc, lão Quá và thằng Độ nằm quay đầu gần nhau nôn nao nghĩ tới những bước chân tăm tối gian nan của anh Thìn và của Nghệ.

Từ bên lề đường, lão Quá, thằng Độ và chị Hạc ngồi trông xuống con xóm còn nghi ngút khói, còn ầm ĩ tiếng súng bất chợt. Mặt trời đã lên tới giữa đồng u ám trong những đám mây thưa. Linh quận đang hành quân lục soát trong xóm, lúc nhúc nhiều bóng đen di động bắn cầm chừng, gìn giữ. Ngoài bờ đê nơi ba cha con lão Quá nằm chờ sáng, một toán lính ngồi uể oải hút thuốc, ngó mông lung.

Nóng ruột, lão Quá quay phắt lại:

- Này Hạc, mày ngồi coi chừng thằng nhỏ để tao …

- Cha đi một mình?

- Với thằng Độ …

Khi lão Quá dắt tay Độ nhảy xuống bờ ruộng Hạc bật lên khóc ròng rã. Thằng Chút cũng vừa mở bừng mắt dậy, dãy dụa khóc theo mẹ.

Không mất thì giờ tìm kiếm, lão Quá và Độ trông thấy xác của Thìn nằm úp sấp xuống nền đất sau hiên nhà. Bên cạnh anh, xác thằng Anh thâm tím loang lổ vết máu đen. Một cánh tay còn lại của anh vẫn còn nắm giữ tay con, không rời. Dễ gì mà rời xa được con cái, phải không anh Thìn? Một cánh tay anh đã mất đi biệt tăm trong đầu rừng bìa suối nào đó anh không còn nhớ, nhưng cánh tay còn lại phải để cho anh nắm giữ tay con. Nắm giữ hy vọng đã an ủi anh những ngày tháng heo hút rày đây mai đó của anh. Bây giờ, anh sẽ nắm tay thằng Anh dắt nó cùng đi vào cõi yên tĩnh nghìn đời mà anh hằng mơ ước, cầu nguyện. Vậy là anh không còn buồn bã khi nghĩ tới lúc phải xa thằng Anh nữa rồi anh Thìn à.

Lão Quá ngồi lụn xuống bên xác Thìn, đưa tay lay gọi vô vọng. Hai chân lão như chôn lún xuống sâu, không cử động nổi. Độ đứng sau lưng lão, nước mắt chảy lưng tròng. Sau những giọt nước mắt đầu tiên chảy dài xuống má, Độ tự dưng nghe chân tay mình nổi gai ốc, ớn lạnh…


(Tạp chí Khuynh Hướng số 01/ tháng 1-1971)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 29.03.2014.