Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGỌN NẾN ĂN NĂN





LỜI MỞ


Một phần chuyện kể là hư cấu, chỉ diễn ra chung quanh ba người bạn lâu năm với nhau. Họ đều đã nhập cuộc tranh đấu, đồng thời cũng là những người chứng của một giai đoạn rối ren, những bất ổn và xáo trộn của đất nước trong những thập niên cuối cùng của miền Nam.


     Tác giả, trong liên đới và phản kháng, đã đi gần trọn cuộc hành trình mà vận nước đã xô đẩy. Lẻ loi, nhưng không bị đánh gục và mất niềm tin. Đó đã là một ân sủng mà Thiên Chúa ban tặng cho một kẻ tự vác thập giá của bản thân, lầm lũi đi trên một quê hương, một xứ sở, một đất nước trong những thời kỳ đau thương nhất của lịch sử ngàn năm.

     Sách có năm chương.

     Chương một, từ một bài thơ trữ tình sau 49 năm, nay mới công bố. Tưởng như là một sự thật, nhưng không khác chi một “huyền thoại”, vì vẫn chưa biết tác giả đích thực của nó là ai. Tuy nhiên, trong bài thơ có bốn câu, tác giả như đã đặt người nhận nó vào trong chính bối cảnh của một thời đảo điên, lắm kẻ gian hùng. Trong bốn câu này, có hai câu phác vẽ chuẩn xác về thời kỳ này, và hai câu hỏi cho người nhận : đời loạn đấy, người có trôi theo giòng ? và : đời lường đao đấy, người có ngược giòng không ?

     Chương hai: Thời loạn. Tác giả nhập cuộc tranh đấu, bằng báo chí và “nổi loạn” qua cuộc “Hành quân Nguyễn Huệ” xảy ra ngày 19/2/1965 tại Sài-Gòn, nhằm đẩy Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng VNCH, kiêm Tổng tư lệnh, kiêm Tổng tham mưu trưởng QLVNCH, là Đại tướng Nguyễn Khánh, rời khỏi quyền lực.

     Chương ba: Theo mệnh nước nổi trôi, chương ba và chương hai là hai chương chủ yếu, suốt một giai đoạn trên hai mươi năm đi theo một tiếng gọi của lương tri và trách nhiệm, giữa một hiện thực khổ lụy, tan nát, vô vọng. Tuy thế, tác giả có lúc như đã lạc vào chuyện huyền thoại bởi cái tâm chí thành của mình.Nhưng chính vì thế mà có ngộ nhận, một ngộ nhận có thể dẫn tới đoạn cùng của số phận.Đấy là cái mâu thuẫn phi lý, song lại là thực, hoàn toàn thực của một cái ngã, một “người ôm mặt khóc”. Trong tập thơ đầu tay mang tựa đề này, bên cạnh những bài thơ chất chứa “những suy tư, những dằn vặt về thân phận - thân phận của một con người trong những hệ lụy đau thương của thực tại - tiếng thơ trở thành nỗi cơ hàn rướm máu, như môt dẫy duồng trong phản kháng” (Cao Thế Dung: Văn học hiện đại – Thi ca và Thi nhân, Quần Chúng xuất bản, Sài-Gòn 1969), còn có ba bài thơ khiến một nhà văn, nhà báo lão thành thời trước, sau khi đọc, đã ngạc nhiên thốt lên với tôi: Anh là Công giáo, mà lại làm mấy bài thơ thiền! Một phần của Chương ba này được coi như một hồi ký, vì tác giả đã ghi lại ở một tập bút ký khác, năm 1997-1999. Đặc biệt, tác giả nhìn lại việc biên soạn và phổ biến cuốn sách Công giáo miền Nam Việt Nam sau ngày 30-4-1975, do Cơ sở Dân Chúa xuất bản ở Hoa Kỳ ấn hành năm 1988, năm Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II phong 117 Chân phúc tử đạo Việt Nam lên bậc hiển thánh. Dịp này, cuốn sách trên đây của tác giả cũng được Đức Giáo Hoàng ban phép lành (có hình trong sách, sau lời nói đầu) Riêng đoạn về thăm quê, được tách ra, làm thành chương bốn.

     Chương bốn: Về thăm quê nhà. Đây là chương đã được viết từ năm 1997-1999, sau lần tác giả về thăm nhà lần thứ hai, dưới dạng bút ký. Ở đây, bút ký này được viết lại, có đoạn rút ngắn, có đoạn bổ sung sau gần 20 năm. Cuối chương bốn, tác giả đưa vào một ý tưởng mà trước đó không có. Đó là: “Các tiên tri của thời mới”, mô tả một vài nhân vật tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh, phản kháng “bất bạo động”, như Mahatma Gandhi. Martin Luther King, Chân phước Mẹ Têrêxa Calcutta, Cha Pierre ở Paris, cha Nguyễn Văn Vinh, Hà Nội, các tu sĩ chiêm niệm và các tu sĩ phục vụ bệnh nhân phong, bệnh nhân ma túy ở thời kỳ cuối, những người già bị bỏ rơi v.v… Đây là những con người “kỳ lạ”, những con người của cái “Đẹp” trong tâm hồn, xuất hiện trong một thế giới tục hóa, vô thần, một thế giới mà quyền lực văn minh muốn “xóa sổ” Thiên Chúa ra khỏi trái đất này. Phận người nghèo như “con sâu”, “cái kiến” hoặc như cái rẻ rách dưới chân. Vậy mà, những “tiên tri của thời mới” này đã được ơn gọi, họ quên mình nhưng yêu thương những người khốn khổ. Họ làm chứng trước một thế giới văn minh cơ tâm: Thiên Chúa có thực! Nhà văn Trần Thanh Mại, một lần đến thăm mộ Hàn Mạc Tử ở đất thánh Qui Hòa, để tìm hiểu thêm về thi sĩ này. Ông được Bà phó giám đốc bệnh viện Qui Hòa đưa ông đi quan chiêm ngôi mộ nhà thi sĩ trong một ngày đầu thu năm 1940. Bà phó giám đốc bệnh viện Qui Hòa ngày ấy là Nữ tu người Pháp, tên là Marie de Saint-Venant. Nhà văn Trần Thanh Mại đã viết về Nữ tu này như sau: “Nơi bà ấy, mà chúng ta không còn có phép khêu gợi cái sắc đẹp và cái tuổi trẻ hiện thời vẫn đang lộng lẫy, nơi bà ấy chỉ là dịu dàng, chỉ là trong sạch, chỉ là nguồn Đạo Hạnh hoàn toàn, - một nàng Tiên”. (Trần Thanh Mại – Hàn Mạc Tử (1912-1940), in lần thứ ba. Tủ sách Những mảnh gương Tân Việt, trang 200). Sau đó, Nữ tu này đã nói với Trần Thanh Mại về Hàn Mạc Tử: “con người nhỏ nhoi làm sao, lễ phép làm sao và chí thành làm sao” ấy (il était si petit, si poli et si bon chrétien).

     Chương năm: Lều tranh - một sáng mùa Thu, là một tư tưởng đột khởi, không có trong bản thảo đầu tiên. Bối cảnh của lều tranh và những giờ khắc cầu nguyện chỉ diễn ra trong một tập thể rất giới hạn, là một chọn lựa trước những trung tâm đô thị đầy ắp người không cá tính, không nhân bản và một thành phần không nhỏ tại những nơi này không được tôn trọng phẩm giá của mình. Họ bị che phủ bởi những tiện nghi vật chất nhằm phục vụ thân xác, đưa thân xác lên đỉnh cao, vượt xa tầm tinh thần, trong khi chính tinh thần mới là mức độ đánh giá cuộc tiến hóa của con người thì lại bị đưa xuống hàng thứ yếu trong bậc thang giá trị làm người. Ngoài ra, sinh hoạt tôn giáo diễn ra tại lều tranh là một chọn lựa, một cách thể hiện niềm tin của một số ít người nơi đây, trước một tình trạng đông đúc, xô bồ tại những cộng đoàn tín hữu ở nhiều địa phương trong các buổi lễ lớn, long trọng, nhưng lại thiếu tinh thần của một buổi lễ tôn giáo.

     Chương năm này mô tả cuộc sống dung dị, không có các tiện nghi của văn minh. Nó hoàn toàn xa lạ với đời sống của con người tại các thành thị bây giờ. Nó cũng chẳng giống một Đan viện, hay một Thiền viện nào. Vì mấy nhân vật ở lều tranh cũng có cung cách khác thường. Họ là những kẻ, trước khi đến lều tranh, đã nhập cuộc đấu tranh. Trong số họ, có một lữ hành. Ở cuối đời, ông muốn đi vào một khu rừng mùa thu đầy lá vàng, đợi ở đó, chết ở đó với hy vọng tác giả bài thơ Ân Nghĩa, một nữ tu, sẽ tìm đến và kết một vòng hoa rừng đặt lên đầu ông. Chỉ là một mộng mơ, một “hồn bướm mơ tiên” biểu hiện tinh thần phản kháng một thứ tình cảm chiếm hữu, một thực tại trục vật của thời hiện tại.

     Đấy là một ý tưởng nhằm nói lên nỗi chán chường của tác giả trước một thực tại xã hội nhơ nhớp. Nhưng tôi vẫn còn niềm tin ở tôn giáo mặc khải và phổ quát. Chính vì thế mà tôn giáo có một vị trí quan trọng trong toàn chuyện kể..

     Tác Giả


CHƯƠNG MỘT

     BÀI THƠ ÂN NGHĨA


     Một buổi sáng năm 1963, tôi đang ngồi làm viêc như thường lệ tại Tòa soạn Nhật báo Dân Việt, đường Hồ Xuân Hương, quận 3 Sài-Gòn, thì nhận được một lá thư gửi cho tôi, bên trong chỉ có một bài thơ.

     Bài thơ có tựa đề là Ân Nghĩa, bên dưới có hàng chữ : “Để trả lời Từ Đan Thanh”. Từ Đan Thanh là một trong mấy bút hiệu tôi dùng lúc bắt đầu làm thơ. Về sau tôi dùng bút hiệu Khải Triều, không dùng Từ Đan Thanh nữa.Còn người viết bài thơ, ghi tên ở dưới là Cung-nam-Thương. Tôi không quen ai có tên này và cũng chưa đọc bài thơ nào ký tên Cung-nam-Thương. Nhưng nét bút thì tôi nhận ra là của ai. Nó bộc lộ một cá tính rắn rỏi mà vẫn ẩn sâu trong đó tính cách đặc thù, một tâm hồn lãng mạn, một vóc dáng mỏng manh như hạc bay, như cô học trò của tôi vậy. Điều này thì không thể lầm lẫn với một ai khác được. Tôi không giải thích được vì sao nhìn nét chữ bài thơ mà tôi lại nhận ra vóc dáng ấy của người học trò. Tôi chỉ cảm thấy bằng trực giác. Mặc dù vậy, cho đến bây giờ, sau gần 50 năm, tôi vẫn không biết chắc chắn, Cung-nam-Thương là ai, có phải là người học trò của tôi không. Vì có một chuyện xảy ra cho tôi mấy năm trước đó, mà tôi là nạn nhân.Đó là, nét chữ của tôi giống với nét chữ của một người tôi không quen biết. Chính vì việc này liên quan đến mình mà tôi ngả theo chiều hoài nghi : Ai là tác giả thật sự của bài thơ Ân Nghĩa ? Phải chăng đây là chuyện của một gã đàn ông nào đó thích đùa, trêu trọc tôi ?

     Đọc một bài thơ không biết chắc chắn là của ai, nhưng nhìn chữ viết, lại nhận ra người viết bằng trực giác, nhưng theo chủ nghĩa hoài nghi, tôi phân vân, không biết ngả theo bên nào là đúng.

     Bài thơ nói đến nỗi thất vọng của người con gái trong tình yêu, nên cô đã vào tu viện. Cả điều này nữa, ngày đó tôi cũng không biết gì, không mấy quan tâm vì tình hình chính trị ở Sài-Gòn đang bất ổn, chiến tranh lan rộng. Bản thân tôi ở trong tình trạng phải nhập nghũ. Tôi quên bài thơ, quên người học trò nhỏ.

     Hơn mười năm sau, khi gần tàn cuộc chiến (1955-1975), tôi mới gặp lại cô học trò nhỏ thuở nào, tại nhà cô ruột của cô, người cho tôi mướn nhà. Bây giờ, người học trò ấy đã là một thiếu nữ, song phong cách của một ca viên Thánh ca, có giọng hát trầm buồn thuở nào, không thay đổi. Nàng ăn mặc giản dị, mặt không son phấn, đôi mắt vẫn như ẩn chứa niềm u uẩn bẩm sinh.

     Vâng, chính cô học trò của tôi ấy đã bỏ đi tu, như bài thơ đã nói đến. Có điều tôi lại không hỏi nàng về bài thơ Ân Nghĩa, có phải nàng đã viết. Tôi đã bỏ quên bài thơ trong sâu thẳm của lòng tôi rồi…

     Nói đến đây, An (anh em thường gọi là người lữ hành) bật tiếng thở dài, cúi đầu ôm mặt. Thinh lặng một hồi lâu. Người kể chuyện vì là bạn tâm giao đã hơn nửa thế kỷ, từ hồi hai người còn học Trường Minh Tân tại tỉnh lỵ Hà Đông, nên lặng lẽ bỏ ra ngoài, ngồi dưới mái tranh, đưa mắt vào nơi xa, lúc thì dõi theo làn mây mỏng vật vờ, nổi trôi, lúc tan lúc hợp, lúc thì như luyến tiếc nhìn cánh hoa đại trắng điểm nhụy vàng rơi trong sân nhà. Trời đã về chiều. Làn gió thoảng đưa mùi hoa đại vào cõi tâm tư…Rồi nghe như có tiếng động nhẹ ở trong nhà, người kể chuyện bèn trở vào, lặng lẽ ngồi xuống. An chậm rãi nói tiếp:

     Tôi sinh ra trong một gia đình trung lưu ở nông thôn, vùng đồng bằng sông Hồng, sau nhiều thế hệ, tổ tiên của các chi tộc đã lưu lại trong xã thôn, trong tâm khảm của dân làng nhiều tiếng thơm và điều lành. Năm 18 tuổi, theo mệnh nước, tôi sang sân bay Gia Lâm, lên máy bay vào Sài-Gòn, ngày 02 tháng 8 năm 1954. Mấy năm đầu tôi học ở Trường Trần Lục, đường Hai Bà Trưng, Tân Định, quận Nhất, Sài-Gòn. Nhờ học bổng và dạy học thêm ở tư gia, tôi tạm ổn định về mặt đời sống.

     Căn nhà trọ tôi đang ở gần đường rầy xe lửa ồn ào quá, nên tôi tính phải tìm nơi khác.Một hôm, tôi đi lần vào con ngõ gần ga Hòa Hưng, đường Nguyễn Thông, thì từ một căn nhà đâu đấy, có tiếng hát giọng nữ ngọt ngào, thanh thoát bài thánh ca quen thuộc. Đó là bài Cung chúc Trinh Vương. Ngay hôm đó tôi mướn được căn gác của một gia đình có đạo và không lâu sau đó, tôi biết cô con gái hát bài thánh ca vừa rồi, là cháu gọi bà chủ nhà tôi vừa đến ở, là cô ruột. Hằng ngày tôi đạp xe đi học, thường là thấy cô đi bộ về, bên kia đường. Cô cúi đầu như chào tôi, dáng e thẹn, vẻ e thẹn nơi một cô gái đang ở tuổi mộng mơ.

     Chỉ một vài tuần lễ sau, tôi đã trở nên gần gũi với mấy gia đình ở lối xóm đó. Ông chủ nhà của tôi là một thượng sĩ ngành truyền tin, đề nghị tôi dạy học các con ông, cả cô cháu của vợ ông nữa, người đã hát bài thánh ca Cung chúc Trinh Vương. Cô là một giọng hát trầm, trong một ca đoàn tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng. Cô không đẹp, nhưng đôi mắt thì như một định mệnh, lãng mạn, nhiều u uẩn. Riêng phần học của cô, tôi phải sang nhà cô dạy. Một thầy một trò. Tôi sớm nhận ra nơi người học trò này có một đặc tính, đó là sự mẫn cảm và kín đáo. Cô biểu lộ tình cảm bằng những cử chỉ e thẹn, chốc chốc lại ngước mắt lên nhìn tôi, ánh mắt dịu dàng, miệng hé nụ cười bẽn lẽn. Còn tôi, lúc đó đã hơn hai mươi tuổi, nhưng chỉ mới thoáng có chút tình cảm, lại thêm sự chừng mực và cái tính “nghiêm” bẩm sinh. Tôi chưa biết tôi là ai. Cả sau đó mấy năm, tôi làm gì và đi đâu, hình như có một bàn tay bí nhiệm nào đó dẫn dắt. Bây giờ nhớ lại, tôi thật sự kinh ngạc thân phận tôi chẳng những ngày đó mà cả bây giờ. Tôi như bị ném ra ngoài xã hội.Xã hội như một dòng sông, nước không chảy xiết lắm để có thể cuốn tôi đi và xô tôi vào nơi bến đục, hoặc nhận chìm tôi vào hư vô. Tôi vẫn băn khoăn về chính tôi. Vẫn là một số phận không có một câu trả lời thuần lý hay nghiêng về thần lý. Đứng trước những thách đố của một thân phận con người với những rắc rối và hệ lụy của xã hội, tôi không có một giải pháp nào hoàn toàn thuộc về con người xã hội, để giải quyết các vấn đề quan trọng liên quan đến bản thân. Chẳng hạn, một việc làm ổn định, cũng như trước lệnh tổng động viên, thanh niên đến tuổi phải đi lính v.v…, tôi đều không biết phải xoay sở thế nào! Những lúc tưởng như ở đường cùng thì tôi được giúp đỡ và được cứu, không phải chỉ một lần, nhưng là cả một kiếp người. Cho nên, có lúc hiền nội của tôi lặng lẽ nói : “Đáng lẽ anh phải đi tu. Anh được nhiều ơn Chúa lắm”. Ngay khi có vợ và một đứa con, tôi vẫn thấy mình không hoàn toàn là người-ở-đời. Một lần, tôi với đứa con gái lên ba, đi bách bộ ở hành lang một trường đai học Công giáo. Bỗng nhiên nó gọi tôi “Ba ơi !”. Tôi nhìn về phía nó, thì nó nói : “Ô ! Con gọi ba ở trên trời mà !” Tôi chợt giật mình nghĩ đến Têrêxa Hài Đồng Giêsu, một buổi tối nhìn sao trên trời, nói với thân phụ của mình : “Ba nhìn kìa ! Tên con đã được ghi ở trên trời !”. Mấy năm sau đó, con gái tôi 5 tuổi, lại nói : “Nhìn ba đi xe đạp, sao con thấy nhẹ nhàng quá, như mây trôi”. Nghe con gái nói thế, tôi chỉ mỉm cười. Mãi về sau, nhớ lại những câu nói này, tôi mới nhìn trở lại bản thân mình. Từ đây đã có câu trả lời. Thân xác tôi nhẹ nhàng và không bám vào những nguyên tắc, những lề luật cứng ngắc, những quyến luyến của trần thế.

     An đột nhiên ngừng kể. Hắn trìu mến nhìn người bạn tâm giao, ngầm nói về một điều gì đó mà hắn chưa đạt tới, chưa diễn tả đúng với cái tâm và cái thân của mình trong dòng tư tưởng trên. Cái nhìn trìu mến đó, như thường lệ, là một biểu hiện của lời yêu cầu, một cử chỉ chân thành với người bạn đồng hành, người bạn tâm giao đã hơn nửa thế kỷ nay. Vì thế, hắn rất tín nhiệm, rất tin tưởng trong những vấn đề sâu thẳm của tư tưởng, của huyền nhiệm.

     Người anh em thân mến,

     Hôm nay đã có một con virus lạ xâm nhập vào cõi tâm tư của anh rồi sao ! Nó làm cho anh lạc hồn thi sĩ rồi. Hãy mau trở lại với nó đi. Anh đã quên rồi, những gì nằm sâu trong hố thẳm, trong cung lòng mỗi người, thì thuộc về kho tàng nơi ẩn giấu những huyền nhiệm của người ấy. Muốn mở kho tàng này, người của trần thế nhờ cậy nơi những lá bài, những thanh que gọi là “xin xâm” để “mở” ra cho. Nhưng đã lạc vào u mê lại tìm đến chốn u mê để xin chỉ đường giải thoát. Cuối cùng càng bế tắc, rối loạn và đảo điên cái tâm, nó cần được thinh lặng, được Nước Cứu Chuộc rửa sạch.

     Hôm nay, người anh em tri kỷ thân mến, ngỏ lời cậy nhờ tôi “lên tiếng” cho một điều vốn nằm sâu trong hố thẳm, trong cung lòng của người anh em thân thiết của tôi sao ? Không đâu. Điều ấy thuộc về quyền sở hữu tuyệt đối của anh. Anh là chủ thể của nó. Cái gì trong cõi sâu thẳm của anh, đã giúp anh sống thân phận con người, nhưng không bám vào những nguyên tắc, những luật lệ trói buộc con người và những quyến luyến của trần thế, trong khi lại đưa những khổ lụy, những đắng cay của con người vào những lời thơ của anh, lại còn muốn khắc lên đá và mang những vần thơ đau thương và phẫn nộ này về dâng cho Đấng Tạo Thành. Có phải là mâu thuẫn không ?

     Người bạn tâm tư như đã nhìn thấu vấn đề u uẩn của hắn, nên khi nói đến đó, hắn không do dự, nói ngay:

     Những gì là bám víu, là quyến luyến sự vật trần thế và những gì thuộc về mặc khải, là hai điều khác nhau, nếu không phải là mâu thuẫn nhau. Bám víu và quyến luyến sự vật trần thế, là sai lầm, phải được loại bỏ, phải được buông tay nắm ra cho thanh thoát, cho tự do. Còn những gì là mặc khải, là thiên khải thì phải biết thực thi và cảm tạ. Có một số bài thơ tôi viết không phải là kết quả của lý trí, song là một đột khởi của tinh thần. Chẳng hạn, bài thơ Cầu nguyện trong tập Người ôm mặt khóc, viết năm 1963, sáu câu cuối như sau:

          Tôi chắp tay cầu xin Thượng đế
          Cho tôi trở lại nguyên bàn tay
         Để tôi khắc lên đá những bài thơ của người ôm mặt khóc
         Tôi chắp tay cầu xin Thượng đế
         Cho tôi trở lại nguyên hình bàn chân
         Để tôi mang những phiên đá đi về dâng Thượng đế.

     Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ mỉm cười khi tôi dâng cho Ngài những phiến đá mà tôi đã khắc lên đó những vần thơ như vậy. Đấy còn là những lời cầu nguyện khẩn thiết, rằng người ta phải trở lại với nguyên mẫu hình hài từ thuở ban đầu : chân ngươi phải đi đường nẻo chính, bỏ đường gian tà, bất chính; tay ngươi phải làm việc thánh thiện, nếu không thì hãy chặt nó đi, ném vào lửa. Một xã hội nhân bản theo Kitô giáo là vậy. Đấy không phải là “quyến luyến”, là “bám víu”, mà là sứ mệnh. Ngoài ra, đó là một chất vấn đối với người Công giáo Việt Nam hôm nay.

     BA NGƯỜI BẠN

     Trong cuộc hội ngộ lần này, còn có mặt người thứ ba. Ông đến cách kín đáo và lặng lẽ. Ít khi ông lên tiếng. Công việc của ông là ghi chép. Xem ra là bình thường, nhưng lại có một đòi hỏi cao. Đó là tính trung thực, một đức tính quan trọng của người chứng. Ngoài ra, ông còn một vài đức tính khác được bạn hữu quí mến, là lòng can đảm, kiên nhẫn, bao dung.

     Khi xã hội này được thiết lập ở giữa thập niên 70 thế kỷ trước, ông đã tố cáo nó. Vì vậy, ông đã mang một bản án “chung thân” là bị “loại trừ”. Ông viết bản tố cáo chế độ và một vài tư tế của Chúa xu thời vào năm 1983, lúc ông 47 tuổi, cái tuổi biết sợ, song ông thì không, cho dù trước đó ông đã bị ngành an ninh tra vấn, bởi một người anh em đồng đạo tố cáo về chuyện phản kháng chế độ xã hội mới.

     Từ đó đến nay, ông vẫn miệt mài ghi chép. Cái computer là một phương tiện hưu hiệu cho việc ghi chép và thi hành sứ mệnh của ông.

     Tối hôm nay, ông có mặt ở đây theo lời mời của An, người lữ hành, là người chủ sự cuộc gặp mặt cuối cùng tại căn nhà này, trước khi hắn đi vào một lều tranh và sau cùng là khu rừng mùa thu đầy lá vàng, ngủ trên thảm lá vàng này, rồi lặng lẽ đi vào cõi vô biên với muôn vàn tinh tú. Như có lần hắn nói, được chết trong tình trạng ấy, thân xác hắn sẽ không bị hủy hoại, vì sẽ có một trinh nữ tìm đến khu rừng này viếng xác hắn. Nàng sẽ đặt một nụ hôn trinh khiết lên trái tim hắn, một trái tim đau thương, rồi lấy lá vàng phủ lên toàn thân hắn, lấy những bông hoa rừng kết nên thành một vương miện, đặt trên đầu hắn. Sau đó, nàng đi vào một Đan viện ở trên cao, sống lặng lẽ trọn cuộc đời chiêm niệm.

     Người bạn tri kỷ chợt dừng lại vì những lời nói trên đây có một điều mâu thuẫn đối với An. Cho nên, ông nhìn An rồi nói:

     Đã nói là không quyến luyến và bám víu vào những gì thuộc trần thế, vậy mà khi chết rồi, còn biết gì nữa mà anh lại mơ chuyện thần tiên. Người trinh nữ mà anh nhắc đến có phải là một nữ tu xuất hiện ở câu thơ cuối trong bài Người ôm mặt khóc, cách nay đã 49 năm rồi không. Nàng có thật hay chỉ là mộng? Còn cái vòng hoa trên đầu, sao bảo nó là “vương miện” ? Anh có phải là Hoàng tử đâu mà mơ vương miện. Như thế không phải là quyến luyến trần gian, thì là gì ? Tôi thấy anh mâu thuẫn quá !

     An bật tiếng cười lớn, nói :

     Cái “quyến luyến” của một con người hiện sinh khác với cái “quyến luyến”, đúng hơn là cái ý tưởng của người biết mình sắp chết. Trong trường hợp của tôi, nằm chết trong khu rừng mùa thu đầy lá vàng, có một trinh nữ tìm đến và hôn nhẹ lên trái tim mình, không phải là sự quyến luyến của một con người hiện sinh trục vật, mà chỉ là một biểu hiện của lãng mạn. Sống trong thời đại khoa học tân tiến, giao tiếp với nhau qua vi tính, con người bị đơn giản hóa, máy móc hóa. Trái tim con người không còn mang yếu tố nhiệm mầu, không còn là trái tim bằng thịt, song là một bộ máy, một cơ tâm ! Tôi có vài ý tưởng lãng mạn, là cách trở về với chân thân. Như thế, chẳng tuyệt vời lắm sao.

     Còn trinh nữ kia, anh muốn bảo là thật hay là mộng cũng được. Nàng là thật nhưng lại là mộng, vì tôi gặp nàng trong mộng nhiều hơn là thực tại. Nàng là mộng, nhưng lại là thật trong thân xác một người con gái tài hoa, bước lên thềm cao mà viết bài thơ Ân Nghĩa. Là mộng hay là thật cũng đều đúng. Vì cuối cùng, tôi vẫn sống trong một thực tại, song hoàn toàn là mộng ảo cả thôi. Trong thời đại văn minh cơ khí, cơ tâm này, một lúc nào đó anh thoát ra được, đấy là siêu thoát, là hạnh phúc rồi.Chúng ta đang sống trong một thế giới mộng ảo đó. Đông Tây đã và còn đang đổ biết bao nhiêu là xương máu, hủy hoại biết bao nhiêu là những công trình văn hóa, tôn giáo, lịch sử…để gọi là xây dựng một xã hội mới, dân chủ, tự do, cộng hòa, xã hội chủ nghĩa. Những kẻ ngu xuẩn, toan tính việc vá trời hoặc để che mắt ông trời, dựng nên một thứ “tôn giáo”, “thiên” chẳng ra thiên, mà “địa” chẳng ra địa, một thứ tôn giáo què quặt, nửa ma quái nửa ngợm. Thật là hoang đường. Trong khi đó lại trù dập, tàn sát những con người tôn giáo chân chính, đe dọa những ai mềm yếu để gieo rắc sự sợ hãi, làm đảo điên nhân tâm, quấy nhiễu những con người ngay lành và chân thật. Còn kẻ khoác áo tự do, thì ngông cuồng, đòi tống khứ tôn giáo ra khỏi cuộc đời, đòi giết chết Thiên Chúa, để xã hội chỉ còn những chai CoCa Cola, bánh mì Hamburger và những bao cao su phát không bừa bãi cho cả đám con nít. Người ta bảo, cửa hỏa ngục đã mở ra, Satan xuất hiện cả những nơi thánh thiêng, thờ phượng. Đạo không còn là con đường dẫn người ta trở nên linh thánh, là mục tiêu của tiến hóa. Song, khi quyền lực nằm trong tay những kẻ tôn thờ Satan, thì con đường tiến hóa này bị chặn lại, nó quay trở về với tổ truyền của nó.

     Một khoảng trống im lặng lạ thường bao trùm cả căn phòng khi An nói đến cái bối cảnh của toàn thế giới khủng khiếp như thế. Trong số ba người bạn chí thân với nhau, không ai hỏi, nếu thế giới này tiến đến chỗ như thế, thì tương lai con người sẽ đi về đâu ?
     Vì muốn tiếp nối câu chuyện giữa An và cô học trò, người kể chuyện hỏi An :Thế còn cô học trò nhỏ đã đi tu của anh, người mà anh nghi ngờ đã viết bài thơ Ân Nghĩa, chuyện tình cảm giữa thầy trò với nhau ra sao, nói ra được không ?

     Thì tôi đã vừa nói đấy thôi. Nhưng có lẽ anh muốn tôi trở lại cái hiện hữu của mình, có nghĩa là anh bảo tôi trở về một thời kỳ đã quá lâu, từ trước khi tôi bỏ Sài-Gòn, lên Ban Mê Thuột, hơn 50 năm rồi ! Nói đúng ra, chuyện tình cảm của tôi ngày đó chưa có gì để nhớ, tôi chưa phát triển về ý thức của tính liên đới, hay tính tương quan giữa con người với nhau. Tôi cũng chưa có một ý thức về một cuộc sống ổn định, còn rất trẻ và ngu ngơ. Tuy nhiên, trong chuyện tình cảm này, tôi chỉ nhớ một việc. Đó là vào một buổi sáng, tôi sang nhà cô học trò, chào mọi người, từ bà nội, bố mẹ và các cô ruột của cô để đi Ban Mê Thuột, sau khi người bạn học đã dối gạt tôi để lấy hơn một nửa số tiền học bổng tôi mới nhận. Điều này khiến tôi buồn chán. Tôi không nhớ mình đã nói gì với cô học trò, lúc đó tôi ngồi ở bàn một mình, cô thì im lặng, đứng tựa lưng vào tủ quần áo… Nét mặt buồn, hai tay mân mê vạt áo, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn tôi…Tôi đứng lên tiến lại phía cô. Lúc đó tôi mới nghe cô nói : “Anh cứ đi, em sẽ có thơ cho anh trên báo”. Rồi cô ngước mắt nhìn tôi, một cái nhìn tha thiết. Hình như cô đã khóc…Tôi đặt cái hôn nhẹ trên mắt cô. Môi tôi có thấm chút mặn của những giọt lệ trên đó. Rồi cô trao cho tôi một chuỗi hạt Mân Côi, mầu đen, hạt nhỏ, như một lời nhắc nhở : trong cuộc đời mai này, anh có gặp sóng gió, khổ đau thì hãy đến với Đức Maria, qua chuỗi này, anh sẽ được yên ủi.Tôi đưa một bàn tay ra nhận. Cô đặt nhẹ chuỗi hạt trong lòng bàn tay tôi, để yên bàn tay cô trên bàn tay tôi một lát, rồi mới rút về, tôi cũng vậy.

     Việc tôi đi Ban Mê Thuột là một thất bại, một đau đớn cho tôi. Ngồi trên chiếc xe đò đi Ban Mê Thuột, cách xa Sài-Gòn hơn 350 km, lúc xe chuyển bánh, tôi chợt khóc thầm, không phải vì tình cảm phải xa một cái ngõ hẻm có tiếng hát những bài thánh ca, làm súc động lòng người bổn đạo, mà khóc vì thân phận của mình. Bỏ trường, bỏ thầy và bỏ bạn bè cùng thế hệ, cùng thân phận xa quê nhà nơi đất Bắc. Có bao nhiêu người bạn là có bấy nhiêu tâm tư, bấy nhiêu nỗi trăn trở và thương đau về sự chia ly.

     Chiếc xe chạy miết trên đường dài, càng chạy càng đi sâu lên miền cao rừng núi. Dọc đường đã thấy xuất hiện vài ba người thiểu số, lưng mang gùi và mấy con sóc chạy ngang đường. Chiều cao nguyên đã xuống dần…

     Hành lý của tôi mang theo ngày đó, vỏn vẹn một chiếc va ly nhỏ, nhét mấy bộ quần áo, mấy quyển triết học Đông phương và một cây đàn ghi-ta cũ, một người bạn cho trước khi đi.

     Ở Ban Mê Thuột được mấy năm thì vào một hôm, trong giấc ngủ trưa, tôi chợt ngồi bật dậy vì có một vật gì đó làm tôi ngứa ở cổ và muốn ho, không thể cầm lại được. Tôi đã ho ra một cục máu… Đầu tôi choáng váng, tối sầm lại, toàn thân mệt mỏi, bước đi không vững. Vậy là tôi đã mắc vào bệnh lao phổi, sau mấy năm buồn chán, thức khuya.

     Sau ngày này, tôi lại bỏ Ban Mê Thuột, trở lại Sài-Gòn, vì không thể tiếp tục việc dạy học được nữa, mặc dù trở về thành phố lúc này là một vấn đề rất khó khăn cho tôi.

     Những tháng đầu sau khi trở lại Sài-Gòn, bệnh của tôi nặng thêm. Một phần vì hoàn cảnh sống khắc khổ, một phần vì thiếu thuốc men. Có một đêm, người bạn ở chung gác trọ đã phải thức dậy đưa tôi vào nhà thương Hồng Bàng (nay là bệnh viện Phạm Ngọc Thạch), trong tình trạng cấp cứu. Tôi được chích cho một mũi thuốc rồi cho về ngay. Có lẽ vì tôi chẳng có giấy tờ gì trong người.

     Người chủ căn gác chúng tôi trọ, là một y tá trong quân đội Pháp trước kia, làm y tá chích dạo, ai đau yếu gì thì gọi, ông sẽ đến nhà chữa cho, tiền công rẻ. Biết tôi mắc bệnh lao, đã chích thuốc cho tôi mà không lấy tiền, lại còn tiền nhà, 100 đồng mỗi tháng, ông bảo có thì trả không có thì thôi. Anh em độc thân với nhau. Mình có 2,3 căn nhà cho thuê, cũng có ai trả tiền cho mình đâu.

     Việc may thứ hai đến với tôi sau ngày trở lại Sài-Gòn, là có một người anh em cùng họ, lúc đó đang làm ở tờ nhật báo Tự Do, trên đường Võ Tánh, nay là Nguyễn Trãi, Sài-Gòn, đã giới thiệu tôi vào làm cho tờ nhật báo Dân Việt, trước khi tờ này ra mắt, năm 1960. Vì giữa tờ Tự Do và Dân Việt, các ông Chủ nhiệm và Quản lý đều là bạn hữu với nhau. Họ cũng biết người anh trong họ của tôi lúc bấy giờ, đang là Chánh Văn phòng cho một Giám đốc Sở, trực thuộc Phủ Tổng thống. Do đó, tôi được nhận vào Dân Việt làm rất dễ dàng.

     Khi cuộc sống tạm ổn định, tôi tiếp tục ngay việc học, không bỏ một khoảng trống thời gian nào.Tuy vậy, phải mất nhiều năm tự học, tôi mới có được một mảnh bằng Tú tài Ban C Văn chương để bước vào Đại học Văn Khoa, Sài-Gòn, học Triết Đông, mục đích là dạy học và làm một tờ báo.

     Công việc chính của tôi ở tờ báo Dân Việt là sửa bài, vỗ từ bản kẽm ra. Bản nào có chữ ký của tôi thì mới đưa lên máy. Tờ Dân Việt có một trang Văn nghệ, ông Thanh Tùng phụ trách chính trang này. Tôi phụ ông một vài mục về thơ, văn …

     Trên trang chính tờ Dân Việt, có mục rất “ăn khách” là “Ao thả vịt”, do ông Chu Tử “chăn”, tên thật của ông là Chu Văn Bình. Ông cũng nổi tiếng về mấy truyện dài đăng nhiều kỳ ở trang trong, như YÊU, LOẠN. Với “Ao thả vịt”, ông nói đủ chuyện trên trời : hư và thực, bản ngã và siêu ngã, thiên đường và hỏa ngục ở trần thế, thiên thần và ác quỷ…Một hôm, Chu Tử viết một bài có tính chất mất và được, ông đã dùng từ “Lỡ mất linh hồn”. Tôi thấy chữ “lỡ” không hay lại không chỉnh theo nội dung câu chuyện ông viết và muốn nói đến. Tôi bèn sửa chữ “lỡ” thành chữ “lỗ”, “Lỗ mất linh hồn”, nó rất ăn ý với những tay coi cuộc đời là một cuộc chơi, một ván bài, được và mất, thua và lỗ.

     Sáng ngày hôm sau, báo phát hành sớm, ông Chu Tử đến Tòa soạn sớm hơn mọi ngày, thấy tôi ngồi ở bàn, ông bước nhanh tới, gọi tên tôi thật lớn, miệng cười rất tươi : “Cảm ơn Khải Triều, toa đã sửa chữ “lỡ” thành “lỗ”, “lỗ mất linh hồn”. Hay quá !”

     Thấy An trầm tư, mắt nhắm lại như đang trở về khung cảnh của một tòa soạn nhật báo, vào các buổi sáng trong tuần ở thành phố Sài-Gòn những năm xa xưa.Người bạn tâm giao làm một dấu hiệu như muốn nói, nhưng An đã đứng lên, bước tới giá sách, cầm lấy một quyển. Người ký giả nhìn theo, xúc động bởi cái phong thái của An lúc này, nhẹ như cơn gió buổi hoàng hôn ở mái hiên này. Đấy đúng là tấm linh hồn của hắn, một linh hồn đã hơn nửa thế kỷ từ miền đất của người ôm mặt khóc và tiếng hát khuẩn trùng, đến nay vẫn tiếp tục vác thập giá của thân thể mình đi lầm lũi trên quê hương đau nhức.

     An mở quyển sách đó ra, đưa cho ký giả, bảo đọc một bài thơ trong đó, bài Lễ nghi buổi sáng, nói đến một buổi sáng mai của hắn với một người bạn trong gác trọ, sau đó hắn tới tòa soạn tờ báo, có hình ảnh một thi sĩ và người ký giả gầy còm, già nua, chuyên viết về các vấn đề xã hội. Người này, như hắn nói, chính là ông Chu Tử, tức Chu Văn Bình, còn thi sĩ kia là T. D. T:

Tôi trở dậy lúc bảy giờ
Người bạn nằm trên giường buồn đọc tên tôi
Tôi chưa bao giờ đáp lời
Tôi chưa bao giờ nói một tiếng vào buổi sáng
Người bạn đọc tên tôi lần thứ hai
Khuôn mặt buổi sáng còn hằn nét suy tư đêm qua
Tôi nhìn tôi trong gương và bất mãn
Tôi muốn làm một cuộc cách mạng phá tan trầm lặng
Cho buổi sáng ồn ào tiếng nói
Dù giữa hai người
Dù tôi nói với tôi
Dù tôi gào thét giữa cuộc đời.

Tôi uống thuốc trừ lao và một ly nước lã
Buổi sáng không bánh mì cà phê.

Tôi tới tòa soạn đi qua bàn một thi sĩ
Không nghĩ gì về hắn
Ký giả ngồi bên già nua chuyên viết xã hội
Tôi đợi chờ những khuôn chữ xếp thành tiếng nói.

     Ký giả đọc xong bài thơ, một làn gió nhẹ lùa vào nhà, đã khép trang sách lại. Người bạn tâm giao đứng lên, pha tiếp một bình trà nóng khác, mở tủ lấy ra mấy phong bánh đậu xanh Hải Dương. Sau đó, cả ba con người đau khổ này rời khỏi căn nhà mà định mệnh đã đưa họ đến đây.Họ khẽ đóng cánh cửa lại, từ giã mái nhà. Trời đã xẩm tối. Người bạn tâm giao thấy hành động lạ thường của người lữ hành, lên tiếng nói : Hai người anh em chúng tôi sẽ không rời xa anh bao lâu anh chưa kể hết câu chuyện của anh với cô học trò trước khi đi Ban Mê Thuột, với tác giả bài thơ Ân Nghĩa là Cung-nam-Thương. Anh có nên để người anh em ký giả này công bố bài thơ ấy không ?

     Cả ba con người tín nghĩa và đau khổ lại âm thầm bước đi. Người bạn tâm giao chợt giật mình khi thoáng nhìn thấy cái bóng của người lữ hành lầm lũi bước, đầu cúi xuống thấp, hai vai mang cây thập giá. Hắn đi lên một gò đất cao, lởm chởm sỏi đá. Trên đó có một cái lều trống, hoang sơ, nhưng chưa bước vào bên trong mà họ đã thấy những dấu lạ của bình yên và thánh thiện, nhất là lều tranh tỏa ra một làn khí nhiệm mầu, thiêng liêng, như lơ lửng trong màn sương mỏng của một buổi chiều chớm vào thu. Bước vào trong lều, trên vách giữa chỉ treo có một cây thánh giá bằng giấy lồng kính. Phía bên trái, ngang chân Chúa Giêsu chịu nạn, có mấy dòng chữ:

          1530

          Ce n’est pas
         pour rire que
         je t’ai aimé

     Con số 1530 theo hắn nói là năm bức hình được khắc trên một vách núi, hắn không nhớ ngọn núi này ở nước nào. Còn mấy hàng chữ kia, có ý nói : hình Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá này không phải để bạn cười nhưng là để yêu mến.

     Đêm hôm đó ba con người đau khổ ngủ trong cái lều này. Canh ba, giờ Tý, họ thức dậy, quỳ gối trên nền sỏi đá, hai tay giang rộng ra giống như Giêsu Nazareth trên bức vách kia. Họ cầu nguyện, đi 14 chặng đường thương xót. Rồi lần chuỗi kinh Mân Côi, hát khúc thánh ca Hòa Bình của Phanxicô Assisi.

     Sáng ra, cả ba thức dậy sớm, rửa mặt bằng sương mai đọng trên các cành cây. Điểm tâm bằng trứng cút hay một vài loại trứng của chim rừng. Chàng ký giả tưởng sự việc này chỉ xảy ra cho dân Do Thái sau khi Môsê và Aharôn đưa họ ra khỏi đất Ai-cập, thoát cảnh nô lệ, đi trong sa mạc suốt 40 năm trường để về “Đất hứa”. Họ đói, kêu trách ông Môsê và Aharôn, đã đem họ ra sa mạc này, để làm cả lũ chết đói ở đây.Yavê Thiên Chúa đã nghe dân Người kêu trách như vậy, nên Người đã cho mưa bánh bởi trời xuống, ban chiều thì có chim cút, ban sáng có bánh thỏa thuê.(Xuất hành 16, 1-3).

     Chàng ký giả thật không ngờ, người anh em lữ hành đã đưa họ tới lều tranh này, cảnh trí thanh tịnh, êm ả như lòng họ ao ước bấy lâu nay. Chàng ngửa mặt lên trời, thở thật sâu khí trời ban mai sạch trong. Chàng nhìn bầu trời đầy sao, dõi mắt tìm xem có chòm sao ba vua không. Chàng chợt giật mình, vừa nghĩ đến đây thì chòm sao ba vua xuất hiện trước mắt chàng liền, cơ hồ như chòm sao này đậu ngay trên nóc lều tranh, lấp lánh sáng. Chàng ký giả lấy tay dìu dịu hai mắt, định tâm lại, xem hình tượng và ý nghĩ của mình vừa rồi là thật hay mộng.

     Lại gặp chuyện thật và mộng. Ở đây chắc là mộng thôi.Tuy nhiên, chòm sao “Ba vua” này phải chăng là “Ba đạo sĩ” Phương Đông, theo tương truyền đã theo “Ngôi sao lạ” tìm đến Belem, thành của Đavít, để bái kính Vua dân Do Thái mới sinh ra. Cho nên, chòm sao ba vua trên bầu trời ban mai này mà chàng ký giả nhìn thấy đó, quả thật là một biểu tượng của tiến trình, từ con người hiện sinh tại trần thế đã tiến sang bậc linh thiêng. Ba người huynh đệ tâm giao này đang đi tìm mẫu người ấy, họ mới ở bước đầu.Nhưng họ không thể bước đi một mình cho cuộc tiến hóa của nhân loại. Vì thế, ngày hôm nay họ còn ở đây ba người, rồi mai kia, người lữ hành từ giã lều tranh này để đi vào khu rừng mùa thu với thảm lá vàng, thì người bạn tâm giao và chàng ký giả sẽ chia tay hắn, trở lại căn nhà mà họ đã từ đó ra đi lúc trời xẩm tối của ngày nào. Họ trở về với thực tại, cái hiện sinh của con người tại thế với một sứ mệnh, một cuộc cách mạng màu xanh và hy vọng.


     NẠN NHÂN CỦA MỘT VỤ NÉT CHỮ HAI NGƯỜI GIỐNG NHAU

     Chuyện như thế này :

     Một hôm, ông anh họ tôi đến nhà, hỏi mượn bất cứ một cuốn vở nào tôi viết bài học hồi đó. Tôi không có một ý tưởng hoài nghi nào về việc khá lạ lùng này, cũng không hỏi mượn cho ai, làm gì. Mấy ngày sau, cũng ông anh này, mời tôi đến nhà một người chị trong họ nội với chúng tôi. Khi tôi tới nhà thì đã có mặt mấy bà chị và mấy ông anh nữa.

     Tôi được mời vào căn phòng nhỏ, có một cái bàn và mấy cái ghế. Bà chị lớn trong nhà đặt trước mặt tôi cuốn tập vở viết tay của tôi, sau đó bà đặt một sấp giấy bên cạnh tập vở ấy. Bà hỏi :

     - Em có thấy nét chữ trong tập vở của em và nét chữ của cái truyện ngắn này có giống nhau không ?

     Tôi nhìn thoáng qua hai nét chữ, nhận thấy chúng giống nhau, bèn khẽ gật đầu. Tôi không ngờ cái gật đầu ngu ngơ này đã đẩy tôi vào một tình huống rất khó xử đối với các ông anh bà chị trong họ tôi, những người có thế giá trong xã hội, từ hồi còn ở Hà-Nội trước năm 1954. Bà chị tôi nói :

     - Em mặt mũi nào viết cái truyện này đưa lên mặt báo, bêu xấu gia đình chị.

     Tôi nói ngay là tôi không viết cái truyện ngắn ấy. Nhưng vì tôi đã nhận nét chữ trong tập vở của tôi và nét chữ của người nào đó trong tập giấy bản thảo truyện ngắn kia giống nhau, nên không ai tin là tôi nói thật. Vì tôi một mực không nhận và có lẽ cả gần mười con người có mặt trong cái phòng nhỏ hẹp ấy, đều là anh em con cô con cậu với nhau, họ đang làm áp lực với tôi với tất cả quyền thế và danh dự của họ. Họ thấy tôi, một thằng em mới hơn hai mươi tuổi đầu, mà trước một tình huống với sức ép nặng nề về tâm lý và tinh thần, coi bộ vẫn bình thản, trong khi về phía họ, chắc chắn cũng đang nôn nóng mong tôi nhận tội. Khi thấy tôi cương quyết không nhận, vì tôi không viết truyện ấy, thì bế tắc mọi toan tính, lòng họ đang rối bời, gia đình thế giá này đang rối tung lên vì cái truyện ngắn trên tờ Ngôn Luận kia. Và có lẽ họ cũng sợ dư luận báo chí, trong lúc đó có thể tôi cũng bị nhìn dưới góc độ này. Cho nên phiên tòa xử tôi không có hồi kết. Trước đó, ông anh lớn của mấy bà chị, nói với tôi, vì cùng viết báo với nhau, chắc chú cũng quen biết nhiều người trong nghề, chú giúp tôi tìm người viết truyện ấy nhá. Tôi ra về với một lời hứa vu vơ là sẽ tìm cho họ người viết cái truyện ngắn kia. Ông hỏi : muốn gặp chú thì gặp ở đâu. Tôi bảo, sáng sớm nào tôi cũng đi lễ ở nhà thờ DCCT, đường Kỳ Đồng, quận 3. Nhà họ gần đấy, nhà tôi thuê cũng gần đấy.

     Ngày đó, tôi lẻ loi, cô đơn. Tại căn phòng ấy, tôi còn thấy mình cô đơn hơn nữa, buồn tủi và đau đớn.

     Sự thực, những ông anh bà chị kia thừa hiểu rằng, câu chuyện xảy ra trong gia đình họ liên quan đến mối tình và tiền bạc giữa một ông anh rể với cô em vợ chưa có chồng, nếu không phải chính người trong gia đình kể lại cho một người nào đó nghe, có thể người này là một nhà văn “bí” đề tài, đã viết vội viết vàng rồi đưa lên mặt báo. Nó cũng chẳng hay ho gì. Nhưng mấy bà chị tôi giật mình. Nó đem chuyện trong nhà ra bêu xấu.Từ đó đưa đến việc nghi tôi, đã viết theo lời kể của người cháu sống trong nhà. Để biết chắc, họ đã mượn tập vở viết của tôi. Sau khi tôi khờ khạo, nhìn thoáng qua hai nét chữ, bảo là giống nhau. Cho nên họ căm ghét tôi và căm ghét người cháu của họ sống trong nhà, rất thân với tôi. Về sau tôi được biết, mấy bà chị độc đáo ấy, còn nhờ cả một bộ máy an ninh của chế độ điều tra tôi. Nhưng người đứng đầu ngành này, lúc đó chỉ phàn nàn một câu : dùng cả một bộ máy an ninh điều tra một thằng em trong nhà thì hay ho gì. Còn sau đó nữa, tôi nghe nói, câu chuyện trùng hợp thôi. Để “chuộc lại lỗi lầm”. mấy bà chị ấy đã gọi tôi trở lại cái phòng nhỏ làm “tòa án” xử tôi trước đó, giao cho tôi hai cậu con trai của hai bà, bảo dạy tiếng Pháp vỡ lòng cho chúng. Cậu con của người chị chăm chỉ và tiến bộ, con của bà em thì biếng nhác một chút, nên sự tiến bộ trong việc học không đều. Bà mẹ của cậu con này, nói vài câu có ý trách móc tôi, không công bằng với hai đứa. Tôi giận, bỏ luôn.

     Trước đó, một trong hai cậu học trò con nhà quí phái này, một hôm nói với tôi : chúng cháu không muốn có một người thầy mà ăn mặc lôi thôi như chú.

     Khi câu chuyện này xảy ra thì Sài-Gòn đã có những dấu hiệu về hoạt động trở lại của người cộng sản, điển hình là một cơ quan của người Mỹ ở Sài-Gòn bị đánh bom, ngày 22-10-1957. Ba năm sau, ngày 20-12-1960, cộng sản thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam…

     Trong tình hình như thế, tôi đã viết một lá thư đầu đời gửi cho Cha Bề trên, Viện phụ Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn, ở Đơn Dương, Lâm Đồng, xin được tiếp nhận tôi như một tôi tớ. Hơn tuần lễ sau, tôi nhận được bức thư của ngài, một bức thư đầu tiên tôi nhận trong đời tôi, chứa đựng một tấm lòng bao dung, sẵn sàng đón nhận tôi như một người anh em !

     Khi biết chuyện này, ông chồng của bà chị tôi trên đây, nói một câu với tôi: “ không nên bi quan để bị chê trách là “trốn đời”.

     Đấy là một quan niệm thông thường, nó đúng với một số trường hợp : chán đời, thất tình. Nhưng từ xa xưa, người ta đã thấy ở Đông Phương (Phật giáo và Do Thái giáo-Kitô giáo) đã có những tu viện trên núi cao, hay nơi rừng sâu thanh vắng, thích hợp cho những con người đi tìm sự giải thoát chính mình.

     Tôi chấp nhận ở lại. Tuy nhiên, cái danh xưng Đan viện Xitô, Biển Đức, Châu Sơn và các mái nhà đơn sơ của Tiểu đệ, Tiểu muội v.v…vẫn cứ lởn vởn trong đầu tôi.Nghĩ rằng, cái tinh thần tu sĩ Kitô giáo, và một phần tinh thần đạo học Đông phương đã thấm vào trong tâm trí tôi, cho nên, một lúc nào đó, tôi đã hướng về những cảnh trí thanh tịnh nơi các đan viện này, và thật lòng tôi muốn lui về đó. Lúc ấy, bối cảnh chính trị, xã hội, văn hóa và một mảng tôn giáo đã lún sâu xuống vũng bùn, nhiều thành phần dân chúng và tín đồ tôn giáo mất niềm tin.

     Đã một lần trong đời, tôi toan bước vào ngưỡng cửa bình yên, thanh tịnh, song vận nước và định mệnh của phận mình, đã đẩy tôi vào vòng cương tỏa của đấu trường chính trị và ngôn luận, tôi cảm thấy bao nhiêu là băn khoăn, bao nhiêu là trắc ẩn. Tôi lỡ bước vào phong trần.

          Ma-ri-a hồn con giờ lênh đênh
         Tìm bình yên trong bão tố chiến chinh
         Tìm thanh cao trong cô đơn lặng lẽ
         Tìm thanh khiết nơi bến đục hay trong !

     Vì thế mà anh ăn năn ? Nhưng tại sao lại “ngọn nến ăn năn” mà không phải là chính mình ?

     Trong các giờ kinh ban mai và buổi chiều ở nhà thờ, tôi thường nhìn lên những ngọn nến cháy sáng trên bàn thờ. Từng giọt nến nhỏ xuống, tôi nghĩ đó là những giọt nước mắt ăn năn của chính mình. Hôm nay, khóc cho một lời nói lỡ, làm phật ý người nghe, một cử chỉ vụng về ; ngày mai khóc cho một tình thân đã đi xa; ngày mốt và ngày kia nữa, khóc cho những cuộc chia tay tại các sân ga ! Khóc cho một con người, một gia đình, một dòng họ đang sa sút, đang mất đi những ràng buộc máu mủ, những tình thương mà ông bà, tổ tiên bao đời gầy dựng. Khóc cho đứa con này, thằng cháu kia mỗi ngày một lớn lên, thì cuộc sống lại đẩy nó vào bon chen, thêm giả dối, và mỗi ngày một xa cách nhà thờ ! Chúng ta sao không thể ăn năn, không thể khóc cho những gì đã mất : sự liên đới giữa những thành phần trong xã hội, trong cộng đoàn, trong một dòng họ, một làng, một xã, một đất nước; sao chúng ta không thể ăn năn, không thể khóc vì lương tâm đã mất, tự do đã mất, công bằng và công lý được ban phát tùy theo những kẻ có quyền, có tiền. Cuối cùng, tôi ăn năn và tôi khóc vì bao nhiêu là thất bại. Thất bại của mình, thất bại của bạn hữu, của tập thể, của quốc gia ! Phải đau đớn, phải khóc than, vì con người khoa học tiến bộ ngày nay, đang chôn vùi chính mình, vào chính cái hố thẳm của diệt vong do mình đào sẵn bên cạnh chỗ mình đứng, khi họ sử dụng mọi dụng cụ khoa học gọi là “ngừa thai” hay “triệt sản” để “Giết Chết” hài nhi ! Những năm cuối của thế kỷ 20 vừa qua và ở đầu thập niên của thế kỷ 21, lại rộ lên tình hình buôn bán nô lệ phụ nữ. Mỗi năm có cả 100 ngàn phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài (Báo Tuổi Trẻ số 316/2013 (7428), ngày 20-11-2013, tr.5). Thực tế này cho thấy Việt Nam hiện nay không có đủ việc làm cho phụ nữ. Việt Nam tiếp tục thất bại về những lãnh vực chủ yếu, như chính trị (vẫn bảo thủ), kinh tế (không tôn trọng nhân tài và tham nhũng từ trên xuống), văn hóa giáo dục (cải cách liên tục, nhưng vá víu và bất cập).Con số 100 ngàn phụ nữ mỗi năm lấy chồng nước ngoài, thực chất là việc kinh doanh. Nhưng, phải ăn năn hơn hết, phải khóc than hơn hết, chính là con người hôm nay dửng dưng, vô cảm trước những nỗi xót xa như thế !

     Nhưng tại sao lại là “ngọn nến ăn năn ?”

     Thưa,vì có “ngọn nến ăn năn” thì cũng có “Ngọn nến Phục Sinh”. Tôi nghĩ đến thần học hy vọng, cách riêng với Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.


@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 23.03.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn